Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 22 56 01) với đề tài "Đảng lãnh đạo công tác tư tưởng trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)" do nghiên cứu sinh Lã Quý Đô thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Mậu Hãn, bảo vệ tại Hà Nội năm 2013. Công trình tập trung phục dựng, phân tích và đánh giá sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên mặt trận tư tưởng trong tiến trình chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Công tác tư tưởng được xác định là bộ phận cấu thành trọng yếu trong hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vai trò cơ sở để xây dựng khối đoàn kết thống nhất về chính trị, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Trong giai đoạn 1945 - 1954, hoạt động tư tưởng gắn liền với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trực tiếp động viên nhân lực, vật lực phục vụ giải phóng dân tộc và bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám. Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu, quá trình lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng trong giai đoạn này cũng bộc lộ những hạn chế, có thời điểm vấp phải tư tưởng ấu trĩ, tả khuynh, máy móc, giáo điều hoặc duy ý chí làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực tế.

Về mặt thực tiễn đương đại, bối cảnh đổi mới đặt ra nhiều yêu cầu giải quyết tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, cũng như ứng phó với tác động hai mặt của cơ chế thị trường. Việc tổng kết có hệ thống sự lãnh đạo công tác tư tưởng trong kháng chiến chống Pháp nhằm làm rõ thành tựu, chỉ ra khuyết điểm và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn cho công tác tư tưởng của Đảng hiện nay.

Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình đã công bố phần lớn tiếp cận công tác tư tưởng trong một giai đoạn dài (1930 - 2000), hoặc khảo cứu chuyên sâu dưới góc độ công tác Đảng - công tác chính trị trong quân đội, hoạt động báo chí, hay phản ánh hoạt động tuyên giáo tại các địa phương riêng lẻ. Chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về sự lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) từ chủ trương, chỉ đạo thực tiễn đến đánh giá thành công, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm lịch sử.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án là làm rõ sự lãnh đạo của Đảng về công tác tư tưởng trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) từ chủ trương, quan điểm đến tổ chức thực hiện; làm rõ vai trò của công tác tư tưởng đối với thắng lợi của kháng chiến; đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác tư tưởng của Đảng hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Phân tích bối cảnh lịch sử, mục tiêu, yêu cầu của công tác tư tưởng nhằm động viên toàn dân kháng chiến kiến quốc.
  2. Phân tích chủ trương lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng trong kháng chiến.
  3. Trình bày quá trình chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ công tác tư tưởng trong kháng chiến.
  4. Thông qua sự chỉ đạo thực tiễn, đánh giá kết quả công tác tư tưởng và rút ra những kinh nghiệm lịch sử.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác tư tưởng của Đảng trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng trên phạm vi cả nước trong khoảng thời gian từ năm 1945 (sau thắng lợi Cách mạng Tháng Tám) đến năm 1954 (khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp).
  • Phạm vi nội dung: Trong ba bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng (nghiên cứu lý luận, tuyên truyền giáo dục, cổ động), luận án xác định trong điều kiện chiến tranh chưa có cơ quan chuyên trách làm công tác nghiên cứu lý luận riêng, các lãnh đạo Đảng trực tiếp nghiên cứu và đúc kết đường lối. Do đó, luận án tập trung chủ yếu vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, cổ động hướng tới đối tượng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã khảo cứu và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan theo 4 nhóm chính:

Nhóm công trình Tác giả, cơ quan biên soạn và tác phẩm tiêu biểu Giá trị và giới hạn được luận án chỉ ra
Công tác tư tưởng ở cấp Trung ương - Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2001, 2003, 2005): Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2000); 72 năm truyền thống công tác tư tưởng văn hóa của Đảng; Lịch sử biên niên công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1925-1954) (thống kê 246 sự kiện tiêu biểu 1945-1954).
- Hữu Thọ chủ biên (2000): Bảy mươi năm công tác tư tưởng - Văn hoá của Đảng...
- Ban Tuyên giáo Trung ương (2010): Lịch sử 80 năm Ngành Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010).
- Đào Duy Quát, Đỗ Quang Hưng, Vũ Duy Thông (2010): Tổng quan lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam (1925-2010).
- Đào Duy Quát chủ biên (2001): Một số vấn đề về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Phạm Văn Toản (2005): Đảng lãnh đạo công tác tư tưởng trong thời kỳ toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp 1946-1954 (Luận văn thạc sĩ).
- Nguyễn Trọng Phúc (2012): Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930-2011).
Cung cấp khung sự kiện, văn kiện chỉ đạo, mô tả hoạt động của ngành tuyên huấn và báo chí. Tuy nhiên, phần lớn các công trình dừng lại ở dạng biên niên, sơ thảo, phản ánh diện rộng qua nhiều thời kỳ hoặc chưa khai thác sâu nguồn sử liệu lưu trữ gốc của giai đoạn 1945 - 1954.
Công tác tư tưởng trong quân đội và địa phương - Nguyễn Văn Quyết, Nguyễn Hồng Anh, Nguyễn Tiến Quốc (2001): Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Nguyễn Hoàng Nhiên (2006): Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) (Luận án tiến sĩ).
- Lê Minh Tân, Nguyễn Huy Long (1997): Tổng cục Chính trị quá trình hình thành tổ chức và chỉ đạo công tác Đảng - công tác chính trị trong quân đội... (1944-1954).
- Lịch sử Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành phố: Bà Rịa - Vũng Tàu (2006), Long An (2010), Kiên Giang (2010), Sơn La (2010), Nghệ An (2005), Hà Tĩnh (2006), Thái Nguyên (2010), Hải Phòng (2009), Thanh Hóa (2010).
Làm rõ phương thức tiến hành công tác chính trị tư tưởng trong lực lượng vũ trang và các địa bàn cụ thể; là nguồn tài liệu thực tiễn bổ trợ để luận án đánh giá hoạt động tuyên truyền ở cơ sở.
Nghiên cứu chuyên đề và bài báo khoa học - Lê Ngọc Toàn (2005), bài viết về công tác tư tưởng trong Cách mạng Tháng Tám.
- Trần Trọng Trung (2001, 2002), bài viết về tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi và việc triển khai Nghị quyết Đại hội II.
- Trần Văn Phòng (2007), Nguyễn Thị Hằng (2010), các nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh trong đào tạo, giáo dục lý luận.
- Alain Ruscio và Serge Tignères, tham luận về cuộc chiến tranh Đông Dương và thất bại của quân viễn chinh Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954.
Đi sâu vào các sự kiện, tác phẩm hoặc khía cạnh chuyên biệt của công tác tư tưởng, phân tích một số nguyên nhân dẫn đến thất bại của đối phương trên phương diện tâm lý chiến và chính trị.
Lịch sử toàn diện về cuộc kháng chiến - Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị (1996, 2000): Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và bài học; Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975, Thắng lợi và bài học.
- Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1985 - 2001): Bộ sách Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 (Tập 1 đến Tập 6).
- Nguyễn Minh Đức (1996), Đào Trọng Cảng (1993), Vũ Quang Hiền (2000), các luận án về đường lối kháng chiến, xây dựng vùng tự do và căn cứ du kích.
Phục dựng bối cảnh quân sự, chính trị, kinh tế; tuy nhiên mảng công tác tư tưởng chỉ được đề cập lồng ghép nhằm lý giải các thắng lợi trên chiến trường.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án kế thừa tư liệu từ các công trình trước, đồng thời tập trung đi sâu làm sáng tỏ toàn diện hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng; tái hiện quá trình tổ chức chỉ đạo công tác tư tưởng trên cả nước (trong Đảng, quân đội và các tầng lớp quần chúng); đưa ra các nhận xét, đánh giá khách quan về ưu điểm, khuyết điểm và tổng kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử của công tác tư tưởng giai đoạn 1945 - 1954.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận: Luận án được xây dựng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tư tưởng. Luận án tiếp cận công tác tư tưởng như một hoạt động có mục đích của Đảng tiên phong nhằm xác lập, truyền bá hệ tư tưởng và đường lối cách mạng vào quần chúng, biến nhận thức thành hành động thực tiễn phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp chủ yếu: Phương pháp lịch sử (phục dựng tiến trình công tác tư tưởng theo trình tự thời gian và bối cảnh cụ thể) kết hợp với phương pháp lôgíc (phân tích bản chất, quy luật vận động, mối quan hệ nhân quả và đúc kết kinh nghiệm).
    • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp đồng đại - lịch đại; phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu tư liệu nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học của các nhận định.
  • Nguồn tư liệu:
    • Văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các cấp bộ Đảng từ năm 1945 đến năm 1954.
    • Các bài viết, bài nói, lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh đạo Đảng (Tổng Bí thư Trường Chinh, đồng chí Trần Huy Liệu...).
    • Nguồn sử liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III.
    • Số liệu thống kê, báo cáo tổng kết hoạt động thông tin, tuyên truyền, báo chí, xuất bản của các cơ quan Nhà nước và đoàn thể thời kỳ kháng chiến.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có tổng độ dài 188 trang (không kể phụ lục và tài liệu tham khảo), được bố cục thành 3 chương:

BỐ CỤC LUẬN ÁN:

Chương 1: Đảng lãnh đạo công tác tư tưởng trong những năm 1945 - 1950

Chương này gồm 65 trang, tập trung làm rõ cội nguồn truyền thống công tác tư tưởng trước năm 1945, phân tích bối cảnh lịch sử phức tạp sau Cách mạng Tháng Tám, hệ thống hóa các chủ trương tư tưởng của Đảng và quá trình triển khai chỉ đạo thực tiễn từ năm 1945 đến năm 1950:

  • Khái lược công tác tư tưởng trước Cách mạng Tháng Tám: Trình bày quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc; sự thành lập Ban Cổ động Tuyên truyền (1930 - 1931); việc giữ vững khí tiết cách mạng trong nhà tù đế quốc (1932 - 1935); chuyển hướng chiến lược tại Hội nghị Trung ương 2 (7/1936) tận dụng báo chí công khai; và Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
  • Bối cảnh lịch sử và yêu cầu đặt ra (1945 - 1946): Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã đối mặt với tình thế "ngàn cân treo sợi tóc": nạn đói năm 1945 làm chết hơn 2 triệu người; hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch cùng lực lượng Việt Quốc, Việt Cách ở miền Bắc; quân Anh mở đường cho quân Pháp đánh chiếm Nam Bộ; quân Pháp từ Vân Nam chiếm đóng Lai Châu (tổng số quân nước ngoài chiếm đóng lên tới 30 vạn). Đến cuối năm 1946, Pháp có 10 vạn quân trang bị hiện đại, trong khi lực lượng vũ trang cách mạng có trên 8 vạn người với vũ khí thô sơ. Yêu cầu công tác tư tưởng đặt ra là phải củng cố lòng tin của nhân dân vào Chính phủ, phân hóa kẻ thù, giải thích đường lối hòa hoãn có nguyên tắc, và chuẩn bị tinh thần toàn quốc kháng chiến.
  • Các chủ trương tư tưởng tiêu biểu giai đoạn 1945 - 1950:
    • Phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (3/9/1945): Xác định 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có diệt giặc đói, diệt giặc dốt và giáo dục tinh thần nhân dân.
    • Hội nghị Cán bộ Bắc Kỳ (11 - 12/9/1945): Đề ra khẩu hiệu "Thống nhất đoàn kết; Chống thực dân Pháp; Việt Nam hoàn toàn độc lập; Ủng hộ Chính phủ Dân chủ cộng hòa".
    • Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc (25/11/1945): Nêu khẩu hiệu "Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết", chủ trương "đoàn kết với nhân dân Pháp, chống thực dân Pháp xâm lược", phê phán tư tưởng bi quan và tả khuynh.
    • Chỉ thị Tình hình và chủ trương (3/3/1946) và Chỉ thị Hòa để tiến (9/3/1946): Quán triệt lý do ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 nhằm đuổi quân Tưởng, tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng.
    • Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (12/12/1946) và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946): Khẳng định quyết tâm "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Chỉ thị quy định rõ phương châm tư tưởng cho các giới, bao gồm 6 điều không và 7 điều phải đối với dân; 6 điều không và 6 điều phải đối với quân đội.
    • Tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" của Trường Chinh (1947): Phổ biến đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh; xác định khẩu hiệu tư tưởng trung tâm là "Yêu nước và căm thù giặc".
    • Hội nghị cán bộ Trung ương 6 (1/1949) và Hội nghị cán bộ tuyên truyền toàn quốc lần thứ nhất (6/1950): Chuyển hướng công tác tuyên truyền sang chuẩn bị tổng phản công với khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng".
  • Quá trình chỉ đạo thực tiễn: Thành lập Bộ Thông tin - Tuyên truyền (7/9/1945 do Trần Huy Liệu làm Bộ trưởng); thành lập Thông tấn xã Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam (phát bản Tuyên ngôn Độc lập bằng 3 thứ tiếng Việt - Anh - Pháp ngày 15/9/1945); xây dựng hệ thống báo chí cách mạng (Cứu quốc, Sự thật...); triển khai công tác chính trị tư tưởng trong quân đội và hoạt động của các đội tuyên truyền xung phong.

Chương 2: Đảng lãnh đạo công tác tư tưởng đẩy mạnh kháng chiến đến kết thúc thắng lợi (1951 - 1954)

Chương này gồm 63 trang, phân tích hoạt động tư tưởng trong giai đoạn bước ngoặt của cuộc kháng chiến:

  • Chủ trương công tác tư tưởng: Sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2/1951) thông qua Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, đưa Đảng ra hoạt động công khai. Công tác tư tưởng chuyển sang phục vụ nhiệm vụ củng cố hậu phương, phát triển thế tiến công chiến lược, đẩy mạnh kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn.
  • Xây dựng hệ thống tổ chức và lực lượng tuyên huấn: Kiện toàn Ban Tuyên huấn Trung ương và các cấp ủy địa phương; xuất bản Báo Nhân dân (cơ quan ngôn luận của Đảng, ra số đầu tháng 3/1951); tăng cường năng lực các cơ quan xuất bản, thông tấn, văn hóa - văn nghệ.
  • Công tác tư tưởng trong nội bộ Đảng: Tổ chức các đợt chỉnh Đảng, chỉnh huấn chính trị sâu rộng trong những năm 1952 - 1953; nâng cao lập trường giai cấp công nhân cho cán bộ, đảng viên; khắc phục các biểu hiện lệch lạc về nhận thức, tư tưởng ngại khó, ngại khổ, chủ quan khinh địch.
  • Công tác chính trị tư tưởng trong Quân đội: Triển khai công tác chính trị tư tưởng qua các chiến dịch lớn: Trung Du, Đường 18, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ. Luận án phân tích việc kịp thời uốn nắn tư tưởng cán bộ, chiến sĩ sau các chiến dịch đánh về đồng bằng chịu nhiều tổn thất, củng cố niềm tin quyết chiến quyết thắng, xây dựng tinh thần vượt mọi gian khổ để tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
  • Đẩy mạnh tuyên truyền cổ động quần chúng: Phát động và duy trì phong trào thi đua ái quốc; tuyên truyền thực hiện chính sách giảm tô, cải cách ruộng đất nhằm động viên nông dân; huy động tối đa sức người, sức của phục vụ mặt trận hỏa tuyến.

Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử

Chương này gồm 34 trang, tổng kết đánh giá hoạt động lãnh đạo công tác tư tưởng và đúc kết các bài học lịch sử:

  • Nhận xét tổng quát:
    1. Đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc là cơ sở tiên quyết cho sự thành công của công tác tư tưởng.
    2. Luôn bám sát các nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn để tiến hành tuyên truyền, cổ động quần chúng.
    3. Luôn chú trọng tiến hành công tác tư tưởng trong Đảng và công tác chính trị tư tưởng trong quân đội.
    4. Coi trọng việc xây dựng các cơ quan chuyên môn và phát huy tính sáng tạo trong nghệ thuật, phương pháp tuyên truyền, cổ động.
  • Hệ thống 5 bài học kinh nghiệm lịch sử:
    1. Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, khơi dậy và phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
    2. Đánh giá đúng tình hình và nhiệm vụ kháng chiến để tuyên truyền, cổ động định hướng quần chúng kịp thời.
    3. Phối hợp chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng làm công tác tuyên truyền, cổ động.
    4. Chủ động tiến công trên mặt trận tư tưởng nhằm củng cố nội bộ và đánh bại chiến tranh tuyên truyền, tâm lý chiến của thực dân Pháp.
    5. Xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng, chính trị, tổ chức và tăng cường vai trò lãnh đạo trực tiếp của Đảng đối với công tác tư tưởng.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt tư liệu: Luận án đã sưu tầm, xử lý và hệ thống hóa khối lượng lớn nguồn sử liệu về công tác tư tưởng của Đảng giai đoạn 1945 - 1954; khai thác nhiều tài liệu lưu trữ gốc tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, bổ sung các cứ liệu lịch sử cụ thể cho ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
  2. Về mặt nội dung và lý luận:
    • Làm sáng tỏ hệ thống quan điểm, đường lối nhất quán của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng trong kháng chiến giải phóng dân tộc.
    • Phục dựng bức tranh toàn diện và có hệ thống về quá trình tổ chức, chỉ đạo công tác tư tưởng qua hai thời kỳ chiến lược (1945 - 1950 và 1951 - 1954), gắn liền hoạt động tư tưởng với các nhiệm vụ chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa.
    • Đánh giá khách quan những thành tựu cũng như chỉ rõ các hạn chế (như biểu hiện ấu trĩ, tả khuynh, máy móc, giáo điều trong một số đợt vận động).
    • Đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học, góp phần phát triển lý luận công tác tư tưởng của Đảng trong sự nghiệp đổi mới và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Theo phạm vi luận án xác định, trong điều kiện chiến tranh 1945 - 1954, công tác nghiên cứu lý luận chưa được tổ chức thành các cơ quan chuyên trách độc lập mà gắn liền trực tiếp với hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng. Do đó, luận án chủ yếu tập trung khảo sát mảng công tác tuyên truyền và cổ động. Bên cạnh đó, dung lượng khảo sát chủ yếu tập trung vào sự chỉ đạo từ cấp Trung ương và các chiến trường chính ở Bắc Bộ, chưa thể đi sâu chi tiết vào mọi khía cạnh tuyên truyền tại vùng sâu, vùng xa hoặc các vùng tạm bị chiếm ở Nam Bộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục khai thác các nguồn tư liệu địa phương và tư liệu từ phía Pháp để so sánh, đối chiếu sâu hơn về cuộc đấu tranh phản tuyên truyền, chống chiến tranh tâm lý trên các chiến trường phân tán.
    • Mở rộng nghiên cứu sự vận dụng các kinh nghiệm công tác tư tưởng của giai đoạn 1945 - 1954 vào cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975) và giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Công trình là tài liệu hữu ích cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Báo chí - Tuyên truyền, Chính trị học. Đồng thời, luận án có giá trị tham khảo đối với đội ngũ cán bộ tuyên giáo, cán bộ chính trị trong quân đội và các nhà hoạch định chính sách tư tưởng.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Hệ thống các văn kiện, chỉ thị, khẩu hiệu tuyên truyền được trích dẫn và phân tích tại Chương 1 (giai đoạn 1945 - 1946 và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi).
    • Phương thức tổ chức bộ máy thông tin, báo chí và công tác chính trị tư tưởng trong các chiến dịch lớn tại Chương 2.
    • Năm bài học kinh nghiệm lịch sử được đúc kết tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng đã đề ra những khẩu hiệu tuyên truyền chủ đạo nào?
Trả lời: Tại Hội nghị Cán bộ Bắc Kỳ (9/1945), Đảng đề ra khẩu hiệu: "Thống nhất đoàn kết; Chống thực dân Pháp; Việt Nam hoàn toàn độc lập; Ủng hộ Chính phủ Dân chủ cộng hòa". Trong Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc (25/11/1945), khẩu hiệu trung tâm là: "Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết""Đoàn kết với nhân dân Pháp, chống thực dân Pháp xâm lược". Khi ký Hiệp định Sơ bộ (3/1946), khẩu hiệu được chuyển hướng sang "Hòa để tiến""Liên hiệp bình đẳng với nước Pháp mới".

2. Bộ máy quản lý và cơ quan thông tin tuyên truyền quốc gia được hình thành như thế nào trong năm 1945?
Trả lời: Ngày 7/9/1945, Bộ Thông tin - Tuyên truyền được thành lập trong Chính phủ lâm thời do ông Trần Huy Liệu làm Bộ trưởng. Tiếp đó, ngày 15/9/1945, từ Đài phát sóng Bạch Mai, bản Tuyên ngôn Độc lập và danh sách Chính phủ lâm thời được phát đi toàn thế giới bằng 3 thứ tiếng (Việt, Anh, Pháp), đánh dấu sự ra đời của Đài Tiếng nói Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam.

3. Tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" của Tổng Bí thư Trường Chinh có vị trí như thế nào đối với công tác tư tưởng giai đoạn đầu kháng chiến?
Trả lời: Tác phẩm gồm các bài viết đăng trên Báo Sự thật (từ tháng 3 đến tháng 8/1947) và in thành sách vào tháng 9/1947. Tác phẩm đã luận giải tính chất toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh của cuộc chiến; xác định khẩu hiệu hành động là "Yêu nước và căm thù giặc"; giải quyết câu hỏi "vì sao phải đánh, đánh để làm gì, làm thế nào để thắng", tạo nền tảng định hướng nhận thức và xây dựng quyết tâm chiến đấu lâu dài cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

4. Luận án đúc kết được bao nhiêu bài học kinh nghiệm lịch sử từ thực tiễn lãnh đạo công tác tư tưởng giai đoạn 1945 - 1954?
Trả lời: Luận án đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử: (1) Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước; (2) Đánh giá đúng tình hình và nhiệm vụ kháng chiến để định hướng tuyên truyền; (3) Phối hợp, phát huy vai trò của các lực lượng làm công tác tuyên truyền cổ động; (4) Chủ động tiến công trên mặt trận tư tưởng làm thất bại chiến tranh tuyên truyền của Pháp; (5) Xây dựng Đảng vững mạnh và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lã Quý Đô là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên mặt trận tư tưởng trong suốt chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954). Trên cơ sở khai thác các nguồn sử liệu lưu trữ và văn kiện Đảng, công trình đã tái hiện quá trình chuyển hóa đường lối chính trị thành sức mạnh tinh thần và phong trào hành động cách mạng của quần chúng nhân dân và lực lượng vũ trang. Bên cạnh việc khẳng định các thành tựu và chỉ rõ những mặt hạn chế, luận án đã tổng kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học và thực tiễn, phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng cũng như công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay.