Luận án tiến sĩ về tác động của hội truyền bá quốc ngữ đến xã hội Việt Nam giai đoạn 1938-1945

Tổng hợp kiến thức Tác động của hội truyền bá quốc ngữ đến xã hội Việt Nam (1938-1945), tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ lịch sử

2014

195
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp của luận án

1.6. Bố cục của luận án

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

3. SỰ RA ĐỜI CỦA HỘI TRUYỀN BÁ QUỐC NGỮ

4. HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI TRUYỀN BÁ QUỐC NGỮ (1938 – 1945)

5. ẢNH HƯỞNG CỦA HỘI TRUYỀN BÁ QUỐC NGỮ ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Sự ra đời của Hội Truyền bá Quốc ngữ

Hội Truyền bá Quốc ngữ được thành lập vào năm 1938, trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang đối mặt với nạn mù chữ nghiêm trọng. Trước khi Hội ra đời, chữ Quốc ngữ đã được hình thành từ thế kỷ XVII nhưng chưa được phổ biến rộng rãi. Mục tiêu của Hội là truyền bá chữ Quốc ngữ, giúp người dân biết đọc, biết viết tiếng Việt. Các nhà trí thức như Nguyễn Văn Tố, Phan Thanh, và Võ Nguyên Giáp đã đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập Hội. Họ nhận thấy rằng việc phổ biến chữ Quốc ngữ không chỉ là một nhu cầu cấp thiết mà còn là một công cụ để nâng cao dân trí và khôi phục văn hóa dân tộc. Hội đã tổ chức nhiều lớp học, phát động các phong trào tuyên truyền, và thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng. Điều này không chỉ giúp giảm tỷ lệ mù chữ mà còn tạo ra một phong trào văn hóa mạnh mẽ trong xã hội Việt Nam.

1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Quá trình hình thành Hội Truyền bá Quốc ngữ diễn ra trong bối cảnh chính trị phức tạp của Việt Nam dưới sự cai trị của thực dân Pháp. Các nhà trí thức đã nhận thức rõ ràng rằng việc phổ biến chữ Quốc ngữ là một phần quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho dân tộc. Hội đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp xã hội, từ nông dân đến trí thức. Sự phát triển của Hội không chỉ dừng lại ở việc dạy chữ mà còn mở rộng ra các hoạt động văn hóa, giáo dục, và chính trị. Hội đã trở thành một tổ chức quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của chữ Quốc ngữ và vai trò của nó trong việc xây dựng một xã hội văn minh.

II. Hoạt động của Hội Truyền bá Quốc ngữ 1938 1945

Trong giai đoạn từ 1938 đến 1945, Hội Truyền bá Quốc ngữ đã thực hiện nhiều hoạt động thiết thực nhằm nâng cao dân trí và phổ biến chữ Quốc ngữ. Hội đã tổ chức các lớp học tại nhiều địa phương, từ thành phố lớn như Hà Nội đến các vùng nông thôn. Các giáo viên, hội viên của Hội đã không ngại khó khăn, gian khổ để mang chữ Quốc ngữ đến với người dân. Bên cạnh việc dạy chữ, Hội còn phát động các phong trào văn hóa, khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động cộng đồng. Những hoạt động này không chỉ giúp giảm tỷ lệ mù chữ mà còn tạo ra một phong trào yêu nước mạnh mẽ trong xã hội. Hội Truyền bá Quốc ngữ đã trở thành một biểu tượng của tinh thần dân tộc và khát vọng tự do của người Việt Nam.

2.1. Các lớp học và phong trào tuyên truyền

Hội đã tổ chức hàng trăm lớp học trên khắp cả nước, từ miền Bắc đến miền Trung và miền Nam. Các lớp học không chỉ dạy chữ mà còn truyền đạt những kiến thức cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. Phong trào tuyên truyền được thực hiện thông qua các buổi hội thảo, diễn thuyết, và phát tờ rơi. Những hoạt động này đã thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng, đặc biệt là những người lao động nghèo. Hội cũng đã hợp tác với các tổ chức xã hội khác để mở rộng phạm vi hoạt động và tăng cường hiệu quả của các lớp học. Nhờ những nỗ lực này, Hội Truyền bá Quốc ngữ đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí và xây dựng một xã hội văn minh hơn.

III. Tác động của Hội Truyền bá Quốc ngữ đến xã hội Việt Nam

Hội Truyền bá Quốc ngữ đã có những tác động sâu sắc đến xã hội Việt Nam trong giai đoạn 1938-1945. Một trong những thành tựu lớn nhất của Hội là việc giảm tỷ lệ mù chữ trong dân cư. Theo thống kê, tỷ lệ người biết chữ đã tăng lên đáng kể sau khi Hội hoạt động. Điều này không chỉ giúp người dân có khả năng đọc viết mà còn nâng cao nhận thức về văn hóa và xã hội. Hội cũng đã góp phần vào việc bãi bỏ những hủ tục lạc hậu, tạo điều kiện cho sự phát triển của một nền giáo dục hiện đại. Những hoạt động của Hội đã tạo ra một phong trào yêu nước mạnh mẽ, góp phần vào thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945.

3.1. Giảm tỷ lệ mù chữ và nâng cao dân trí

Hội Truyền bá Quốc ngữ đã thực hiện nhiều chương trình giáo dục nhằm giảm tỷ lệ mù chữ trong xã hội. Các lớp học được tổ chức không chỉ ở thành phố mà còn ở các vùng nông thôn, nơi mà tỷ lệ mù chữ cao nhất. Nhờ những nỗ lực này, hàng triệu người đã được tiếp cận với chữ Quốc ngữ, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu biết về thế giới xung quanh. Sự gia tăng dân trí không chỉ giúp người dân có khả năng đọc viết mà còn tạo ra một lớp người có ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong xã hội. Điều này đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển của xã hội Việt Nam trong những năm tiếp theo.

IV. Kết luận và ý nghĩa của Hội Truyền bá Quốc ngữ

Hội Truyền bá Quốc ngữ đã để lại những dấu ấn quan trọng trong lịch sử giáo dục và văn hóa Việt Nam. Những hoạt động của Hội không chỉ giúp xóa nạn mù chữ mà còn góp phần vào việc nâng cao dân trí và xây dựng một xã hội văn minh. Hội đã tạo ra một phong trào yêu nước mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần dân tộc và khát vọng tự do của người Việt Nam. Những giá trị mà Hội để lại vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay, khi mà việc bảo tồn và phát triển chữ Quốc ngữ vẫn là một nhiệm vụ quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

4.1. Giá trị lịch sử và văn hóa

Hội Truyền bá Quốc ngữ không chỉ là một tổ chức giáo dục mà còn là một biểu tượng của tinh thần yêu nước và khát vọng tự do. Những giá trị mà Hội để lại đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền tảng văn hóa và giáo dục cho xã hội Việt Nam. Việc nghiên cứu về Hội Truyền bá Quốc ngữ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử dân tộc, những nỗ lực của các thế hệ đi trước trong việc nâng cao dân trí và bảo tồn bản sắc văn hóa. Điều này cũng nhắc nhở thế hệ trẻ về trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ và phát triển chữ Quốc ngữ, một phần không thể thiếu trong di sản văn hóa của dân tộc.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu bằng sự ra đời của tờ Đăng cổ Tùng báo, do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút và kết thức vào năm 1917, bằng việc tờ Đông Dương tạp chí đình bản. Công trình Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ (tài liệu hội nghị cải tiến chữ Quốc ngữ tháng 9 năm 1960) do Đặng Thai Mai chủ biên đã nghiên cứu khái quát về sự ra đời của chữ Quốc ngữ; các giai đoạn phát triển và hoàn thiện chữ Quốc ngữ, những đặc điểm của chữ Quốc ngữ và phương án tổ chức cải cách chữ Quốc ngữ của các nhà khoa học. Các bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên báo, tạp chí Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn…, như: “Chữ Quốc ngữ”, “Cách viết tên người, tên đất ra chữ Quốc ngữ”, “Cách viết chữ Quốc ngữ, Chủ nghĩa”…, đã phân tích, lý giải và khẳng định tính ưu việt, sự tiện ích, dễ học, dễ nhớ của chữ Quốc ngữ, đồng thời cổ vũ nhân dân Việt Nam sử dụng chữ Quốc ngữ thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm. Các công trình của Nguyễn Văn Vĩnh có ý nghĩa to lớn cho việc nghiên cứu về quá trình hoàn thiện và phổ biến chữ Quốc ngữ những năm đầu thế kỷ XX.

Các công trình nghiên cứu của Phạm Quỳnh về chữ Quốc ngữ và phổ biến chữ Quốc ngữ, tiêu biểu như: Bài “Khảo về chữ Quốc ngữ”, đăng trên Nam Phong tạp chí, số 122, năm 1917 đã nghiên cứu về sự ra đời, tính chất dễ học, dễ sử dụng và sự phù hợp của chữ Quốc ngữ đối với nhân dân Việt Nam. Đồng thời, kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân nhanh chóng bỏ chữ Hán, chữ Nôm khó học, khó nhớ để học lấy chữ Quốc ngữ nhằm xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí. Tác giả khẳng định, chữ Quốc ngữ chính là phương tiện hữu hiệu và phù hợp để nâng cao dân trí cho nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ. Các tác phẩm Luận giải văn học và triết học (Nxb Văn hóa Thông tin, 2003), Thượng chi văn tập (Nxb Văn học, 2006), Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (Nxb Tri thức, 2007) tác giải đã phân tích và 14 z lý giải nhiều vấn đề, ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó khảo sát về chữ Quốc ngữ, tích cực cổ vũ, tuyên truyền nhân dân Việt Nam sử dụng chữ Quốc ngữ và tiếng Việt.

Công lao của Phạm Quỳnh trong việc phổ biến chữ Quốc ngữ, phát triển Tiếng Việt và xây đắp nền Quốc văn cho dân tộc đã được Dương Quảng Hàm đánh giá cao trong tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu. Năm 2008, công trình Văn trên Nam Phong tạp chí, diện mạo và thành tựu của Nguyễn Đức Thuận đánh giá cao về vai trò của Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong trên lĩnh vực văn hóa và trong sự nghiệp truyền bá chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX. Đồng thời, tác giả khẳng định, Nam Phong tạp chí chí là diễn đàn quan trọng góp phần to lớn vào quá trình phổ biến và hoàn thiện của chữ Quốc ngữ. Nhất là, khi chữ Quốc ngữ đã trở thành phương tiện để các nhà thơ, nhà văn sáng tác mang lại “món ăn” tinh thần cho nhân dân.

Các công trình nghiên cứu mang tính chất văn học – sử, tiêu biểu như: Việt Nam văn học sử yếu, của Dương Quảng Hàm (Nxb Trẻ, 2005), Văn học sử Việt Nam, tác giả Lê Văn Siêu (Nxb Văn học, 2006) trong đó, các tác giả có nghiên cứu khái quát quá trình hình thành của chữ Quốc ngữ và chữ Quốc ngữ từng bước được phổ biến trong đời sống nhân dân, đồng thời đánh giá công lao của một số nhà trí thức trong việc phổ biến chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX. Các tác phẩm Văn thơ yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX 1900- 1930 (Nxb Văn học, 1976), Văn thơ cách mạng 1930 – 1945 (Nxb Văn học, 1980), Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX của Đặng Thai Mai (Nxb Văn học, 1976), Trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam tư tưởng yêu nước, tác giả Trần Văn Giàu (Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1983), Lược truyện các tác giả Việt Nam, của Trần Văn Giáp (Nxb Văn học, 2000), Nhà văn hiện đại, tập 1, 2 của Vũ Ngọc Phan (Nxb Văn học, 2005) đã nghiên cứu phản ánh về đời sống của nhân dân Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp và tình trạng mù chữ phổ biến trong nhân dân nghèo lao động. Có nhiều bài thơ, bài văn khuyên nhân dân theo 15 z học chữ Quốc ngữ để xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí, chống lại chính quyền cai trị giành chính quyền về tay nhân dân. Hơn nữa, các tác phẩm cũng nghiên cứu sơ lược về tiểu sử, quá trình hoạt động của nhiều nhà trí thức trong việc truyền bá, phổ biến chữ Quốc ngữ.

Trong tác phẩm Chuyện nghề của Nguyễn Tuân (Nxb Tác Phẩm mới, 1986) lại nghiên cứu, tìm hiểu về tâm trạng của tầng lớp trí thức nho học xuất phát từ lòng yêu nước, căm thù giặc nên ghét luôn cả chữ Quốc ngữ mà tiêu biểu như nhà thơ Tú Xương. Các công trình của Phan Khôi như: Tác phẩm đăng báo năm 1928 (Nxb Đà Nẵng, 2003), Tác phẩm đăng báo 1929 (Nxb Đà Nẵng, 2005), Tác phẩm đăng báo năm 1930 (Nxb Hội nhà văn Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2005) Tác phẩm đăng báo 1931 (Nxb Hội Văn học, 2007) do Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn. Các công trình nghiên cứu của Phan Khôi đã phản ánh phong phú các mặt trong đời sống xã hội, nên có nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa và chính trị. Trong đó, ông viết nhiều về chữ Quốc ngữ, tiêu biểu như: “Tại sao chúng ta không nên bỏ chữ Quốc ngữ mà phải viết cho đúng”, “Viết chữ Quốc ngữ phải viết đùng”, “Phải viết chữ Quốc ngữ cho đúng, dùng danh từ cho đúng”, “Trả lời một vị độc giả hỏi về chữ Quốc ngữ”, “Lại trả lời cho một bức thơ hỏi về chữ Quốc ngữ”, “Chữ Quốc ngữ ở Nam Kỳ với thế lực của phụ nữ”…đã phân tích sự tiện ích, dễ nhớ, dễ học của chữ Quốc ngữ mà cổ vũ, tuyên truyền nhân dân Việt Nam học ngay lấy chữ Quốc ngữ, viết chữ Quốc ngữ cho thống nhất trong cả nước, đồng thời thẳng thắn phê phán những quan điểm xem nhẹ, coi thường chữ Quốc ngữ và tiếng Việt.

Đầu thế kỷ XX đã nổ ra một cuộc tranh luận về việc có nên hay không nên sử dụng chữ Quốc ngữ, sử dụng như thế nào cho thống nhất, thuận lợi cho giao tiếp được đăng tải trên nhiều tờ báo lúc bấy giờ. Năm 2002, Nhà xuất bản Lao Động đã phát hành công trình Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, do Nguyễn Ngọc Thiện sưu tầm và biên soạn dựa vào những bài viết đã được 16 z đăng tải trên các báo, tạp chí từ năm 1924 đến 1941. Trong tác phẩm Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX là tập hợp các công trình của nhiều tác giả có liên quan đến chữ Quốc ngữ, tiêu biểu như: Nền quốc văn của Ngô Đức Kế, Muốn cho tiếng An Nam giàu của Nguyễn Duy Thanh Vấn đề chữ Quốc ngữ, Vấn đề viết chữ Quốc ngữ cho đúng của báo Phụ nữ Tân văn, Muốn viết chữ Việt Nam cho đúng phải phát âm cho đúng của Lê Vinh Diệu, Vấn đề viết chữ Quốc ngữ của Ngọc Hưởng, Nguồn gốc văn học nước nhà và nền văn học mới của Lê Dư…bàn về các vấn đề thống nhất tiếng nói, chữ viết, cải cách văn tự để tiếng Việt và chữ Quốc ngữ trở thành công cụ cho người Việt Nam biểu hiện tình cảm, tư duy, tư tưởng. Cuộc tranh luận mang lại nhiều giá trị, trong đó khẳng định việc thống nhất tiếng nói và chữ viết, cải cách văn tự để tiếng Việt và chữ Quốc ngữ trở thành lợi khí, công cụ cho người Việt Nam biểu hiện tình cảm, tư duy và tư tưởng.

Họ khẳng định, chữ Quốc ngữ là một thành tựu mới so với chữ Nôm và chữ Hán, cần tiếp tục phổ biến, củng cố vị trí vững chắc của nó trong sự trong sự tồn tại và phát triển của đất nước. Năm 2002, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành công trình Đông Kinh nghĩa thục của Nguyễn Hiến Lê, trong đó tác giả đánh giá Đông Kinh nghĩa thục xem chữ Quốc ngữ là “Hồn trong nước”, là “lợi khí thứ nhất” để mở mang dân trí nên họ đã tuyên truyền, cổ vũ phong trào học và sử dụng chữ Quốc ngữ phát triển mạnh mẽ đầu thế kỷ XX. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày thành lập trường Đông Kinh nghĩa thục, năm 2007, Nhà xuất bản Tri thức đã ấn hành tác phẩm Một trăm năm Đông Kinh nghĩa thục gồm những công trình nghiên cứu về Đông Kinh nghĩa thục của nhiều tác giả. Các công trình này đã bàn thảo và đánh giá về Đông Kinh nghĩa thục ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tựu chung lại đều đánh giá Đông Kinh nghĩa thục như một mô hình giáo dục kiểu mới nhằm khai trí cho dân Việt, để tự cường, phát triển và hi vọng nhờ đó mà giành được độc lập.

17 z Tác phẩm Phong trào Duy tân các khuôn mặt tiêu biểu của Nguyễn Q Thắng (Nxb Văn hóa Thông tin, 2006) nghiên cứu phong trào Duy tân là một cuộc vận động cách mạng dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Phong trào được các nhà trí thức Nho học phát động và lãnh đạo nhằm xóa bỏ chế độ phong kiến thực dân giành lấy chính quyền bằng cách hô hào “chấn dân khí hậu dân sinh”, trong đó họ tổ chức mở lớp dạy chữ Quốc ngữ, xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí. Họ phê phán nền Hán học đề cao chữ Quốc ngữ, xem chữ Quốc ngữ là “hồn thiêng đất nước”, là tinh hoa dân tộc, là kho tàng văn hóa hiện hữu của dân tộc. Năm 2006, Nhà xuất bản Giáo dục phát hành tác phẩm Giáo dục Việt Nam thời cận đại của tác giả Phan Trọng Báu.

Trong tác phẩm đã nghiên cứu sâu sắc về nền giáo dục ở Việt Nam thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, nhất là đề cập đến hai cuộc cải cách giáo dục năm 1906 và 1917. Hai cuộc cải cách giáo dục của người Pháp ở Việt Nam đã tạo điều kiện cho chữ Quốc ngữ ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong trường học. Song song với nền giáo dục của chính quyền cai trị, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đấu tranh trên lĩnh vực giáo dục dẫn đến sự ra đời và phát triển của dòng giáo dục yêu nước và cách mạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về tác động của hội truyền bá quốc ngữ đến xã hội Việt Nam giai đoạn 1938-1945" của tác giả Lê Văn Phong, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Xanh, nghiên cứu sâu về vai trò của Hội Truyền bá Quốc ngữ trong việc phát triển ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Bài viết không chỉ làm rõ những tác động tích cực của hội này đến việc nâng cao nhận thức xã hội mà còn chỉ ra những thách thức mà nó phải đối mặt trong giai đoạn 1938-1945. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin bổ ích về sự chuyển mình của ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ này, từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về lịch sử và văn hóa dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nghiên cứu Ca Dao Dân Ca Đồng Bằng Sông Cửu Long Dưới Góc Nhìn Bối Cảnh, nơi phân tích văn hóa dân gian và ngôn ngữ trong bối cảnh lịch sử tương tự. Bên cạnh đó, Nghiên cứu ngôn từ thơ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954) cũng sẽ cung cấp cái nhìn về ngôn ngữ trong một giai đoạn lịch sử quan trọng khác của Việt Nam. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về thơ trên báo Nhân Dân và Giai phẩm từ góc độ tư duy nghệ thuật, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển của ngôn ngữ và nghệ thuật trong văn hóa Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự phát triển ngôn ngữ và văn hóa trong lịch sử Việt Nam.