Khóa luận Ngôn ngữ học: Ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy - Nguyễn Thị Tuyết Mai

2017

201
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy

Ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy là đề tài nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận thuộc khóa luận tốt nghiệp đại học năm 2017 của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu vận dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm của Lakoff và Johnson để phân tích hệ thống ẩn dụ trong hàng trăm ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy. Đây là công trình đầu tiên đi sâu vào góc độ tri nhận để làm sáng tỏ cách nhạc sĩ dùng ngôn từ cụ thể diễn đạt những khái niệm trừu tượng. Phạm Duy được công nhận là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của tân nhạc Việt Nam. Sự nghiệp sáng tác kéo dài hơn nửa thế kỷ với số lượng ca khúc đồ sộ. Ca từ của ông giàu hình ảnh, đa tầng nghĩa. Ngôn ngữ học tri nhận mở ra cách tiếp cận mới. Ẩn dụ không còn chỉ là biện pháp tu từ. Ẩn dụ trở thành cơ chế tư duy cơ bản của con người.

1.1. Cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm

Ẩn dụ ý niệm là quá trình nhận thức dựa trên kinh nghiệm, trong đó một miền đích trừu tượng được hiểu thông qua một miền nguồn cụ thể hơn. Lý thuyết này do George Lakoff và Mark Johnson đề xuất trong tác phẩm Metaphors We Live By năm 1980. Khác với quan điểm truyền thống xem ẩn dụ chỉ là biện pháp tu từ, ngôn ngữ học tri nhận khẳng định ẩn dụ là cơ chế tư duy nền tảng. Con người sử dụng ẩn dụ mỗi ngày để hiểu thế giới xung quanh. Ba loại ẩn dụ ý niệm chính gồm: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng.

1.2. Đôi nét về nhạc sĩ Phạm Duy và di sản âm nhạc

Phạm Duy (1921–2013) là nhạc sĩ hàng đầu của nền tân nhạc Việt Nam. Ông sáng tác hơn một nghìn bài hát trải dài nhiều thể loại: tình ca, quê hương, đạo ca, trường ca, nhạc kháng chiến. Ca từ Phạm Duy kết hợp giữa ngôn ngữ bình dân và chất liệu văn chương bác học. Ông chịu ảnh hưởng từ nhiều nguồn tôn giáo và tín ngưỡng: Phật giáo, Công giáo, Nho giáo, Đạo giáo cùng tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Chính sự đa dạng văn hóa này tạo nên hệ thống ẩn dụ phong phú và độc đáo trong ca từ của ông.

II. Phân tích ba loại ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy

Nghiên cứu phân tích ca từ Phạm Duy theo ba loại ẩn dụ ý niệm chính. Thứ nhất, ẩn dụ cấu trúc xuất hiện dày đặc. Tình yêu được cấu trúc hóa qua các miền nguồn như hành trình, thời tiết, lửa, nước. Cuộc đời được hiểu như một chuyến đi, một giấc mơ hay một mùa vụ. Thứ hai, ẩn dụ bản thể giúp biến đổi các khái niệm trừu tượng thành vật thể hữu hình. Cảm xúc được đóng gói thành đồ vật, được chứa đựng trong bình, trong lòng. Tâm hồn con người trở thành vật chứa có giới hạn. Thứ ba, ẩn dụ định hướng liên kết không gian với trạng thái tinh thần. Hướng lên gắn với hạnh phúc, đức hạnh, lý trí. Hướng xuống gắn với đau khổ, tội lỗi, sự suy sụp. Mỗi loại ẩn dụ phản ánh một cách thức tri nhận khác nhau của con người Việt Nam. Hệ thống ẩn dụ này không ngẫu nhiên. Nó phản ánh trải nghiệm thân thể và văn hóa của người Việt.

2.1. Ẩn dụ cấu trúc trong ca từ

Ẩn dụ cấu trúc là loại ẩn dụ mà một khái niệm được cấu trúc theo một khái niệm khác. Trong ca từ Phạm Duy, TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH xuất hiện thường xuyên. Hai người yêu nhau cùng đi trên một con đường, cùng vượt qua chông gai. TÌNH YÊU LÀ LỬA cũng là ẩn dụ phổ biến: lửa cháy, lửa tắt, lửa hồng biểu thị trạng thái tình cảm. CUỘC SỐNG LÀ GIẤC MƠ giúp thể hiện tính phù du của kiếp người. Những ẩn dụ cấu trúc này tạo nên mạng lưới ý nghĩa liên kết, giúp người nghe dễ dàng tiếp nhận thông điệp.

2.2. Ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng

Ẩn dụ bản thể chuyển đổi khái niệm trừu tượng thành thực thể hữu hình. Phạm Duy thường dùng ẩn dụ vật chứa: trái tim là vật chứa đựng tình yêu, nỗi buồn được đổ đầy vào ly rượu. Ẩn dụ định hướng dựa trên không gian: HẠNH PHÚC HƯỚNG LÊN, NỖI BUỒN HƯỚNG XUỐNG. Trong ca từ, người hạnh phúc ngẩng cao đầu, người đau khổ cúi gầm mặt. ĐỨC HẠNH HƯỚNG LÊN, TỘI LỖI HƯỚNG XUỐNG cũng là cặp ẩn dụ định hướng tiêu biểu. Những ẩn dụ này bắt nguồn từ trải nghiệm thân thể con người trong thế giới vật lý.

III. Ảnh hưởng của tôn giáo và tín ngưỡng đến ẩn dụ ý niệm

Một phát hiện quan trọng của nghiên cứu là vai trò của tôn giáo và tín ngưỡng trong việc hình thành hệ thống ẩn dụ ý niệm ca từ Phạm Duy. Phật giáo để lại dấu ấn sâu đậm nhất. Phạm Duy sử dụng nhiều ẩn dụ liên quan đến vô thường, luân hồi, nghiệp báo. Cuộc đời là cõi tạm, thân xác là phù du. Công giáo cũng góp phần tạo nên tầng nghĩa đặc biệt. Tình yêu đôi lứa được ví như tình yêu thần thánh, sự hy sinh gắn với hình ảnh Chúa. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam mang đến chất liệu gần gũi: đồng quê, mẹ hiền, đất nước. Nho giáo và Đạo giáo bổ sung khía cạnh triết lý về quân tử, âm dương. Sự giao thoa tôn giáo tạo nên nét riêng biệt trong ẩn dụ Phạm Duy. Ông không thuộc về một tôn giáo duy nhất. Ông tiếp thu tinh hoa từ nhiều nguồn để xây dựng ngôn ngữ nghệ thuật phong phú.

3.1. Ảnh hưởng Phật giáo và Công giáo

Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc đến ẩn dụ Phạm Duy qua khái niệm vô thường. Cuộc đời là dòng sông chảy, là áng mây trôi, là giấc chiêm bao. Thân xác là cõi tạm, tâm hồn hướng đến giác ngộ. Công giáo mang đến ẩn dụ về sự cứu rỗi và tình yêu vô điều kiện. Tình yêu thương được ví như ánh sáng xua tan bóng tối. Sự hy sinh trong tình yêu gắn với hình ảnh đóng đinh trên thập giá. Hai hệ thống tôn giáo này đan xen, tạo nên chiều sâu triết lý cho ca từ.

3.2. Ảnh hưởng tín ngưỡng dân gian và Nho giáo

Tín ngưỡng dân gian Việt Nam cung cấp miền nguồn quen thuộc cho ẩn dụ Phạm Duy. Hình ảnh mẹ, làng quê, dòng sông, cánh đồng trở thành biểu tượng cho quê hương và tình yêu. Nho giáo đóng góp ẩn dụ về đạo đức: người quân tử như ngọc sáng, kẻ tiểu nhân như bùn nhơ. Đạo giáo bổ sung triết lý âm dương: buồn vui đan xen, hợp tan là lẽ tự nhiên. Sự kết hợp này phản ánh đời sống tinh thần đa tầng của người Việt.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu ẩn dụ ý niệm

Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy cho thấy ẩn dụ không chỉ là biện pháp tu từ trang trí. Ẩn dụ là cơ chế tư duy cơ bản giúp con người hiểu những khái niệm trừu tượng qua kinh nghiệm cụ thể. Hệ thống ẩn dụ trong ca từ Phạm Duy phản ánh rõ nét trải nghiệm văn hóa, tín ngưỡng và lịch sử Việt Nam. Ba loại ẩn dụ ý niệm đều xuất hiện phong phú: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng. Ứng dụng của nghiên cứu này rộng rãi. Trong giảng dạy ngôn ngữ, kết quả giúp học sinh hiểu chiều sâu biểu đạt của tiếng Việt. Trong dịch thuật, nhận diện ẩn dụ ý niệm hỗ trợ truyền tải đúng tinh thần tác phẩm. Trong phân tích văn học, góc nhìn tri nhận bổ sung cách tiếp cận truyền thống. Nghiên cứu mở ra hướng tiếp tục khám phá ẩn dụ trong các thể loại nghệ thuật khác của Việt Nam.

4.1. Đóng góp của nghiên cứu

Nghiên cứu đã hệ thống hóa ba loại ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy một cách toàn diện. Công trình chứng minh rằng ngôn ngữ thơ ca Việt Nam tuân theo các nguyên tắc tri nhận phổ quát đồng thời mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Phát hiện về vai trò của tôn giáo trong hình thành ẩn dụ là đóng góp mới. Nghiên cứu cũng cung cấp cơ sở dữ liệu ngữ liệu phong phú cho các công trình sau này. Kết quả khẳng định giá trị của ngôn ngữ học tri nhận trong phân tích văn học.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu mở ra nhiều hướng phát triển mới. Có thể so sánh ẩn dụ ý niệm giữa Phạm Duy và các nhạc sĩ khác như Trịnh Công Sơn, Văn Cao. Có thể mở rộng sang phân tích ẩn dụ trong thơ, tiểu thuyết Việt Nam. Ứng dụng thực tiễn bao gồm: biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt, hỗ trợ dịch thuật văn học, phát triển công cụ phân tích ngôn ngữ tự nhiên. Góc nhìn tri nhận cũng hữu ích cho ngành quảng cáo và truyền thông khi xây dựng thông điệp giàu hình ảnh.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG CA TỪ PHẠM DUY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC Hệ đào tạo: Cử nhân tài năng Khóa học: 2013 - 2017 TP. HỒ CHÍ MINH, (2017) ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG CA TỪ PHẠM DUY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC Hệ đào tạo: Cử nhân tài năng Khóa học: 2013 - 2017 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN CÔNG ĐỨC TP. HỒ CHÍ MINH, (2017) LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong khóa luận này hoàn toàn trung thực và do tôi thực hiện. Các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều ghi rõ nguồn gốc. Tác giả khóa luận Nguyễn Thị Tuyết Mai LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình tiếp xúc, tìm hiểu kiến thức Ngôn ngữ học tri nhận và thực hiện đề tài Ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy, em đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều thầy cô. Xin gửi lời cảm ơn đến thầy PGS.TS Nguyễn Công Đức, người đã trực tiếp hướng dẫn em khóa luận này. Cảm ơn thầy đã nhiệt tình, tận tâm, chỉ dạy, định hướng và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận. Đồng thời cảm ơn các thầy cô Bộ môn Ngôn ngữ học, đã chỉ dạy kiến thức, hướng dẫn em trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận. Cảm ơn thầy cô hệ dạy và phụ trách hệ Cử nhân tài năng, khoa Văn học và Ngôn ngữ (nay là khoa Văn học, Bộ môn Ngôn ngữ học) đã tạo điều kiện cho em và các bạn thực hiện khóa luận. Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những góp ý, hướng dẫn chân tình từ thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn! Tác giả khóa luận Nguyễn Thị Tuyết Mai 1 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU . Lý do chọn đề tài . Lịch sử nghiên cứu . Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu . Phạm vi nghiên cứu . Phương pháp nghiên cứu . Kết cấu của khóa luận. 7 PHẦN NỘI DUNG . CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NHẠC SĨ PHẠM DUY . ẨN DỤ THEO QUAN ĐIỂM TRUYỀN THỐNG. ẨN DỤ THEO QUAN ĐIỂM NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN . Ngôn ngữ học tri nhận . Vài nét về ngôn ngữ học tri nhận . Một số khái niệm trong ngôn ngữ học tri nhận . Ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) . Ẩn dụ cấu trúc (Structural Metaphors) . Ẩn dụ bản thể (Ontological Metaphors) . Ẩn dụ định hướng (Orientational metaphors) . Vài nét về nhạc sĩ Phạm Duy . Sự nghiệp âm nhạc. ẨN DỤ Ý NIỆM TIÊU BIỂU TRONG CA TỪ PHẠM DUY . Ẩn dụ cấu trúc. Ẩn dụ bản thể . Ẩn dụ vật chứa . Ẩn dụ bản thể có miền nguồn là thực thể . Ẩn dụ định hướng . TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG CA TỪ PHẠM DUY . Vài nét về tôn giáo, tín ngưỡng . Tìm hiểu một số tôn giáo, tín ngưỡng . Hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam . Tìm hiểu sự ảnh hưởng của tôn giáo, tín ngưỡng đến ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy . Phật giáo ảnh hưởng đến ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy . Công giáo ảnh hưởng đến ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy . Tín ngưỡng dân gian Việt Nam ảnh hưởng đến ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy. Nho giáo và Đạo giáo ảnh hưởng đến ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy . 130 DANH MỤC NGỮ LIỆU KHẢO SÁT CHO ĐỀ TÀI. 132 TÀI LIỆU THAM KHẢO . 144 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 3 Trong khoảng thế kỷ XX, ngôn ngữ học tri nhận là hướng nghiên cứu khá mới xuất hiện, hướng nghiên cứu này giúp tìm hiểu được những tri nhận của của con người về thế giới xung quanh, bao gồm văn hóa, dân tộc, quê hương, tình yêu…thông qua ngôn ngữ. Đây cũng là nét khác biệt của ẩn dụ ý niệm so với ẩn dụ theo quan điểm truyền thống. Nếu ẩn dụ theo quan điểm truyền thống giúp ta tìm hiểu các sáng tạo ngôn từ của riêng tác giả, thể hiện phong cách cá nhân tác giả, thì ẩn dụ ý niệm giúp ta hiểu được cách tri nhận thông qua ngôn từ không chỉ của riêng tác giả, mà còn đại diện cho cộng đồng người, cho thấy sự ảnh hưởng của các giai đoạn trong đời người, của văn hóa, vùng đất, con người, dân tộc…mà tác giả chịu ảnh hưởng. Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, giới nghiên cứu Việt ngữ học có các công trình nghiên cứu về lý thuyết lẫn ứng dụng về ngôn ngữ học tri nhận như: công trình Ngôn ngữ học tri nhận – Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt của Lý Toàn Thắng (2005), công trình Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ) (2007) và Khảo luận ngôn ngữ học tri nhận (2009) của Trần Văn Cơ… Việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là ẩn dụ ý niệm vẫn đang là vấn đề mới, cần thiết trong thực tiễn ngôn ngữ học Việt Nam hiện nay. Phạm Duy là nhạc sĩ lớn trong nền Tân nhạc Việt Nam.Các sáng tác của Phạm Duy đồ sộ về số lượng, đa dạng về thể loại. Nhiều người Việt yêu âm nhạc thuộc lòng và mê mẩn âm nhạc, ca từ Pham Duy. Nhiều bài hát được Phạm Duy sáng tác trở nên thân thuộc trong đời sống người Việt. Sự độc đáo trong việc sáng tác âm nhạc của Phạm Duy là việc ông kết hợp những nét cổ truyền của âm nhạc Việt Nam với các trào lưu, các phong cách phương Tây mới mẻ, tạo nên nhiều tác phẩm đột phá, đặc sắc. Thông thường người nghiên cứu lĩnh vực ngôn ngữ học nói chung và nghiên cứu ẩn dụ ý niệm nói riêng, thường dựa trên ngữ liệu của các tác phẩm văn học. Song số ít đề cập đến việc nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong ca từ của các nhạc sĩ, dựa trên nền ngữ liệu là ca từ trong các ca khúc. Do đó việc nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy mang tính mới, phù hợp, cần thiết. Lịch sử nghiên cứu 4 Trong Metaphors We live by, George Lakoff và Mark Johnson đã đưa ra quan điểm khác biệt về ẩn dụ, loại ẩn dụ này khác biệt so với các loại ẩn dụ theo quan điểm truyền thống. George Lakoff và Mark Johnson chỉ ra rằng ẩn dụ không chỉ xuất hiện trong thi ca, văn học, ngôn ngữ mà tồn tại trong cả ngôn từ sinh hoạt hằng ngày. Đây là một trong những cách nhìn theo hướng tri nhận về ngôn ngữ học trên thế giới. Cuối thế kỷ XX, giới Việt ngữ học đã biết và tiếp xúc ngôn ngữ học tri nhận. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận chỉ thực sự có chỗ đứng tại Việt Nam trong thời gian gần đây, với những công trình như công trình: Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt của Lý Toàn Thắng (2005); Trần Văn Cơ với Khảo luận ẩn dụ ý niệm (2007) và Ngôn ngữ học tri nhận – Ghi chép và suy nghĩ (2009)… Đây là những công trình tiêu biểu, mang tính chất giới thiệu lý thuyết, đặt nền móng cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận của các nhà Việt ngữ học. Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu mang tính cụ thể, không chỉ giới thiệu mà còn áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận vào thực tiễn tiếng Việt, thông qua các công trình: Tìm hiểu tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (luận văn thạc sĩ) của Võ Thị Dung (2003); công trình Sự tri nhận không gian biểu hiện qua nhóm từ chỉ quan hệ vị trí trong tiếng Việt so sánh với tiếng Anh (luận văn thạc sĩ) của Nguyễn Thị Tâm (2004); công trình Hiện tượng ẩn dụ: Nhìn từ các quan điểm truyền thống và quan điểm tri nhận luận của Hà Thanh Hải (2007); công trình Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (luận án tiến sĩ) của Phan Thuế Hưng (2008); công trình Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận con người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (luận án tiến sĩ) của Nguyễn Ngọc Vũ (2008); công trình Ẩn dụ trong thi pháp dưới góc nhìn của G. Hướng nghiên cứu ẩn dụ ý niệm đã các nhà nghiên cứu ứng dụng trên cứ liệu thơ, văn người Việt như: công trình Ẩn dụ ý niệm trong thơ Xuân Diệu (luận văn thạc sỹ) của Nguyễn Thị Thùy (2013). Ngoài ra, ẩn dụ ý niệm đã được Nguyễn Thị Thanh Hiền nghiên cứu trên cứ liệu ca từ trong luận văn thạc sĩ năm 2009, với đề tài Ẩn dụ ý niệm mô hình ẩn dụ cấu trúc trên cứ liệu ca từ Trịnh Công Sơn . 5 Những công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm nói riêng và ngôn ngữ học tri nhận nói chung ngày càng phát triển cho thấy sự phát triển của khoa học tri nhận tại Việt Nam. Nó không chỉ là một vấn đề chuyên ngành mà còn mang tính chất liên ngành, đóng vai trò như cánh cửa bước vào thế giới bên trong con người ở chiều sâu tâm lý, phản ánh nhận thức và tư duy của con người. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của khóa luận là khảo sát các loại ẩn dụ ý niệm theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, dựa trên cứ liệu là ca từ trong các ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy. Sau khi khảo sát, khóa luận tiến hành phân tích ngữ liệu đã khảo sát. Từ đó sẽ khái quát được sự hình thành và vai trò của ẩn dụ ý niệm trong cách tri nhận của Phạm Duy, phản ánh sự tri nhận của cộng đồng văn hóa, dân tộc người mà ông sinh sống. Đồng thời từng bước chứng minh sự ảnh hưởng của tôn giáo, tín ngưỡng đến việc ẩn dụ ý niệm, cụ thể là ẩn dụ ý niệm trong ca từ Phạm Duy. Phạm vi nghiên cứu Phạm Duy là nhạc sĩ tài năng, có đóng góp lớn đối với nền âm nhạc Việt Nam. Sức sáng tác mãnh liệt của Phạm Duy đã được minh chứng với hơn một ngàn nhạc phẩm. Tuy nhiên, vì nhiều biến cố và lý do khác nhau, mà số lượng bài hát được phép cấp phép hiện nay khá ít so với toàn bộ kho tàng sáng tác âm nhạc của Phạm Duy. Trong sáng tác âm nhạc, Phạm Duy vừa sáng tác vừa viết nhạc, hoặc dựa theo nhạc ngoại mà viết lời Việt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ