Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử "Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX (1885 - 1895)" do nghiên cứu sinh Vũ Quý Thụ thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Khánh và GS.NGND Đinh Xuân Lâm. Công trình thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, mã số 62 22 54 05.
+-------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN TỔNG QUAN LUẬN ÁN |
+----------------------+--------------------------------------------------+
| Tác giả | Vũ Quý Thụ |
| Cơ quan đào tạo | Trường ĐHKHXH&NV – Đại học Quốc gia Hà Nội |
| Người hướng dẫn | PGS.TS Nguyễn Văn Khánh, GS.NGND Đinh Xuân Lâm |
| Chuyên ngành | Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại |
| Mã số chuyên ngành | 62 22 54 05 |
| Năm bảo vệ | 2006 |
| Quy mô văn bản | 185 trang chính văn, danh mục tư liệu và phụ lục |
+----------------------+--------------------------------------------------+
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thanh Hóa giữ vị trí chiến lược trọng yếu về quân sự, chính trị, kinh tế và là địa bàn diễn ra nhiều phong trào kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử. Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký các Hiệp ước Hác-măng (1883) và Pa-tơ-nốt (1884), hưởng ứng Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi (tháng 7-1885), phong trào chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa bùng nổ mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu, văn thân.
Mặc dù các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như Ba Đình, Hùng Lĩnh cùng các thủ lĩnh Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao đã được đề cập rải rác trong nhiều công trình thông sử và chuyên khảo, nhưng cho đến thời điểm tác giả thực hiện luận án, lịch sử phong trào chống Pháp tại Thanh Hóa giai đoạn 1885 - 1895 vẫn chưa được nghiên cứu một cách cặn kẽ, toàn diện và có hệ thống trên quy mô toàn tỉnh. Phần lớn các công trình trước đó chỉ tiếp cận từng cuộc khởi nghĩa hoặc một số căn cứ đơn lẻ, chưa làm rõ mối liên hệ giữa các vùng miền trong tỉnh cũng như mối quan hệ phối hợp với phong trào cả nước.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ một cách toàn diện và hệ thống quá trình hình thành, phát triển của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Thanh Hóa trong vòng 10 năm (1885 - 1895). Cụ thể, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ được đánh số như sau:
- Tập trung nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về quá trình hình thành và phát triển các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Thanh Hóa trong khoảng 10 năm (từ 1885 đến 1895).
- Phục dựng và phân tích những hoạt động tiêu biểu của nghĩa quân ở các căn cứ và các cuộc khởi nghĩa; xác định mối quan hệ giữa phong trào của nhân dân Thanh Hóa với phong trào các tỉnh khác.
- Đưa ra nhận xét, đánh giá về đặc điểm, tính chất, vị trí, nguyên nhân thất bại và kinh nghiệm lịch sử của phong trào.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn hiện trạng, tôn tạo các di tích liên quan đến các yếu nhân và phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các cuộc nổi dậy, hoạt động vũ trang chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa theo danh nghĩa Cần Vương từ khi bùng nổ đến khi bị dập tắt (1885 - 1895).
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Thanh Hóa (bao gồm cả ba vùng đồng bằng, ven biển và miền núi) trong mối quan hệ với phong trào ở các địa phương lân cận và cả nước.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1885 - 1895, được chia thành hai thời kỳ:
- Thời kỳ thứ nhất (1885 - đầu năm 1887): Các cuộc nổi dậy mang tính tự phát ban đầu ở các địa phương, tiến lên xây dựng căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng và căn cứ Ba Đình.
- Thời kỳ thứ hai (đầu năm 1887 - nửa đầu năm 1895): Phong trào đấu tranh với tiêu điểm là cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh và phong trào đấu tranh ở miền Tây Thanh Hóa.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa các nguồn nghiên cứu trước đây theo từng nhóm tài liệu:
| Nhóm tài liệu / Tác giả |
Tên công trình / Loại tư liệu |
Đặc điểm và giá trị tư liệu theo đánh giá của luận án |
| Sử liệu Pháp và sĩ quan thực dân |
Báo cáo của Paul Bert (10-1886); Daufés (Tổng kết hoạt động quân sự của Pháp ở Đông Dương); Masson (Souvenirs de L'Annam et du Tonkin); F. Bernard (L'Indochine: erreurs et dangers); Galliéni (Trois colonnes au Tonkin 1894-1895); Histoire militaire de l'Indochine de 1664 à nos jours. |
Thừa nhận vị trí chiến lược và tầm quan trọng của chiến sự tại Thanh Hóa (đặc biệt là cuộc công hãm Ba Đình Thu - Đông 1886 - 1887); cung cấp góc nhìn quân sự của đối phương. |
| Sử liệu triều Nguyễn và tay sai |
Báo cáo của Khám sai tuyên phủ sứ Trần Lục (cha Sáu); Đại Nam thực lục chính biên (Bộ quốc sử triều Nguyễn có 11 lần nhắc đến phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa). |
Phản ánh diễn biến sự kiện dưới góc nhìn của chính quyền đương thời, ghi nhận sự lan rộng của nghĩa quân tại Ngọc Sơn, Nông Cống, Quảng Xương, Đông Sơn. |
| Tác phẩm trước 1945 và tại miền Nam trước 1975 |
Trần Trọng Kim (Việt Nam sử lược); Phan Trần Chúc (Ba Đình truyện ký); Phạm Văn Sơn (Việt Nam quân sử, tập II Việt sử Tân biên). |
Việt Nam sử lược chép sơ lược, chỉ ghi vài dòng về Hà Văn Mao; Ba Đình truyện ký chứa nhiều hư cấu văn học; Việt Nam quân sử thiếu tư liệu chuẩn xác và có thiên kiến chính trị. |
| Sử học mác-xít sau 1954 |
Trần Huy Liệu (Dự thảo lịch sử cận đại Việt Nam, Lịch sử 80 năm chống Pháp); Trần Văn Giàu (Chống xâm lăng); Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự, Đặng Huy Vận (Lịch sử cận đại Việt Nam); Hoàng Văn Lân, Ngô Thị Chính (Lịch sử Việt Nam); Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên); Vũ Huy Phúc (chủ biên: Lịch sử Việt Nam 1858-1896). |
Khôi phục bối cảnh Cần Vương, khái quát sự hình thành căn cứ và diễn biến các trận đánh lớn; đặt nền tảng phương pháp luận cho việc nghiên cứu phong trào chống Pháp. |
| Chuyên khảo, địa chí và kỷ yếu hội thảo địa phương |
Đinh Xuân Lâm, Trịnh Nhu (Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh, 1995); Địa chí Thanh Hóa (tập I, 2000); Địa chí Nông Cống (2001); Kỷ yếu hội thảo 100 năm Ba Đình (1986/1992); Hội thảo Cam Bá Thước (1995); Hội thảo Hà Văn Mao (2002); Luận văn của Nguyễn Văn Tường, Vũ Thế Truyền, Hoàng Việt Phương. |
Cung cấp nguồn tư liệu thực địa chi tiết về từng địa phương và nhân vật, nhưng còn phân mảnh theo từng chuyên đề riêng biệt. |
| Học giả quốc tế |
Charles Fourniau (Luận án tiến sĩ 1983); Nina S. Adams (Luận án tiến sĩ ĐH Yale, 1978); David G. Marr (Vietnamese Anticolonialism, 1885-1925); Yoshiharu Tsuboi (Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885). |
Khai thác hồ sơ lưu trữ tại Pháp và Mỹ, đưa ra các nhận định khách quan về phong trào Cần Vương trong bối cảnh quốc tế. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình từ 1980 đến 2000 (như Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh, Địa chí Thanh Hóa) tuy được đánh giá cao nhưng chưa bao quát toàn diện tiến trình 10 năm từ 1885 đến 1895. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống:
- Khảo sát đồng bộ trên toàn bộ địa bàn tỉnh Thanh Hóa, không tách rời giữa đồng bằng, ven biển và vùng thượng du miền Tây.
- Làm rõ cấu trúc quân sự và hoạt động của các căn cứ ít được nghiên cứu sâu trước đây: căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng của Nguyễn Ngọc Phương, căn cứ Mã Cao (Yên Định), căn cứ Điền Lư của Hà Văn Mao, căn cứ Mường Kỷ của Hà Văn Nho.
- Lý giải khoa học về nguyên nhân thất bại và đúc kết các bài học kinh nghiệm quân sự, chính trị của phong trào trong mối tương quan với phong trào Cần Vương cả nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận
Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phong trào giải phóng dân tộc, chiến tranh nhân dân, đấu tranh vũ trang và vai trò của các giai cấp, tầng lớp xã hội trong bối cảnh xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chủ yếu: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc, nhằm phục dựng chính xác chuỗi diễn biến các sự kiện theo trình tự thời gian và rút ra bản chất, quy luật vận động nội tại của phong trào.
- Phương pháp bổ trợ: Phương pháp mô tả, thống kê, so sánh, phân tích sử liệu và tổng kết thực tiễn lịch sử.
Nguồn tư liệu sử dụng
- Nguồn tài liệu thành văn:
- Tài liệu lưu trữ tại các cơ quan trung ương và địa phương tỉnh Thanh Hóa.
- Các bộ chính sử và địa chí của Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên (các tập 27, 36, 37, 38) và Đại Nam nhất thống chí (phần tỉnh Thanh Hóa).
- Các công trình chuyên khảo, hồi ký, tài liệu lưu trữ quân sự của Pháp và các tác giả quốc tế.
- Nguồn tài liệu điền dã thực địa tại địa phương:
- Khảo sát thực địa tại các huyện Nông Cống, Nga Sơn, Thường Xuân, Bá Thước, Yên Định, Vĩnh Lộc...
- Sưu tầm gia phả các dòng họ (đặc biệt là bản Nguyễn tộc gia phả do Nguyễn Phương soạn thảo ngày 7 tháng 10 năm Tự Đức thứ 33), văn tế, bằng sắc, hương ước, bản phân chia điền thổ.
- Tư liệu hồi cố từ các nhân chứng cao tuổi tại địa phương, khảo sát dấu tích công sự, đồn lũy còn lưu lại trên địa bàn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Thanh Hóa trước khi phong trào yêu nước chống thực dân Pháp bùng nổ (tháng 7-1885)
Chương 1 phân tích toàn diện các yếu tố địa chiến lược, truyền thống lịch sử, tổ chức hành chính - quân sự và sự chuẩn bị của văn thân, sĩ phu trước khi tiếng súng kháng chiến chính thức nổ ra.
- Vị trí chiến lược và truyền thống yêu nước: Thanh Hóa chiếm vị trí gạch nối trọng yếu giữa Bắc Bộ và Trung Bộ. Diện tích tự nhiên có 3/4 là rừng núi phía Tây (giáp Lào, Sơn La, Hòa Bình), vùng đồng bằng châu thổ sông Mã, sông Chu, sông Yên phì nhiêu và 120 km đường bờ biển. Về mặt quân sự, Thanh Hóa vừa có thể làm tiền phương vừa làm hậu cứ vững chắc. Luận án điểm lại vai trò của đất Thanh Hóa qua các thời kỳ lịch sử: từ cuộc khởi nghĩa Bà Triệu (248) ở núi Nưa; Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền từ Ái Châu tiến ra Bắc; Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn dựng nghiệp; nhà Trần rút lui chiến lược và phản công ("Hoan Ái do tồn thập vạn binh"); cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1428) của Lê Lợi; đến việc là nơi phát tích của các dòng họ vương triều phong kiến (Tiền Lê, Hậu Lê, Trịnh, Nguyễn).
+--------------------------------------------------------------------------+
| CƠ CẤU HÀNH CHÍNH VÀ BỐ PHÒNG QUÂN SỰ TỈNH THANH HÓA TRƯỚC NĂM 1885 |
+---------------------+----------------------------------------------------+
| Phủ (5 phủ) | Hà Trung, Thiệu Hóa, Quảng Hóa, Thọ Xuân, Tĩnh Gia |
| Huyện (16 huyện) | Tống Sơn, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Mỹ Hóa, |
| | Thụy Nguyên, Đông Sơn, Yên Định, Vĩnh Lộc, |
| | Thạch Thành, Quảng Lãng, Cẩm Thủy, Lôi Dương, |
| | Ngọc Sơn, Nông Cống, Quảng Xương |
| Châu (3 châu) | Quan Hóa, Thường Xuân, Lang Chánh |
| Phủ / Huyện trị nhậm| Phủ Trấn Man (lãnh 3 huyện: Trịnh Có, Man Duy, |
| | Sầm Nưa - đặt năm 1827) |
| Hệ thống thành bảo | Biện Sơn, Thổ Sơn, Lị sở Tĩnh Gia, Thành tỉnh |
| tiêu biểu | Thọ Hạc (chu vi 630 trượng), Tĩnh Hải, Trấn Nam, |
| | Triệu Tường, Vân Tụ, Ninh Lương, Tùng Hóa, Sơn Châu|
| Trang bị hỏa lực | 44 cỗ đại bác (14 cỗ hồng y cương pháo, 10 cỗ phách|
| pháo binh | sơn cương pháo, 20 cỗ quá sơn đồng pháo) |
+---------------------+----------------------------------------------------+
- Tình hình chính trị, quân sự: Đến trước tháng 11-1885, Thanh Hóa vẫn do bộ máy Nam triều trực tiếp cai quản dưới sự đứng đầu của Tổng đốc, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh; cấp cơ sở do cai tổng và hội đồng kỳ mục, lý trưởng điều hành. Về quân sự, biên chế quân số thời Tự Đức có khoảng 7.300 lính; thủy binh đóng tại sông Mã (gồm 2 cơ hữu thủy và tả thủy, khoảng 1.000 quân); các vị trí trọng yếu ven biển, biên giới đều có bảo lũy phòng vệ.
- Công tác chuẩn bị tư tưởng và tổ chức: Thực dân Pháp trì hoãn đánh chiếm Thanh Hóa (dù đã chiếm Ninh Bình và Nghệ An) do nắm được sự chuẩn bị kháng cự kiên quyết tại đây. Từ năm 1879, Tôn Thất Thuyết khi về dưỡng bệnh tại Thanh Hóa đã liên lạc với các nhân sĩ, cử Tiến sĩ Tống Duy Tân làm Đốc học rồi Chánh sứ sơn phòng Quảng Hóa để chiêu mộ binh lính, trữ lương; cử Đề đốc Trần Xuân Soạn về Thọ Hạc nắm phong trào. Tháng 3-1886, cuộc họp tại Bồng Trung và hội nghị tại chùa Trang Các (Hà Trung) dưới sự chỉ đạo của Tôn Thất Thuyết đã thống nhất mạng lưới chỉ huy toàn tỉnh, giao nhiệm vụ xây dựng căn cứ Ba Đình cho Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Đinh Công Tráng, lập phòng tuyến hỗ trợ tại Mã Cao (Trần Xuân Soạn, Hà Văn Mao) và phân công phụ trách tại các huyện.
Chương 2: Từ căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng đến khởi nghĩa Ba Đình (1885 - 1887)
Chương 2 đi sâu tái hiện quá trình chuyển biến từ các phong trào tự phát địa phương lên quy mô căn cứ địa liên hoàn, tiêu biểu là căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng và căn cứ Ba Đình.
- Căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng và Nguyễn Ngọc Phương:
- Thủ lĩnh Nguyễn Ngọc Phương (Tú Phương): Sinh năm 1832 tại thôn Yên Tôn, xã Hương Trì, phủ Tĩnh Gia (nay thuộc huyện Nông Cống), đỗ Tú tài năm 1878. Khi Chiếu Cần Vương ban ra (7-1885), ông vào sơn phòng Quảng Trị nhận chức "Tham biện sơn hải phòng quân vụ" kiêm "quản phủ Tĩnh Gia", cùng Tôn Thất Hàm tổ chức phong trào tại Nông Cống, Quảng Xương, Ngọc Sơn.
- Cấu trúc căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng: Trải dài trên vành đai 20 km (rộng 7 - 8 km) nối từ Ngã Ba Chuông đến vùng rừng núi giáp Yên Thái (Như Thanh). Căn cứ gồm 3 khu vực:
- Vòng ngoài (vùng dân cư Ôn Lâm): Đặt trại rèn xóm Sơn Ná, kho lương thực, các đồn tiền tiêu Cấp Ké, Yên Mỹ có lũy tre gai bao bọc do Hồ Sĩ Xénh và Hồ Sỹ Can chỉ huy.
- Khu trung tâm (trại Ba Đồn / Đại Đồn): Nằm tại thung lũng có chướng ngại tự nhiên là Khe Tre (sình lầy rộng tới 300 m). Đắp bờ thành đất cao 2 m, chân thành rộng 2 - 4 m, kè đá và cắm cọc tre tươi, đặt 3 vọng gác trên các đồi cao.
- Khu hậu cứ (đồn Kỳ Thượng): Đặt cơ quan đầu não tại đình làng Kỳ Thượng; có giáo trường Lèn Bót huấn luyện "Đoàn nghĩa dũng cảm tử quân" (khoảng 300 người).
- Biên chế và hậu cần: Nghĩa quân chia thành cơ và đội (10 người/đội, 3 đội/cơ), tổng quân số đầu tháng 3-1886 đạt khoảng 1.200 người. Hệ thống kho lương lớn được bố trí tại làng Xá Lý (kho gạo), Phượng La Đông (kho thóc), Mậu Lâm (kho lương thực chăn nuôi quy mô lớn), Cung Điền (kho muối).
- Hoạt động tác chiến: Nghĩa quân Ôn Lâm phối hợp với nghĩa quân Đề Sơn tổ chức tập kích đồn Mưng (huyện lị Nông Cống tại núi Côn Sơn) vào tháng 1 và tháng 2-1886, tiêu diệt chỉ huy Pháp và lính khố xanh; tiếp tục hạ đồn Thị Long (bên tả ngạn sông Thị Long), đồn Eo Sơn và phục kích đẩy lùi quân Pháp tại đồn Cấp Ké khi địch tiến công vào Nam Nông Cống (tháng 3-1886).
+--------------------------------------------------------------------------+
| SƠ ĐỒ PHÂN BỐ CÁC PHÂN KHU TẠI CĂN CỨ ÔN LÂM - KỲ THƯỢNG |
+-------------------+------------------------------------------------------+
| Phân khu | Vị trí, chức năng và lực lượng phụ trách |
+-------------------+------------------------------------------------------+
| 1. Vòng ngoài | Làng Ôn Lâm; trại rèn Sơn Ná, kho lương Đông Nam, |
| (Khu Tiền tiêu) | đồn tiền tiêu Cấp Ké, Yên Mỹ (Hồ Sĩ Xénh, Hồ Sỹ Can) |
| 2. Khu Trung tâm | Trại Ba Đồn (Đại Đồn); hào sình Khe Tre, thành đất |
| (Khu Tác chiến) | cao 2m kè đá cắm cọc tre, 3 vọng gác |
| 3. Khu Hậu cứ | Đồn Kỳ Thượng, đình làng Kỳ Thượng; giáo trường |
| (Đầu não chỉ huy) | Lèn Bót (300 lính Đoàn nghĩa dũng cảm tử) |
+-------------------+------------------------------------------------------+
- Khởi nghĩa Ba Đình và phong trào chống Pháp (1886 - 1887):
- Căn cứ Ba Đình (Nga Sơn) do Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt chỉ huy, được xây dựng theo cấu trúc làng chiến đấu khép kín với lũy tre dày đặc, công sự ngầm kiên cố, hào nước bao bọc.
- Ba Đình trở thành tâm điểm của chiến dịch Thu - Đông 1886 - 1887, thu hút lực lượng lớn quân đội viễn chinh Pháp tham chiến cùng các chỉ huy cao cấp của thực dân. Sau các trận công hãm ác liệt, nghĩa quân phá vòng vây rút lên căn cứ Mã Cao (Yên Định) tiếp tục chặn đánh địch trước khi phân tán lực lượng.
Chương 3: Khởi nghĩa Hùng Lĩnh bước phát triển mới của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa (1887 - 1895)
Chương 3 trình bày giai đoạn thứ hai của phong trào sau khi căn cứ Ba Đình tan vỡ, với trọng tâm chuyển dịch về căn cứ Hùng Lĩnh và phong trào liên kết miền núi.
- Căn cứ Bồng Trung - Đa Bút (Vĩnh Lộc) và khởi nghĩa Hùng Lĩnh: Sau thất bại ở Ba Đình và Mã Cao, Tống Duy Tân cùng Cao Điển (Cao Bá Điển) rút về vùng Hùng Lĩnh (Vĩnh Lộc), xây dựng hệ thống căn cứ Bồng Trung - Đa Bút, mở rộng phạm vi kiểm soát suốt vùng tả ngạn sông Mã, từ Yên Định, Vĩnh Lộc lên Thạch Thành, Cẩm Thủy. Nghĩa quân Hùng Lĩnh chuyển phương thức tác chiến sang đánh du kích linh hoạt, đánh phục kích các đoàn tàu thuyền, đội tuần tiễu của địch trên sông Mã và các trục đường giao thông bộ.
- Phong trào miền Tây Thanh Hóa:
- Phong trào có sự kết hợp chặt chẽ giữa nghĩa quân người Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số Thái, Mường.
- Cầm Bá Thước: Xây dựng căn cứ Trịnh Vạn (Thường Xuân), liên kết lực lượng đồng bào Thái miền núi thượng du, dựa vào rừng núi hiểm trở và tuyến hành lang sang Lào để duy trì kháng chiến lâu dài cho đến năm 1895.
- Hà Văn Mao và Hà Văn Nho: Xây dựng các căn cứ Điền Lư, Mường Kỷ (Bá Thước, Quan Hóa), tổ chức phục kích tiêu hao sinh lực địch trên các tuyến đèo dốc hiểm trở, hỗ trợ đắc lực cho phong trào ở vùng trung du và đồng bằng.
Chương 4: Đặc điểm, tính chất và kinh nghiệm của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở tỉnh Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX
Chương 4 đúc kết các luận điểm khoa học về bản chất, vị trí lịch sử, phân tích nguyên nhân thất bại và rút ra bài học kinh nghiệm.
- Đặc điểm nổi bật của phong trào:
- Tính chất nhân dân sâu sắc: Tuy nổ ra dưới danh nghĩa Cần Vương và do các sĩ phu phong kiến chỉ huy, phong trào thu hút đông đảo nông dân, thợ thủ công và các tầng lớp nhân dân trực tiếp đóng góp sức người, sức của, tham gia chiến đấu bảo vệ quê hương.
- Sự liên kết vùng miền và khối đoàn kết Kinh - Thượng: Phong trào hình thành mạng lưới liên hoàn từ miền biển (Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa), vùng đồng bằng (Nông Cống, Quảng Xương, Đông Sơn), vùng bán sơn địa (Yên Định, Vĩnh Lộc) đến vùng thượng du rừng núi hiểm trở (Thường Xuân, Bá Thước, Quan Hóa).
- Hình thức tổ chức công sự chiến đấu độc đáo: Kết hợp giữa làng chiến đấu phòng ngự kiên cố ở đồng bằng ven biển (Ba Đình) với hệ thống đồn lũy bán sơn địa (Ôn Lâm - Kỳ Thượng, Mã Cao) và các căn cứ địa rừng núi hiểm trở (Trịnh Vạn, Điền Lư).
- Vị trí lịch sử: Phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa giữ vị trí cửa ngõ chiến lược nối liền Bắc Bộ và Trung Bộ, kìm chân lực lượng viễn chinh Pháp trong suốt một thập kỷ (1885 - 1895), làm chậm quá trình bình định quân sự và thiết lập bộ máy khai thác thuộc địa của thực dân Pháp.
- Nguyên nhân thất bại:
- Chênh lệch lớn về tương quan lực lượng và trang bị vũ khí kỹ thuật so với quân đội viễn chinh Pháp.
- Hạn chế mang tính thời đại của hệ tư tưởng phong kiến: chưa có một đường lối chính trị và phương pháp cách mạng khoa học để liên kết thành phong trào thống nhất trên quy mô toàn quốc.
- Các cuộc khởi nghĩa còn diễn ra cục bộ, thiếu sự phối hợp tác chiến nhịp nhàng ở cấp độ chiến lược giữa các tỉnh lân cận.
- Bài học kinh nghiệm:
- Bài học về xây dựng thế trận lòng dân, dựa vào dân để xây dựng căn cứ và hậu cần tác chiến.
- Bài học về nghệ thuật quân sự: lựa chọn địa bàn, kết hợp địa hình tự nhiên với công sự nhân tạo, linh hoạt giữa phòng ngự công sự và vận động du kích.
- Bài học về phát huy khối đại đoàn kết các dân tộc thiểu số và nhân dân miền xuôi trong chiến tranh chống ngoại xâm.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự đúc kết các đóng góp mới về mặt khoa học lịch sử như sau:
- Phân kỳ lịch sử: Xác lập và làm rõ 2 giai đoạn phát triển có tính chất và đặc điểm chiến thuật khác nhau của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX:
- Giai đoạn 1 (1885 - đầu 1887): Phát triển từ các cuộc nổi dậy tự phát đến việc hình thành hai trung tâm căn cứ lớn là Ôn Lâm - Kỳ Thượng và Ba Đình.
- Giai đoạn 2 (đầu 1887 - nửa đầu 1895): Chuyển trọng tâm về căn cứ Hùng Lĩnh và phong trào miền Tây Thanh Hóa (Trịnh Vạn, Điền Lư).
- Phục dựng toàn diện hoạt động của các thủ lĩnh và nghĩa quân: Tái hiện chi tiết tiểu sử, tổ chức lực lượng và hoạt động của các văn thân, sĩ phu: Nguyễn Ngọc Phương, Tống Duy Tân, Cao Điển, Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao, Hà Văn Nho, Trần Xuân Soạn, Phạm Bành...
- Phát hiện và làm sáng tỏ các cứ điểm quân sự mới: Luận án bổ sung nguồn tư liệu thực địa phong phú, phân tích cấu trúc công sự và tái hiện diễn biến các trận đánh tại:
- Căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng (Nông Cống - Như Thanh) của Nguyễn Ngọc Phương.
- Căn cứ Mã Cao (Yên Định).
- Căn cứ Điền Lư (Bá Thước) của Hà Văn Mao.
- Căn cứ Mường Kỷ (Bá Thước) của Hà Văn Nho.
- Tổng kết khoa học về tính chất và vị trí: Đánh giá đúng bản chất, đặc điểm nổi bật, vị trí chiến lược của phong trào Thanh Hóa trong tiến trình phong trào Cần Vương cả nước; lý giải nguyên nhân thất bại và đúc kết các bài học kinh nghiệm.
- Kiến nghị thực tiễn: Đề xuất một số ý kiến và giải pháp cụ thể nhằm gìn giữ, khoanh vùng bảo vệ hiện trạng, tôn tạo các di tích lịch sử phong trào Cần Vương trên đất Thanh Hóa nhằm phục vụ công tác giáo dục truyền thống và phát triển du lịch lịch sử địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn tài liệu thành văn từ phía Nam triều và thực dân Pháp ghi chép về các phong trào cơ sở ở cấp làng xã còn sơ lược; một số số liệu cụ thể về cơ cấu thủy binh hay sự phân bổ của lính biên binh địa phương thời Nguyễn chưa có đủ tư liệu đối chiếu chi tiết.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác điều tra điền dã, sưu tầm các tư liệu Hán Nôm gia phả dòng họ, văn học dân gian (folklore lịch sử), đồng thời tiếp tục khai thác các phông lưu trữ hải ngoại để làm sáng tỏ sâu hơn các mắt xích liên lạc giữa phong trào Cần Vương Thanh Hóa với các địa bàn lân cận như Nghệ An, Hà Tĩnh, Ninh Bình và khu vực thượng Lào.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử quân sự và Lịch sử địa phương tại các trường đại học, cao đẳng.
- Đối với cơ quan quản lý văn hóa và địa phương: Cung cấp cơ sở khoa học và tư liệu khảo sát thực địa giúp các cơ quan quản lý văn hóa tỉnh Thanh Hóa thực hiện công tác quy hoạch, cắm mốc bảo vệ và lập hồ sơ xếp hạng, tôn tạo các di tích lịch sử (căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng, Ba Đình, Mã Cao, Trịnh Vạn).
- Phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 (với các sơ đồ, mô tả cấu trúc phân khu và hoạt động tác chiến của căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng) và Chương 4 (phần phân tích đặc điểm liên minh Kinh - Thượng và bài học kinh nghiệm quân sự).
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao thực dân Pháp chiếm đóng Thanh Hóa muộn hơn so với hai tỉnh lân cận là Ninh Bình và Nghệ An?
Thực dân Pháp trì hoãn tấn công Thanh Hóa đến tháng 11-1885 (dù đã chiếm Ninh Bình ở phía Bắc và Nghệ An ở phía Nam) vì qua các hoạt động điều tra và tình báo bí mật, Pháp nhận thấy Thanh Hóa là địa bàn có vị trí địa quân sự hiểm trở, nhân dân có truyền thống chống ngoại xâm kiên cường, và lực lượng văn thân, sĩ phu địa phương dưới sự chuẩn bị sớm của Tôn Thất Thuyết, Tống Duy Tân đã tổ chức phòng thủ, chiêu mộ binh lính chu đáo trước khi tiếng súng nổ ra.
2. Căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng có quy mô cấu trúc và bố phòng như thế nào?
Căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng trải dài 20 km (rộng 7 - 8 km) trên địa bàn giáp ranh giữa Nông Cống, Tĩnh Gia và Như Thanh, bao gồm 3 khu vực chính:
- Vòng ngoài (làng Ôn Lâm): Trại rèn vũ khí Sơn Ná, kho lương thực và hệ thống đồn tiền tiêu Cấp Ké, Yên Mỹ có lũy tre bao bọc.
- Khu trung tâm (trại Ba Đồn / Đại Đồn): Nằm tại thung lũng có chướng ngại tự nhiên Khe Tre, thành đất cao 2 m, chân rộng 2 - 4 m kè đá và cắm cọc tre tươi, đặt 3 vọng gác trên đồi.
- Khu hậu cứ (đồn Kỳ Thượng): Sở chỉ huy đặt tại đình làng Kỳ Thượng và giáo trường Lèn Bót huấn luyện lực lượng xung kích 300 người.
3. Thủ lĩnh Nguyễn Ngọc Phương (Tú Phương) giữ vai trò và chức vụ gì trong phong trào Cần Vương?
Nguyễn Ngọc Phương (sinh năm 1832 tại Nông Cống, đỗ Tú tài năm 1878) được vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết trao chức "Tham biện sơn hải phòng quân vụ" kiêm "quản phủ Tĩnh Gia". Ông trực tiếp xây dựng căn cứ Hương Trì, sau đó phát triển thành căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng, thống nhất chỉ huy các đội nghĩa quân thuộc ba huyện Nông Cống, Quảng Xương và Ngọc Sơn (Tĩnh Gia), tổ chức các trận đánh đồn Mưng, đồn Thị Long, đồn Eo Sơn và tham gia đánh thành Thanh Hóa.
4. Hệ thống tổ chức quân sự của Nam triều tại Thanh Hóa trước năm 1885 được bố phòng như thế nào?
Quân đội cấp tỉnh được tổ chức thành các cơ (mỗi cơ 10 đội, chia thành ngũ, thập); quân số thời Tự Đức đạt khoảng 7.300 người. Hệ thống đồn bảo kiên cố gồm thành tỉnh Thọ Hạc (chu vi 630 trượng), bảo Biện Sơn, Thổ Sơn, Tĩnh Hải, Triệu Tường, Vân Tụ, Ninh Lương, Tùng Hóa... Trang bị hỏa lực pháo binh có 44 cỗ đại bác đặt tại tỉnh lị và Tĩnh Gia (gồm hồng y cương pháo, phách sơn cương pháo, quá sơn đồng pháo). Thủy binh gồm 2 cơ (tả thủy và hữu thủy) với khoảng 1.000 lính đóng giữ trên dòng sông Mã.
Kết luận
Luận án của tác giả Vũ Quý Thụ đã phục dựng một cách hệ thống, toàn diện tiến trình 10 năm (1885 - 1895) của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp tại Thanh Hóa dưới danh nghĩa Cần Vương. Công trình làm rõ quá trình phát triển qua hai giai đoạn, tái hiện chi tiết các trung tâm căn cứ từ đồng bằng, ven biển lên miền Tây rừng núi, đặc biệt bổ sung nhiều sử liệu điền dã về căn cứ Ôn Lâm - Kỳ Thượng, Mã Cao, Điền Lư. Qua đó, luận án đúc kết sâu sắc các đặc điểm, tính chất, vị trí chiến lược cũng như nguyên nhân thất bại và bài học lịch sử của phong trào, đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác cho việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận đại.