CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Những nghiên cứu về từ láy trong tiếng Việt Trong toàn bộ hệ thống ngôn ngữ, có một bộ phận từ rất nhỏ luôn mang giá trị gợi âm thanh, hình ảnh và giá trị biểu cảm trong ngôn ngữ giao tiếp đời sống hàng ngày và cả trong văn chương, đó là từ láy. Từ láy đã được quan tâm và đưa vào nghiên cứu từ trước đến nay, và cho đến nay đã có không ít các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ đã đưa ra ý kiến và quan điểm khác nhau về tên gọi, cách phân loại cũng như định nghĩa của từ láy. Về tên gọi Tên gọi của từ lay luôn được thay đôi theo thời gian và các nhà ngôn ngữ khác nhau.
Trước năm 1990 từ lay có những tên gọi như sau: 1962: Từ phản điệp (Đỗ Hữu Châu) 1963: Từ ghép (Trương Văn Chính, Nguyễn Hiến Lê) 1970: Từ lấp láy (Nguyễn Nguyên Trứ) 1970: Từ láy (Hoàng Văn Hành, Đào Thản) 1972: Từ ngữ kép phản phục (Lê Văn Lý) 1975: Từ láy âm (Nguyễn Tài Cần) 1976: Từ lấp láy (Hồ Lê) 1976: từ láy âm (Nguyễn Văn Tu) 1978 đến 1989: Từ lay (Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hanh, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban,.) Từ đó đến nay, "từ láy" trở thành tên gọi riêng của lớp từ này. Nhưng lý do vì đâu mà trong lịch sử từ láy lại có nhiều tên gọi đến vậy? Đó là do cách nhìn nhận khác nhau của các nhà ngôn ngữ học đối với từ láy. Có hai luồng quan điểm chủ yếu, có người cho răng láy là từ ghép, có người lại cho răng láy là sự hòa phối ngữ âm và được tạo ra từ một phương thức cấu tạo từ đặc biệt. Cách phân loại từ lay Với số lượng âm đầu, vần và thanh điệu khá nhiều, số lượng từ láy tiếng Việt được tạo ra là vô cùng phong phú, các loại hình từ láy cũng rất đa dạng.
-Trong cuốn “từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” tác giả đưa ra quan điểm: căn cứ vào số lần tác động của phương thức láy, có thể phận biệt các kiểu từ láy: từ láy đôi hay từ láy hai âm tiết (gọn gàng, vững vàng, đỏ đắn, khấp khênh), từ láy ba hay từ láy ba âm tiết (sạch sành sanh, téo tèo teo, dửng dừng dưng), từ láy tư hay từ láy bốn âm tiết (nhi nha nhí nhảnh, kháp kha kháp khênh, lam nham lở nhở, vội vội vàng vàng, tan ngắn tân ngắn). -Trong cuốn “cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, Mai Ngọc Chừ (1997) cho rằng từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn có loại ba tiếng. -Theo quan điểm của GS. Đỗ Hữu Châu: “ Căn cứ vào cách hoà phối ngữ âm có thể phân thành hai kiêu từ láy: từ láy bộ phận (chúm chím, đủng đỉnh, bập bồng), từ láy toàn bộ (oe oe, ầm ầm, lăm lăm).
-Nguyễn Hữu Quỳnh (2001) cho rằng: từ lay có thé chia làm hai loại: từ lay hoàn toàn và từ lay bộ phận. -Lê Trung Hoa (2002) cho rang: trong tiếng Việt, số lượng từ lay khá nhiều. Người ta thường chia từ lay ra làm hai loại lớn: từ lay hoàn toàn (như ba ba, chuồn chuồn.) và từ lay bộ phận (như đẹp đẽ,chờn vờn. Bên cạnh đó còn có rất nhiều nhà ngôn ngữ học đưa ra quan điểm gần giống nhau, căn cứ những quan điểm trình bày trên chúng ta có thê thay rằng, các nhà Việt ngữ học thống nhất chia từ láy theo hai cách: Cách 1: Theo mức độ lay lại của ba bộ phận ngữ âm, có thể chia thành hai loại: Lay hoàn toàn và lay bộ phận (lay không hoàn toàn).
Cách 2: Theo số lượng âm tiết của từ, có thể chia thành ba loại: Láy đôi (láy 2 âm tiết), láy ba (láy 3 âm tiết), láy bốn (láy 4 âm tiết). Cách phân chia thứ nhất dễ nhận biết hơn và thường được sử dụng nhiều hơn. Dé tiện cho việc so sánh từ lay tiếng Việt với từ lay tiếng Trung, ở chương hai chúng ta sẽ tìm hiểu các phân loại chỉ tiết, song song với việc này, chúng tôi sẽ chỉ rõ đặc trưng và kết cau của từng loại hình từ lay.Những định nghĩa về từ lay Từ xưa đã có rat nhiêu định nghĩa vê từ lay của các nhà nghiên cứu, song cho đến tận bây giờ vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về nó. Chúng tôi xin trích dẫn những quan niệm về từ láy của một số nhà nghiên cứu: - Quan niệm của GS.
Nguyễn Tài Can được trình bay trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt - Tiếng- Từ ghép - Đoản ngữ”: Từ láy âm là loại từ ghép trong đó, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay có các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ âm được thé hiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa vần và âm cuối van). Ví dụ ở từ lay đôi chúng ta thấy: a) Về các yếu tố âm đoạn tính: các thành tố trực tiếp phải tương ứng với nhau hoặc ở phụ âm đầu: làm lụng, đất đai, mạnh mẽ,. hoặc ở van: lam nham, lua thưa, lác đác,.
có khi các thành tố trực tiếp tương ứng cả phụ âm đầu, cả ở vần, ví dụ: chu6n chu6n, quốc quốc, đa da,. b) Về mặt yếu tố siêu âm đoạn tính các thành tố nói chung đều phải có thanh thuộc cùng một âm vực: thuộc âm vực cao (thanh ngang, thanh hỏi, thanh sắc) hoặc thuộc âm vực thấp (thanh huyền, ngã, nặng). Ví dụ: + Cùng thuộc âm vực cao: hay ho, méo mó, ngay ngắn, bảnh bao, lỏng lẻo, rẻ rúng mê mân, sáng sủa. + Cùng thuộc âm vực thấp: lụng thụng, dày dạn, rau ti, dep dé.
- Trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ hoc và tiếng Việt”, các tác giả đưa ra quan điểm: Phương thức tô hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm cho ta các từ láy (còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm). Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng, và có cả từ lay ba tiếng. Một từ sẽ được gọi là từ lay khi các thành tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại, nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (gọi là đối). Vi dụ: đỏ đắn- điệp phan âm đầu, đối ở phan van.
Đỗ Hữu Châu: “ Từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức hoà phối ngữ âm băng cách lặp lại một bộ phận hay toàn bộ hình thức ngữ âm của tiếng gốc, còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm, từ ghép láy, từ phản điệp. Các từ láy có thé phân thành từng kiểu khác nhau căn cứ vào cách hoà phối ngữ âm và số lần tác động của phương thức lay. Căn cứ vào cách hoà phối ngữ âm có thé phân biệt hai kiểu từ láy: từ láy bộ phận (chúm chím, đủng đỉnh, bập bồng.), từ láy toàn bộ (oe oe, ầm am, lam lăm. Từ láy bộ phận chia làm hai loại: lặp lại phụ âm đầu (chắc chắn, chí choé, mát mé,.), lặp lại phần vần (lênh khênh, chót vot, lè tè,.
Căn cứ vào số lần tác động của phương thức từ lay có thé phân biệt các kiểu từ lay: từ lay đôi hay từ lay 2 âm tiết (gọn gàng, vững vàng, vuông van.), từ lay ba hay từ láy ba âm tiết (sạch sành sanh, tẻo tèo teo, dửng dừng dưng.), từ láy bốn hay từ lay bốn âm tiết (nhí nha nhí nhảnh, vội vội vàng vàng, lam nham lở nhở, tan ngan tan ngan,. Từ lay có những đặc trưng ngữ nghĩa riêng như giá trị biểu trưng, sắc thái hoá, chuyên biệt hoá về nghĩa”. - Nguyễn Văn Tu (1976) cho rằng: Những từ lấp lay gồm những âm tiết tương quan với nhau hay giống nhau về ngữ âm. Trong tiếng Việt hiện đại, có những từ gồm hai từ tố có quan hệ về ngữ âm thường gọi bằng tên lấp láy, từ trùng điệp, từ láy âm hoặc từ láy.
Thực ra trong số những từ kiểu này có những từ thực sự là từ lay âm và cũng có những từ lay âm ngẫu nhiên (đất đai, tuôi tác, hỏi han. Nhưng hiện nay về mặt quan hệ ngữ âm, chúng ta cũng gọi chung chúng là những từ láy âm. Sở di chúng tôi gọi chung những từ lay âm là những từ ghép vì thực chất chúng được tạo ra bởi một số từ tố với bản thân nó không bị biến âm hoặc bị biến âm. Từ ghép láy “lâng lâng” gồm có hai từ hoàn toàn giống nhau về âm thanh.
Và từ ghép “máy móc” gồm từ tố máy kết hop với móc là biến thé ngữ âm của máy. Từ lay âm được tạo thành bằng việc ghép hai từ tố hoặc hai âm tiết có quan hệ về ngữ âm trên cơ sở lay âm, trên co sở lay lại bản thân cái âm tiết chính hoặc cái từ tố chính. Những từ láy âm có sự tương ứng về những mặt sau: a) Về mặt phụ âm đầu như: - Bắt bớ, bàn bạc, bạc béo, bụi bam,. - Cau có, canh cánh, cào cào, cầm cập, cam cụi,.
- Chăm chỉ, chắc chắn, chặt chẽ, chạy chọt, chết chóc,. - Da đẻ, dan da, dai dăng,. b) Về vần mà khác nhau về phụ âm đầu: - Bang lang, là da, lung thụng,. - Ké nhè, lè nhè, le tè, lì xi,.
c) Tương ứng hoàn toàn : - Chuôn chuôn, ram ram, lan lân,. d) Sự tương ứng về thanh điệu Các âm tiết trong từ lấp láy thường có những thanh điệu tương ứng với nhau. Hai âm tiết của từ lấp lay déu thuộc về một thanh điệu: không, sắc, hỏi hoặc nhóm huyền, nga, nặng. Vi dụ: - Nhóm 1: lâng lang, máy móc, bang nhắng, liéng xiéng, lỏng lẻo.
- Nhóm 2: làng nhàng, nhôm nhoàm, cũ kỹ, gượng gạo, sợ sệt. Bên cạnh đó còn có quan điểm của nhiều nhà Việt ngữ khác. Theo quan điểm của Nguyễn Hữu Quỳnh: “Trong tiếng Việt, từ ghép theo phương thức láy có một số lượng đáng ké. Phương thức lay là phương thức cấu tạo từ và cụm từ đặc biệt trong tiếng Việt.
Từ ghép láy (hay còn gọi là từ ghép lấp láy, từ láy) là những từ ghép gồm hai hình vị kết hợp với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm. Các thành tố của từ ghép láy có mối liên quan với nhau về thanh điệu hoặc về các bộ phận ngữ âm tạo nên các thành tố đó, đồng thời chúng tạo nên một nội dung ngữ nghĩa nhất định.