Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Hội Truyền bá Quốc ngữ và tác động của nó đến xã hội Việt Nam (1938 – 1945)" do nghiên cứu sinh Lê Văn Phong thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Xanh. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam Cận đại và Hiện đại (Mã số: 62.05).
Về tính cấp thiết, văn bản luận án xác định rõ: Sau nhiều thế kỷ phát triển từ chữ Nôm đến chữ Quốc ngữ, chữ Quốc ngữ đã từng bước khẳng định vị thế. Tuy nhiên, đến những năm 30 của thế kỷ XX, dưới chính sách giáo dục hạn chế của chính quyền thực dân Pháp, hơn 90% dân số Việt Nam rơi vào tình trạng mù chữ. Trước tình hình thất học nghiêm trọng của quần chúng lao động, các trí thức tiến bộ như Nguyễn Văn Tố, Phan Thanh, Bùi Kỷ, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp đã vận động thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ vào năm 1938. Mặc dù tổ chức này có những cống hiến to lớn đối với phong trào nâng cao dân trí và giải phóng dân tộc, các công trình trước đây chỉ mới tiếp cận sơ lược, tản mạn ở một vài khía cạnh mà chưa có một công trình nào khảo cứu toàn diện, hệ thống về quá trình hoạt động cũng như tác động xã hội sâu rộng của Hội. Đây chính là khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là tái hiện bức tranh toàn cảnh, sinh động về sự ra đời, quá trình phát triển của Hội Truyền bá Quốc ngữ (1938 – 1945) và phân tích các chiều cạnh tác động của tổ chức này đối với đời sống xã hội Việt Nam. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, tác giả xác định các nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu khái quát lịch sử hình thành, phát triển của chữ Quốc ngữ cùng các phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ tiền đề (phong trào Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục, báo chí đầu thế kỷ XX).
- Làm rõ hoàn cảnh lịch sử, quá trình vận động và sự thành lập của Hội Truyền bá Quốc ngữ.
- Phân kỳ và phục dựng chi tiết các giai đoạn hoạt động của Hội trên phạm vi toàn quốc (giai đoạn 7/1938 – 9/1940, giai đoạn 10/1940 – 7/1944, giai đoạn 8/1944 – 8/1945).
- Phân tích các yếu tố dẫn đến sự thành công và đánh giá toàn diện những ảnh hưởng, tác động của Hội đối với xã hội Việt Nam thời kỳ 1938 – 1945.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:
- Đối tượng nghiên cứu: Hội Truyền bá Quốc ngữ và tác động của Hội đến xã hội Việt Nam từ năm 1938 đến năm 1945 (bao gồm cả các hoạt động truyền bá kiến thức thường thức và bãi bỏ hủ tục).
- Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ).
- Phạm vi thời gian: Trọng tâm là giai đoạn 1938 – 1945; đồng thời mở rộng nghiên cứu tiến trình lịch sử chữ Quốc ngữ từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX để tạo cơ sở phân tích nền tảng.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các lĩnh vực xóa mù chữ, phổ biến chữ Quốc ngữ, bãi bỏ hủ tục lạc hậu, đóng góp vào phong trào cách mạng 1939 – 1945 và tạo tiền đề cho phong trào Bình dân học vụ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu (Chương 1), tác giả phân loại và đánh giá có hệ thống các nhóm công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài:
Nhóm tác phẩm hồi ký và tư liệu nhân chứng lịch sử:
- Hồi ký Đầu nguồn (Nxb Văn học, 1975) phản ánh chủ trương diệt dốt và phong trào học chữ Quốc ngữ của Bác Hồ từ căn cứ địa Cao Bằng.
- Hồi ký của Trần Huy Liệu (Nxb Khoa học Xã hội, 1991) và Chặng đường nóng bỏng của Hoàng Quốc Việt ghi lại các chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương trong việc phối hợp với giới trí thức thành lập tổ chức xóa nạn mù chữ công khai.
- Hồi ký Thanh Nghị của Vũ Đình Hòe (Nxb Văn học, 2000), Hồi ký của Tô Hoài (Nxb Hội Nhà văn, 2004), Hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Nxb Văn học, 2006) và Tuấn chàng trai nước Việt của Nguyễn Vỹ (Nxb Văn học, 2006) cung cấp tư liệu trực tiếp về tổ chức lớp học, vận động quần chúng, hoạt động của các chi hội (như Nam Định, ngoại thành Hà Nội) và nhận thức xã hội đối với chữ Quốc ngữ.
Nhóm công trình khảo cứu lịch sử chữ Quốc ngữ và phong trào truyền bá văn tự:
- Đỗ Quang Chính với Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659 (Nxb Sài Gòn, 1972) và Nguyễn Khắc Xuyên với bài viết Thưởng thức chữ Quốc ngữ cổ (Tạp chí Xưa và Nay, số 99, 2001) phân tích giai đoạn phôi thai của chữ Quốc ngữ.
- Hoàng Xuân Việt với Tìm hiểu lịch sử chữ Quốc ngữ (Nxb Văn hóa Thông tin, 2007) khảo sát tiến trình chữ Nôm và Quốc ngữ ở Nam Bộ.
- Hoàng Tiến với Chữ Quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20 (Nxb Thanh Niên, 2003) phân tích cuộc vận động cải cách văn tự từ năm 1907 đến 1917.
- Đặng Thai Mai chủ biên công trình Vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ (1960); các bài khảo cứu của Nguyễn Văn Vĩnh trên Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí; bài viết Khảo về chữ Quốc ngữ (Nam Phong tạp chí, số 122, 1917) và Thượng chi văn tập của Phạm Quỳnh; các bài viết nghiên cứu ngôn ngữ của Phan Khôi giai đoạn 1928 – 1931; tập tư liệu Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX do Nguyễn Ngọc Thiện biên soạn (Nxb Lao Động, 2002).
Nhóm công trình lịch sử giáo dục, văn hóa và phong trào tiền đề:
- Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu), Lê Văn Siêu (Văn học sử Việt Nam), Phan Trọng Báu (Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Nxb Giáo dục, 2006).
- Các nghiên cứu về Đông Kinh nghĩa thục của Nguyễn Hiến Lê (2002), tập kỷ yếu Một trăm năm Đông Kinh nghĩa thục (Nxb Tri thức, 2007) và Phong trào Duy tân các khuôn mặt tiêu biểu của Nguyễn Q. Thắng (Nxb Văn hóa Thông tin, 2006).
- Các bài nghiên cứu chuyên đề về Hội trưởng Nguyễn Văn Tố của Đinh Xuân Lâm (Tạp chí Xưa và Nay, số 31, 2008), Hoàng Xuân Hãn (Báo Đại đoàn kết, số 31, 1988); các tập chuyên khảo của Vương Kiêm Toàn và Vũ Lân (Hội Truyền bá Quốc ngữ, một tổ chức công khai của Đảng chống nạn mù chữ 1938 – 1945, Nxb Giáo dục, 1980; Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp chống nạn thất học, nâng cao dân trí, 1986).
Tác giả chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu: Các tài liệu hiện có chủ yếu dừng lại ở mức hồi ức cá nhân hoặc bài báo kỷ niệm mang tính phác thảo; chưa có công trình nào phục dựng một cách toàn diện các giai đoạn phát triển của Hội từ Bắc, Trung vào Nam, cũng như chưa phân tích đầy đủ mối quan hệ giữa phương pháp sư phạm, tác động chính trị - xã hội và vai trò làm tiền đề trực tiếp cho Nha Bình dân học vụ sau năm 1945.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận vấn đề dưới góc độ lịch sử học chuyên ngành kết hợp các phương pháp liên ngành khoa học xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Được sử dụng để tái hiện tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ, bối cảnh ra đời, diễn biến hoạt động của Hội Truyền bá Quốc ngữ theo trình tự thời gian từ năm 1938 đến năm 1945, đặt trong bối cảnh cụ thể của lịch sử dân tộc.
- Phương pháp lôgic: Được áp dụng nhằm phân tích bản chất phong trào, khái quát hóa các quy luật vận động, tìm ra mối liên hệ nhân quả giữa chủ trương chính trị, phương pháp sư phạm và kết quả tác động xã hội.
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng phương pháp đối chiếu - so sánh (so sánh các văn bản từ điển qua các thời kỳ, so sánh phong trào chữ Quốc ngữ thời Duy Tân với thời kỳ 1938 – 1945), phương pháp phân tích văn bản học và thống kê xã hội học đối với các số liệu lớp học, giáo viên, học viên.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Tài liệu lưu trữ gốc: Các nghị định, giấy phép thành lập, điều lệ, nội lệ hoạt động của Hội tại Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ được khai thác tại Thư viện Quốc gia Hà Nội và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.
- Báo chí đương thời: Nguồn tin tức, phóng sự, thông cáo trên các ấn phẩm báo chí giai đoạn 1938 – 1945 như Đông Pháp, Tràng An, Tin Tức, Tri Tân, Thanh Nghị, Điện tín, Gia Định báo, Đăng cổ tùng báo.
- Hồi ký và tài liệu nhân chứng: Các bài viết, ký ức của các nhà lãnh đạo và giáo viên trực tiếp tham gia phong trào (Nguyễn Văn Tố, Vũ Đình Hòe, Hoàng Xuân Hãn, Đặng Thai Mai, Tô Hoài, Phạm Minh Hạc, Vương Kiêm Toàn...).
- Công trình nghiên cứu chuyên khảo: Các ấn phẩm nghiên cứu lịch sử văn hóa, giáo dục và ngôn ngữ được lưu trữ tại Viện Sử học, Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này điểm luận chi tiết tình hình học giới trong và ngoài nước nghiên cứu về chữ Quốc ngữ và Hội Truyền bá Quốc ngữ. Tác giả phân chia hệ thống tài liệu thành các mảng chuyên biệt: nhóm tư liệu hồi ức của các yếu nhân cách mạng và trí thức; nhóm khảo cứu lịch sử ngữ âm và từ điển học; nhóm nghiên cứu về phong trào văn hóa - giáo dục đầu thế kỷ XX.
Từ việc phân tích tổng quan, chương 1 xác lập 7 vấn đề khoa học cần luận án giải quyết sâu sắc:
- Hệ thống hóa các phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ trước năm 1938.
- Phân tích bối cảnh lịch sử dẫn đến sự tất yếu ra đời của Hội.
- Phân kỳ và đánh giá kết quả của từng giai đoạn hoạt động.
- Khảo cứu mạng lưới các chi hội trên toàn quốc.
- Nhận diện các khó khăn, trở ngại từ phía chính quyền thực dân.
- Đánh giá tác động toàn diện trên các mặt dân trí, xã hội, phong trào giải phóng dân tộc và mối liên hệ với Bình dân học vụ.
- Đúc kết các yếu tố quyết định sự thành công của Hội.
Chương 2: Sự ra đời của Hội Truyền bá Quốc ngữ
Chương 2 trình bày tiến trình lịch sử chữ Quốc ngữ từ khi xuất hiện đến trước khi Hội thành lập, chia thành các nội dung chính:
Quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ qua các thế kỷ:
- Thế kỷ XVII: Giai đoạn khởi đầu gắn liền với giáo sĩ Francesco de Pina tại Hội An (1620 – 1622) với 4 công trình La tinh hóa tiếng Việt đầu tiên, tiếp nối bởi Gaspar de Amaral và Antonio Barbosa. Alexandre de Rhodes kế thừa các công trình đi trước để xuất bản cuốn Từ điển Việt - Bồ - La và Phép giảng tám ngày (Rôma, 1651). Tiếng Việt thế kỷ XVII còn các phụ âm ghép cổ như
bl (blời), tl (tlâu), ml (mlớn), mnh (mnhớn) và vần ũ (cũ = cùng), õu (sõu = sống), ão (gião = gióng). Luận án khẳng định vai trò không thể thiếu của người bản xứ (như thanh niên Phêrô, chú bé 13 tuổi giúp việc cho Rhodes).
- Thế kỷ XVIII: Dấu mốc cuốn Từ điển Việt – Latinh (1772) của Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc). Ngôn ngữ mang ảnh hưởng phương ngữ Nam Bộ, loại bỏ các phụ âm cổ
bl, tl, ml, mnh, hình thức chữ viết khoa học và gọn gàng hơn.
- Thế kỷ XIX: Giáo sĩ Taberd xuất bản cuốn Từ điển Annam – Latinh (1838), sắp xếp chữ Nôm theo mẫu tự La tinh và hoàn thiện chính tả gần như chữ Quốc ngữ hiện đại (chỉ còn khác biệt nhỏ ở việc dùng
i thay y như duiên, huình, khuia). Năm 1895, Huỳnh Tịnh Của xuất bản Đại Nam quấc âm tự vị.
Bảng 1: Tiến trình hoàn thiện các bộ từ điển chữ Quốc ngữ tiêu biểu
| Năm xuất bản |
Tác giả |
Tên công trình từ điển |
Đặc điểm ngữ âm / Chữ viết |
| 1651 |
Alexandre de Rhodes |
Từ điển Việt - Bồ - La |
Sử dụng phụ âm ghép cổ (bl, tl, ml, mnh); vần ũ, õu, ão. |
| 1772 |
Pigneau de Béhaine |
Từ điển Việt – Latinh |
Loại bỏ phụ âm cổ; phản ánh phương ngữ Nam Bộ (lanh, lầm). |
| 1838 |
J.L. Taberd |
Từ điển Annam – Latinh |
Khuôn dạng gần như hiện đại; còn một số từ dùng i thay cho y. |
| 1895 |
Huỳnh Tịnh Của |
Đại Nam quấc âm tự vị |
Đặt nền tảng vững chắc cho văn xuôi và ngữ vựng tiếng Việt. |
Những rào cản trên con đường phát triển:
Chữ Quốc ngữ từng bị hạn chế do quan niệm Nho giáo độc tôn chữ Hán, chính sách cấm đạo thời Nguyễn, và sự bài xích mang tính tâm lý của các sĩ phu phong kiến yêu nước (điển hình như nhà thơ Tú Xương ghét thực dân nên ghét luôn chữ Quốc ngữ vì bị dùng trong giới thông ngôn, ký lục).
Các phong trào tiền đề từ đầu thế kỷ XX đến năm 1938:
- Mục đích của Pháp và phản ứng của giới trí thức: Thực dân Pháp dùng chữ Quốc ngữ để bãi bỏ chữ Hán và làm bước chuyển tiếp sang tiếng Pháp (các nghị định năm 1874, 1878, 1879, cải cách giáo dục 1906, 1917). Ngược lại, các nhà yêu nước biến thứ chữ này thành công cụ chống thực dân.
- Phong trào Duy Tân và Đông Kinh nghĩa thục: Phong trào Duy Tân (1906 – 1908) của Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp mở 40 trường học tại Quảng Nam. Đông Kinh nghĩa thục (1907) do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền lãnh đạo đã coi chữ Quốc ngữ là "hồn trong nước", xuất bản Quốc dân độc bản, Văn minh tân học sách, mở lớp cho cả nam và nữ sinh.
- Phong trào cách mạng: Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931) đã mở 851 lớp học chữ Quốc ngữ cho 11.626 người; việc dạy chữ trong nhà tù đế quốc của các chiến sĩ cộng sản.
- Vai trò báo chí: Khởi đầu từ Gia Định báo (1865), tiếp đến Đăng cổ tùng báo (1907), Đông Dương tạp chí (1913), Nam Phong tạp chí (1917).
Sự thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ (1938):
Trước tình hình Mặt trận Dân chủ Đông Dương, các trí thức cấp tiến tại Hà Nội (Nguyễn Văn Tố, Phan Thanh, Bùi Kỷ, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hòe) đã vận động và buộc Thống sứ Bắc Kỳ công nhận Điều lệ thành lập Hội vào tháng 7 năm 1938 với tôn chỉ: dạy đồng bào biết đọc, biết viết tiếng mẹ đẻ để phục vụ đời sống hàng ngày.
Chương 3: Hoạt động của Hội Truyền bá Quốc ngữ (1938 – 1945)
Luận án phục dựng tiến trình hoạt động của Hội qua 3 giai đoạn lịch sử rõ rệt:
Bảng 2: Các giai đoạn phát triển phong trào của Hội Truyền bá Quốc ngữ
| Giai đoạn thời gian |
Địa bàn hoạt động trọng tâm |
Đặc điểm và quy mô hoạt động |
| 7/1938 – 9/1940 |
Thành phố Hà Nội và kinh thành Huế |
Khởi động phong trào, củng cố bộ máy tổ chức, thử nghiệm giáo trình, mở các lớp học đầu tiên cho quần chúng lao động. |
| 10/1940 – 7/1944 |
Các tỉnh miền Bắc và miền Trung |
Mở rộng chi hội về các tỉnh lỵ và vùng nông thôn; đối phó với sự kiểm soát, sách nhiễu của chính quyền thuộc địa. |
| 8/1944 – 8/1945 |
Phạm vi toàn quốc (Bắc, Trung, Nam) |
Phong trào lan rộng cả nước, hòa vào phong trào cứu đói và phong trào giải phóng dân tộc của Mặt trận Việt Minh. |
- Giai đoạn 1 (7/1938 – 9/1940): Hội tập trung xây dựng cơ cấu tổ chức tại Hà Nội và thành lập chi nhánh tại Huế. Ban Trị sự do học giả Nguyễn Văn Tố làm Hội trưởng điều hành. Các lớp học bình dân ban tối bắt đầu được mở tại các trường tư thục, đình chùa, thu hút đông đảo thợ thuyền, người nghèo thành thị.
- Giai đoạn 2 (10/1940 – 7/1944): Phong trào phát triển mạnh về các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ và các tỉnh Trung Kỳ. Mặc dù bị chính quyền thực dân tăng cường theo dõi, làm khó về thủ tục cấp phép mở lớp, Hội vẫn kiên trì duy trì các khóa học sơ học và các lớp cao đẳng người lớn (cung cấp kiến thức vệ sinh, khoa học thường thức).
- Giai đoạn 3 (8/1944 – 8/1945): Hội mở rộng mạng lưới vào Nam Kỳ (thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ Nam Kỳ năm 1944). Hoạt động của Hội gắn kết chặt chẽ với các phong trào cứu tế xã hội (cứu đói đầu năm 1945) và trở thành môi trường tập hợp quần chúng tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945.
Chương 4: Ảnh hưởng của Hội Truyền bá Quốc ngữ đối với xã hội Việt Nam
Chương này đánh giá các nhân tố tạo nên kết quả và phân tích 4 tác động xã hội cốt lõi:
Những yếu tố tạo nên sự thành công:
- Sáng kiến chính trị hợp lòng dân: Đáp ứng đúng nguyện vọng tha thiết muốn thoát mù chữ của đông đảo người lao động nghèo.
- Phẩm chất và uy tín của ban lãnh đạo: Đứng đầu là Hội trưởng Nguyễn Văn Tố (Ứng Hòe), người có uy tín học thuật lớn, đức độ và phương pháp đấu tranh công khai khéo léo với nhà cầm quyền.
- Sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương: Đảng định hướng hoạt động công khai hợp pháp của Hội, đưa cán bộ thâm nhập, biến Hội thành nơi giác ngộ cách mạng cho tầng lớp thanh niên trí thức tiểu tư sản.
- Phương pháp giảng dạy cải tiến (phương pháp vần I – tờ): Công trình nghiên cứu sư phạm của nhóm Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Giáp, Vũ Huy Trác đã đơn giản hóa cách học vần, giúp người lớn tuổi chỉ cần học trong một thời gian ngắn (khoảng vài tháng) là biết đọc, biết viết.
Bốn ảnh hưởng xã hội sâu sắc:
- Phổ biến sâu rộng chữ Quốc ngữ: Đưa chữ Quốc ngữ thành phương tiện văn tự phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân, khẳng định tính đại chúng của ngôn ngữ dân tộc.
- Nâng cao dân trí, bài trừ hủ tục: Xóa mù chữ cho hàng vạn quần chúng, đồng thời truyền bá kiến thức y tế, vệ sinh phòng bệnh, xóa bỏ các thói quen mê tín, hủ tục lạc hậu ở làng quê.
- Đóng góp vào thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945: Trở thành trường học cách mạng giác ngộ thanh niên, học sinh, trí thức; tích cực tham gia phong trào cứu đói và tham gia lực lượng khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám.
- Tạo lập tiền đề trực tiếp cho Nha Bình dân học vụ: Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hội hoàn thành sứ mệnh lịch sử; toàn bộ kinh nghiệm sư phạm, mạng lưới giáo viên và phương pháp giảng dạy được chuyển giao nguyên vẹn cho Nha Bình dân học vụ tiếp tục sự nghiệp diệt giặc dốt.
Kết quả và những đóng góp mới
Dựa trên công bố khoa học của tác giả, luận án mang lại những đóng góp học thuật sau:
- Về mặt lịch sử – tư liệu: Tác giả đã hệ thống hóa và dựng lại một bức tranh toàn cảnh, chân thực về sự hình thành, cơ cấu tổ chức và các giai đoạn hoạt động của Hội Truyền bá Quốc ngữ từ năm 1938 đến 1945 trên cả ba miền đất nước, bù đắp sự thiếu hụt tư liệu của các nghiên cứu trước đây.
- Về mặt nhận thức khoa học: Luận án phân tích sâu sắc các tác động xã hội đa chiều của Hội: không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ xóa nạn mù chữ thuần túy mà còn làm thay đổi nếp sống, bài trừ hủ tục, nâng cao dân trí và đóng góp trực tiếp vào phong trào cách mạng giải phóng dân tộc.
- Làm rõ quá trình phát triển ngôn ngữ: Khảo sát toàn diện tiến trình La tinh hóa tiếng Việt từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, làm rõ vai trò, công sức đóng góp của người bản xứ Việt Nam bên cạnh các giáo sĩ phương Tây.
- Khẳng định tính kế thừa lịch sử: Luận án chứng minh một cách thuyết phục rằng Hội Truyền bá Quốc ngữ chính là tổ chức tiền thân, đặt nền móng toàn diện về tư tưởng, phương pháp và lực lượng cho phong trào Bình dân học vụ sau ngày độc lập năm 1945.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do nguồn tư liệu lịch sử thời kỳ thuộc địa và chiến tranh bị thất lạc, việc thống kê định lượng chi tiết số lượng học viên tại từng chi hội cơ sở vùng nông thôn xa xôi ở Trung Kỳ và Nam Kỳ còn gặp một số rào cản về mặt tài liệu thành văn nguyên bản.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng khảo cứu sâu hơn về hồ sơ lưu trữ địa phương đối với các chi hội cấp tỉnh/huyện ở Nam Bộ và Trung Bộ trong giai đoạn 1944 – 1945; nghiên cứu chuyên sâu về tác động của phong trào đối với sự thay đổi vị thế xã hội của phụ nữ Việt Nam giai đoạn tiền cách mạng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Nghiên cứu sinh, giảng viên chuyên ngành Lịch sử: Cung cấp nguồn sử liệu chi tiết về phong trào văn hóa – giáo dục hợp pháp thời kỳ 1938 – 1945, lịch sử hình thành chữ Quốc ngữ và phong trào vận động trí thức của Đảng Cộng sản Đông Dương.
- Nhà nghiên cứu văn hóa học, giáo dục học và ngôn ngữ học: Cung cấp tư liệu thực tiễn về phương pháp sư phạm bình dân (phương pháp dạy vần I – tờ), bài học về vận động quần chúng xóa mù chữ và lịch sử báo chí Quốc ngữ đầu thế kỷ XX.
- Cơ quan quản lý và làm chính sách giáo dục: Cung cấp các bài học kinh nghiệm lịch sử trong việc phát động phong trào toàn dân học tập, xây dựng xã hội học tập và gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt.
Câu hỏi thường gặp
1. Ai là những trí thức chủ chốt tham gia sáng lập Hội Truyền bá Quốc ngữ vào năm 1938?
Các nhân sĩ, trí thức tham gia thảo luận và đứng ra vận động thành lập Hội gồm có: Nguyễn Văn Tố (Hội trưởng), Phan Thanh, Bùi Kỷ, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp và Vũ Đình Hòe.
2. Tiếng Việt trong cuốn Từ điển Việt - Bồ - La (1651) của Alexandre de Rhodes có những phụ âm ghép cổ nào mà ngày nay không còn dùng?
Văn bản luận án nêu rõ vào thế kỷ XVII xuất hiện các phụ âm ghép cổ như bl (viết chúa blời, blang sách thay cho tr), tl (viết con tlâu, tlứng gà thay cho tr), ml (viết mlẽ, mlớn thay cho l) và mnh (mnhớn thay cho nh).
3. Phương pháp dạy chữ Quốc ngữ nổi tiếng do Hội áp dụng là gì và do ai sáng chế?
Đó là phương pháp dạy học theo vần "I – tờ", do nhóm trí thức gồm Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Giáp và Vũ Huy Trác nghiên cứu, biên soạn để phù hợp với đối tượng học viên là người lớn tuổi lao động.
4. Mối quan hệ mang tính lịch sử giữa Hội Truyền bá Quốc ngữ và phong trào Bình dân học vụ sau năm 1945 là gì?
Hội Truyền bá Quốc ngữ là tổ chức tiền thân trực tiếp của Nha Bình dân học vụ; Hội đã để lại ý tưởng, phương pháp sư phạm, giáo trình và đội ngũ giáo viên nòng cốt để chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục thực hiện công cuộc xóa nạn mù chữ sau Cách mạng Tháng Tám.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Văn Phong là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo, phục dựng hệ thống và toàn diện về Hội Truyền bá Quốc ngữ từ năm 1938 đến năm 1945. Bằng nguồn tư liệu lưu trữ và phương pháp nghiên cứu lịch sử - lôgic chặt chẽ, luận án đã làm sáng tỏ quá trình phát triển của chữ Quốc ngữ, các giai đoạn hoạt động của Hội và các yếu tố quyết định sự thành công của phong trào. Công trình khẳng định vai trò to lớn của Hội trong việc nâng cao dân trí, xóa bỏ hủ tục, đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và đặt nền móng trực tiếp cho phong trào Bình dân học vụ của nước Việt Nam mới.