Giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học - Hoàng Dũng, Bùi Mạnh Hùng (NXB ĐH Sư phạm)

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
206
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học

Giáo trình Dẫn luận Ngôn ngữ học do Hoàng Dũng và Bùi Mạnh Hùng biên soạn thuộc dự án đào tạo giáo viên THCS Loan No 1718 - VIE (SF), do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm chịu trách nhiệm ấn hành. Cuốn sách hướng đến sinh viên Ngữ văn tại các trường Cao đẳng Sư phạm. Mục tiêu chính là trang bị kiến thức nhập môn về Ngôn ngữ học một cách đầy đủ và hiện đại. Giáo trình gồm bốn chương lớn. Chương trình bày những vấn đề chung về ngôn ngữ và ngôn ngữ học. Chương hai tập trung ngữ âm học. Chương ba đề cập ngữ pháp học. Chương bốn giới thiệu ngữ nghĩa học. Cách bố trí này khác biệt so với nhiều giáo trình truyền thống tại Việt Nam. Thay vì triển khai phần từ vựng học riêng, tác giả tích hợp nội dung ngữ nghĩa học hiện đại hơn. Nhờ đó, sinh viên tiếp cận được kiến thức về ngữ nghĩa của câu. Đây là nội dung quan trọng mà hầu hết giáo trình dẫn luận lâu nay chưa trình bày. Giáo trình cũng tăng cường khả năng tự học và tính thực hành cho người học.

1.1. Bối cảnh biên soạn giáo trình

Giáo trình ra đời trong khuôn khổ dự án đào tạo giáo viên THCS do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì. Dự án Loan No 1718 - VIE (SF) nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên sư phạm. Hoàng Dũng và Bùi Mạnh Hùng là những chuyên gia ngôn ngữ học uy tín tại Việt Nam. Công trình được biên soạn dựa trên kinh nghiệm giảng dạy thực tế nhiều năm. Tác giả tham khảo xu hướng ngôn ngữ học hiện đại trên thế giới. Đồng thời, giáo trình vẫn đảm bảo tính phù hợp với chương trình đào tạo trong nước. Đây là nỗ lực cải tiến nội dung giảng dạy ngôn ngữ học ở bậc đại học.

1.2. Đối tượng và mục tiêu sử dụng

Giáo trình dành cho sinh viên Ngữ văn tại các trường Cao đẳng Sư phạm trên toàn quốc. Nội dung phục vụ mục tiêu trang bị kiến thức nhập môn về ngôn ngữ học. Sinh viên cần đọc kỹ tài liệu trước khi đến lớp học. Giảng viên trình bày những nội dung thiết yếu và khó. Phần còn lại do sinh viên tự học dưới sự hướng dẫn. Cách tổ chức này rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên. Giáo trình cũng hữu ích cho giáo viên dạy tiếng Việt ở trường phổ thông. Những người quan tâm đến ngôn ngữ học đại cương đều có thể tham khảo.

II. Cấu trúc nội dung nổi bật của giáo trình

Giáo trình được chia thành bốn chương chính, mỗi chương đảm nhận một phân ngành ngôn ngữ học. Chương một trình bày những vấn đề chung về ngôn ngữ và ngôn ngữ học. Nội dung bao gồm định nghĩa ngôn ngữ, chức năng của ngôn ngữ, và các khái niệm nền tảng. Chương hai đi sâu vào ngữ âm học với các đơn vị đoạn tính và siêu đoạn tính. Sinh viên được học về thanh điệu, trọng âm, và ngữ điệu. Chương ba tập trung ngữ pháp học, bao gồm hình thái học và cú pháp học. Đây là phần có dung lượng lớn nhất trong giáo trình. Chương bốn giới thiệu ngữ nghĩa học, một nội dung mới mẻ. Ngữ nghĩa học từ vựng, ngữ nghĩa học cú pháp, và ngữ nghĩa học dụng pháp đều được đề cập. Cách triển khai này phản ánh xu hướng nghiên cứu hiện đại. Giáo trình còn bổ sung phần thuật ngữ đối chiếu Việt - Anh. Phụ lục này hỗ trợ sinh viên tra cứu và tiếp cận tài liệu quốc tế. Cuối mỗi chương đều có phần thảo luận và bài tập thực hành.

2.1. Phần Ngữ âm học và Ngữ pháp học

Phần Ngữ âm học trong giáo trình phân tích chi tiết các đơn vị đoạn tính và siêu đoạn tính. Sinh viên tìm hiểu về nguyên âm, phụ âm qua vị trí và cách phát âm. Các hiện tượng siêu đoạn tính như thanh điệu, trọng âm được giải thích cặn kẽ. Giáo trình sử dụng ví dụ cụ thể từ tiếng Việt và nhiều ngôn ngữ khác. Phần Ngữ pháp học bao gồm hình thái học và cú pháp học. Hình thái học nghiên cứu cấu trúc hình thái của từ. Cú pháp học xem xét quy tắc kết hợp các đơn vị ngữ pháp. Hai phân ngành này bổ trợ nhau, giúp hiểu rõ hệ thống ngôn ngữ.

2.2. Phần Ngữ nghĩa học điểm mới của giáo trình

Ngữ nghĩa học là điểm đổi mới nổi bật nhất trong cấu trúc giáo trình. Phần này thay thế vị trí của Từ vựng học như các giáo trình truyền thống. Ngữ nghĩa học từ vựng nghiên cứu ý nghĩa của từ và mối quan hệ giữa các từ. Ngữ nghĩa học cú pháp tập trung vào ý nghĩa của câu. Ngữ nghĩa học dụng pháp xem xét ý nghĩa trong ngữ cảnh giao tiếp thực tế. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng ngôn ngữ học hiện đại. Tuy nhiên, một số nội dung từ vựng học sẽ không được giới thiệu đầy đủ. Sinh viên cần bổ sung kiến thức này ở môn Từ vựng học tiếng Việt riêng.

III. Phương pháp sư phạm trong giáo trình Dẫn luận

Giáo trình Dẫn luận Ngôn ngữ học áp dụng phương pháp sư phạm tiên tiến. Tác giả chủ trương tăng cường khả năng tự học cho sinh viên. Giảng viên chỉ trình bày những nội dung thiết yếu và khó hiểu. Phần lớn kiến thức còn lại do sinh viên tự đọc và nghiên cứu. Cách tổ chức này đòi hỏi sinh viên phải chuẩn bị bài kỹ trước khi đến lớp. Giáo viên cần dành thời gian giải đáp thắc mắc trong quá trình tự học. Giáo trình cũng chú trọng tính thực hành. Mỗi chương đều có phần bài tập và vấn đề thảo luận. Sinh viên được rèn luyện kỹ năng phân tích ngôn ngữ thực tế. Phương pháp này giúp kiến thức đi vào chiều sâu thay vì học thuộc lòng. Tỉ lệ các chương được điều chỉnh hợp lý. Phần Những vấn đề chung được trình bày ngắn gọn. Dung lượng lớn hơn dành cho các phần chuyên môn. Cách phân bổ này phục vụ mục tiêu cụ thể của chương trình đào tạo giáo viên. Sinh viên sư phạm cần nắm vững kiến thức chuyên sâu để dạy tốt.

3.1. Phương pháp tự học và nghiên cứu tài liệu

Tự học là phương pháp cốt lõi mà giáo trình hướng đến. Sinh viên phải đọc kỹ các phần liên quan trước khi đến lớp học. Giảng viên không trình bày lại toàn bộ nội dung trên lớp. Thay vào đó, giảng viên tập trung giải thích những điểm khó và thiết yếu. Cách tiếp cận này rèn luyện thói quen chủ động trong học tập. Sinh viên học cách khai thác tài liệu và tổng hợp kiến thức. Giáo trình cung cấp danh mục tài liệu tham khảo chi tiết. Phụ lục thuật ngữ Việt - Anh hỗ trợ sinh viên đọc tài liệu quốc tế. Kỹ năng tự học rất quan trọng cho nghề giáo viên tương lai.

3.2. Tăng cường bài tập thực hành và thảo luận

Cuối mỗi chương đều có phần bài tập thực hành và vấn đề thảo luận. Đây là phần không thể thiếu trong quá trình học ngôn ngữ học. Bài tập giúp sinh viên vận dụng lý thuyết vào phân tích ngôn ngữ cụ thể. Các câu hỏi thảo luận khuyến khích tư duy phản biện và phân tích sâu. Sinh viên được thực hành ghi âm thanh điệu, phân tích cú pháp, và đánh giá ngữ nghĩa. Hoạt động nhóm trong thảo luận phát triển kỹ năng hợp tác. Thực hành thường xuyên giúp củng cố kiến thức lý thuyết vững chắc. Phương pháp này phù hợp với yêu cầu đào tạo giáo viên thực hành.

IV. Giá trị đào tạo và ứng dụng thực tiễn

Giáo trình Dẫn luận Ngôn ngữ học có giá trị đào tạo to lớn. Công trình trang bị nền tảng kiến thức ngôn ngữ học vững chắc cho sinh viên sư phạm. Nội dung cập nhật phản ánh xu hướng ngôn ngữ học hiện đại thế giới. Cách tích hợp ngữ nghĩa học thay từ vựng học tạo bước tiến trong giảng dạy. Giáo trình giúp sinh viên hiểu sâu hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt. Kiến thức ngữ âm học hỗ trợ dạy phát âm chuẩn cho học sinh. Ngữ pháp học cung cấp công cụ phân tích cấu trúc câu hiệu quả. Ngữ nghĩa học giúp giáo viên giảng dạy ý nghĩa từ ngữ chính xác. Phần thuật ngữ đối chiếu Việt - Anh mở cánh cửa tiếp cận tài liệu quốc tế. Phương pháp tự học trong giáo trình rèn luyện kỹ năng nghiên cứu độc lập. Giáo viên tương lai được trang bị cả kiến thức lẫn phương pháp học tập suốt đời. Giáo trình còn là tài liệu tham khảo quý cho giáo viên dạy tiếng Việt phổ thông. Giá trị của công trình vượt ra ngoài khuôn khổ đào tạo sư phạm.

4.1. Ứng dụng trong đào tạo giáo viên sư phạm

Giáo trình phục vụ trực tiếp chương trình đào tạo giáo viên THCS và Cao đẳng Sư phạm. Sinh viên sư phạm cần nắm vững ngôn ngữ học để dạy tiếng Việt hiệu quả. Kiến thức ngữ âm giúp giáo viên hướng dẫn học sinh phát âm đúng. Nghiên cứu ngữ pháp hỗ trợ giảng dạy cấu trúc câu rõ ràng. Ngữ nghĩa học giúp giáo viên giải thích chính xác ý nghĩa từ ngữ cho học sinh. Phương pháp tự học trong giáo trình chuẩn bị cho sinh viên kỹ năng nghiên cứu. Giáo viên tương lai biết cách cập nhật kiến thức mới liên tục. Chương trình đào tạo nhờ vậy đạt chất lượng cao hơn.

4.2. Giá trị tham khảo cho nghiên cứu ngôn ngữ học

Giáo trình không chỉ phục vụ đào tạo mà còn là tài liệu tham khảo quý. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam có thể sử dụng làm tài liệu nhập môn. Phần thuật ngữ đối chiếu Việt - Anh hỗ trợ tra cứu hiệu quả. Danh mục tài liệu tham khảo cuối sách mở rộng hướng nghiên cứu cho người đọc. Cách tiếp cận ngữ nghĩa học hiện đại gợi ý hướng nghiên cứu mới. Giáo trình đặt nền móng cho các công trình chuyên sâu hơn về ngôn ngữ tiếng Việt. Giá trị học thuật của công trình được giới chuyên môn đánh giá cao. Đây là bước tiến đáng kể trong hệ thống giáo trình ngôn ngữ học Việt Nam.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO DỰ ÁN ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN THCS LOAN No 1718 - VIE (SF) HOÀNG DŨNG - BÙI MẠNH HÙNG GIÁO TRÌNH DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM MỤC LỤC GIÁO TRÌNH DẪN LUẬN NGÔN NGỮ HỌC 1 NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 1 Lời nói đầu 1 CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC 3 1. Ngôn ngữ học 10 NHỮNG VẤN ĐỀ THẢO LUẬN VÀ THỰC HÀNH 20 Chương 2: NGỮ ÂM HỌC 22 1. Các đơn vị đoạn tính 30 3. Các hiện tượng siêu đoạn tính 45 NHỮNG VẤN ĐỀ THẢO LUẬN VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH 53 Chương 3. NGỮ PHÁP HỌC 58 1. Một số khái niệm chung của ngữ pháp học 58 2. Hình thái học 87 3. Cú pháp học 107 NHỮNG VẤN ĐỀ THẢO LUẬN VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH 123 Chương 4: NGỮ NGHĨA HỌC 133 1. Đối tượng của ngữ nghĩa học 133 2. ngữ nghĩa học từ vựng 135 3. ngữ nghĩa học cú pháp 145 4. Ngữ nghĩa học dụng pháp 152 NHỮNG VẤN ĐỀ THẢO LUẬN VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH 172 THUẬT NGỮ ĐỐI CHIẾU VIỆT ANH 178 TÀI LIỆU THAM KHẢO 202 Lời nói đầu Đây là giáo trình dành cho sinh viên Ngữ văn các trường Cao đẳng Sư phạm, nhằm trang bị cho người học những kiến thức nhập môn về Ngôn ngữ học. Với mục đích trình bày đầy đủ những nội dung cơ bản và hiện đại, giáo trình đã thay đổi một phần cấu trúc các chương mục, thay vì triển khai theo những nội dung phổ biến trong các giáo trình dẫn luận lâu nay tại Việt Nam là ​Những vấn đề chung, Ngữ âm học, Từ vựng học, Ngữ pháp học, cuốn sách này gồm các chương N ​ hững vấn đề chung về ngôn ngữ và Ngôn ngữ học, Ngữ âm học, Ngữ pháp học, Ngữ nghĩa học. Theo cách triển khai này, sinh viên được học về ngữ nghĩa của câu, một nội dung rất quan trọng mà hầu hết những giáo trình dẫn luận Ngôn ngữ học hiện hành của Việt Nam đều không trình bày. Cũng do cách triển khai này mà một số nội dung về Từ vựng học sẽ không được giới thiệu, nhưng những nội dung này tương đối đơn giản và sinh viên sẽ có điều kiện học kĩ ở môn T ​ ừ vựng học tiếng Việt. Để sinh viên có cơ sở học môn T ​ ừ vựng học tiếng Việt sau này, chúng tôi có làm rõ những điểm chung và riêng giữa hai phân ngành T ​ ừ vựng học và ​Ngữ nghĩa học. Chọn Từ vựng học hay Ngữ nghĩa học để trình bày trong một cuốn giáo trình dẫn luận đều có mặt ưu điểm và hạn chế của nó. Tuy nhiên, cách thứ hai phù hợp với xu hướng của Ngôn ngữ học hiện đại hơn và sát với nhu cầu thực tế hơn. Tỉ lệ của các chương so với dung lượng chung của toàn bộ cuốn sách cũng có sự điều chỉnh đáng kể. Giáo trình chủ trương trình bày ngắn gọn phần Những vấn đề chung, dành dung lượng thích đáng cho những phần có tính chất chuyên môn Ngôn ngữ học nhằm đáp ứng mục tiêu cụ thể của chương trình đào tạo giáo viên. Giáo trình này được biên soạn theo hướng tăng cường khả năng tự học cho sinh viên. Giảng viên chỉ trình bày những nội dung thiết yếu và khó, phần còn lại sinh viên cần tự học. Vì vậy sinh viên phải đọc kĩ những phần có liên quan trước khi đến học ở lớp. Giảng viên cũng cần dành thời gian để giải đáp những nội dung mà trong quá trình tự học sinh viên chưa nắm vững. Giáo trình cũng chú ý tăng cường tính thực hành, vì vậy cuối mỗi chương đều có nhiều vấn đề thảo luận và bài tập nhằm giúp sinh viên củng cố và vận dụng kiến thức lí thuyết đã học. Phần này chỉ giúp giảng viên và sinh viên định hướng trong thực hành chứ không bắt buộc sinh viên phải làm hết tại lớp. Để rèn luyện cho sinh viên kĩ năng phân tích Ngôn ngữ học một cách khách quan, một số bài tập cần dùng cứ liệu của những ngôn ngữ xa lạ hoặc ít phổ biến. Loại bài tập này chúng tôi phải tham khảo từ nhiều tài liệu nước ngoài. Chúng tôi xin cám ơn PGS. Cao Xuân Hạo, GS. Lý Toàn Thắng, PGS. Nguyễn Văn Hiệp, các nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dương, Hoàng Xuân Tâm đã đọc bản thảo và dành cho chúng tồi nhiều góp ý hết sức xác đáng, giúp cuốn sách có nội dung và hình thức trình bày hoàn thiện hơn. Chúng tôi cũng xin cảm ơn hai đồng nghiệp trẻ Lê Ni La và Lê Thị Thanh Bình đã có những nhận xét bổ ích về một số chương mục và giúp chúng tôi kiểm tra lại hệ thống các bài tập thực hành của cuốn sách. Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng giáo trình chắc khó tránh khỏi thiếu sót. Rất mong quý độc giả góp ý để các tác giả được học hỏi thêm. Hoàng Dũng - Bùi Mạnh Hùng CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC 1. Ngôn ngữ là gì? Có ngôn ngữ và khả năng sử dụng ngôn ngữ là đặc trưng quan trọng phân biệt con người và động vật. Không có một con người bình thường nào không dùng ngôn ngữ. Ngôn ngữ gần gũi, thân thiết như những gì gần gũi và thân thiết nhất mà con người có thể có. Nhưng ít ai đặt câu hỏi ​Ngôn ngữ là gì?​. Điều đó cũng giống như không khí rất quan trọng đối với con người, song không mấy khi ta nghe một người nào đó hỏi ​Không khí là gì?.​ Tuy nhiên ​Ngôn ngữ là gì? là một trong những câu hỏi đầu tiên mà Ngôn ngữ học phải trả lời và cũng là một trong những vấn đề đầu tiên mà một người học Ngôn ngữ học phải biết. Ngôn ngữ là một hệ thống dấu hiệu đặc biệt, được dùng làm phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và phương tiện tư duy của con người. Trong giao tiếp hằng ngày, chúng ta thường dùng những từ như ​ngôn ngữ của loài hoa, ngôn ngữ của loài vật, ngôn ngữ âm nhạc, ngôn ngữ hội họa, ngôn ngữ điêu khắc, ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ lập trình, ngôn ngữ toán​, v.v… Từ ngôn ngữ trong những cách dùng như vậy không được hiểu theo nghĩa gốc của nó, mà chỉ được dùng với nghĩa phái sinh theo phép ẩn dụ, dựa trên cơ sở nét tương đổng giữa ngôn ngữ với những đối tượng được nói đến: công cụ dùng để biểu đạt, để thể hiện một điều gì đó. Bản chất của ngôn ngữ 1. Ngôn ngữ là một hiện tượng xãhậỉ và là hộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa Ngôn ngữ có thể được hiểu như là sản phẩm của nhân loại nói chung hay như là sản phẩm của một cộng đồng cụ thể. Dù hiểu như thế nào thì ngôn ngữ cũng là một hiện tượng xã hội. Ngôn ngữ chỉ được hình thành và phát triển trong xã hội. Không có ngôn ngữ nào tách rời khỏi cộng đồng và không một người nào khi mới sinh ra, sống tách rời khỏi cộng đồng mà khả năng sử dụng ngôn ngữ được hình thành. Điều đó làm cho ngôn ngữ khác về cơ bản với những hiện tượng có tính chất bản năng ở con người như ăn, uống, đi lại. Ngôn ngữ chỉ được hình thành do quy ước nên không có tính chất di truyền như những đặc điểm về chủng tộc. Đứa trẻ sinh ra mang những đặc điểm di truyền của những người thuộc thế hệ trên nó như màu da, màu mắt, màu tóc, v.v… nhưng ngôn ngữ mẹ đẻ của nó có thể không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của bố mẹ nó. Ngôn ngữ không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hoá. Mỗi hệ thống ngôn ngữ đều mang đậm dấu ấn văn hoá của cộng đồng người bản ngữ. Chính vì vậy, muốn sử dụng một ngôn ngữ, không chỉ phải biết ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, mà còn phải nắm vững cái dấu ấn văn hóa được thể hiện trong ngôn ngữ đó nữa. Giữ gìn và phát triển một ngôn ngữ cũng chính là góp phần giữ gìn và phát triển một nền văn hoá. Ngôn ngữ là một hệ thống dếu hiệu đặc biệt Trước hết ​ngôn ngữ là một hệ thống, vì như tất cả những hệ thống khác, ngôn ngữ là ​một thể thống nhất các yếu tố có quan hệ với nhau​. Mỗi yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ có thể coi là một đơn vị. Các đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ được sắp xếp theo những quy tắc nhất định. Sự tồn tại của đơn vị ngôn ngữ này quy định sự tồn tại của đơn vị ngôn ngữ kia. Ngôn ngữ là một hệ thống dấu hiệu vì mỗi đơn vị ngôn ngữ là một dấu hiệu. Như tất cả những loại dấu hiệu khác, dấu hiệu ngôn ngữ là một thực thể mà hình thức vật chất của nó bao giờ cũng biểu đạt một cái gì đó. Nghĩa là mỗi dấu hiệu ngôn ngữ có hai mặt: hình thức âm thanh và cái mà hình thức đó biểu đạt. de Saussure, nhà Ngôn ngữ học Thuỵ Sĩ, người được mệnh danh là cha đẻ của Ngôn ngữ học hiện đại gọi mặt thứ nhất là ​cái biểu đạt và mặt thứ hai là ​cái được biểu đạt và hình dung mối quan hệ giữa hai mặt này của dấu hiệu ngôn ngữ như sau: Chẳng hạn từ ​cây trong tiếng Việt là một dấu hiệu ngôn ngữ. Âm “cây” chính là cái biểu đạt. Nói chính xác hơn, hình ảnh âm thanh “cây”, tức dấu vết tâm lí của cái âm đó, chứ không phải bản thân âm như một hiện tượng thuần vật lí là cái biểu đạt, vì cái biểu đạt của dấu hiệu ngôn ngữ tồn tại ngay cả khi ta không phát âm ra thành lời. Khái niệm “cây” (thực vật có rễ, thân, lá rõ rệt, hoặc vật có hình thù giống những thực vật có thân, lá) là cái được biểu đạt. Cái biểu đạt của dấu hiệu ngôn ngữ được tạo nên từ chất liệu âm thanh (theo nghĩa âm thanh như vừa nêu). Khi dấu hiệu ngôn ngữ được thể hiện bằng chữ viết thì chất liệu âm thanh đó được thay thế bằng những đường nét. Như vậy cần lưu ý, chữ viết chỉ là loại dấu hiệu ghi lại cái biểu đạt của dấu hiệu ngôn ngữ, chứ bản thân nó không phải là cái biểu đạt của dấu hiệu ngôn ngữ (xem thêm phần Ngữ âm học). Ngôn ngữ là một hệ thống dấu hiệu đặc biệt vì đó là loại dấu hiệu chỉ có ở con người và có những nét đặc thù. Sau đây là những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ: a.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ