Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62 22 03 13) với đề tài "Giáo dục cách mạng ở vùng Đông Nam Bộ (1945 - 1975)" do nghiên cứu sinh Huỳnh Hồng Hạnh thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Ngô Minh Oanh và TS. Phạm Phúc Vĩnh.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giáo dục là lĩnh vực luôn được quan tâm hàng đầu trong lịch sử dân tộc. Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu", ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và Chính phủ lâm thời đã xác định chống nạn mù chữ và xây dựng nền giáo dục mới là một trong những nhiệm vụ ưu tiên cấp bách. Trong suốt 30 năm chiến tranh (1945 - 1975), Đông Nam Bộ là chiến trường ác liệt, vừa đóng vai trò căn cứ địa kháng chiến (Chiến khu Đ, Chiến khu Dương Minh Châu, Chiến khu Long Nguyên...), vừa là nơi diễn ra nhiều thắng lợi quân sự quan trọng (như chiến dịch Bến Cát năm 1950, trận tiến công đồn bót ở Gia Ninh năm 1954...). Trong hoàn cảnh đó, chính quyền và lực lượng cách mạng đã duy trì, xây dựng một hệ thống giáo dục phù hợp với thực tiễn thời chiến nhằm nâng cao dân trí, đào tạo cán bộ, chiến sĩ phục vụ chiến đấu và chuẩn bị lực lượng tiếp quản sau ngày thống nhất.

Dù đã có các công trình nghiên cứu về giáo dục thời kỳ kháng chiến ở Nam Bộ và miền Nam, nhưng các tài liệu hiện có chủ yếu dừng lại ở mức độ bao quát chung toàn miền hoặc phản ánh các sự kiện riêng lẻ ở từng địa phương. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có công trình nào phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống bức tranh giáo dục cách mạng dưới góc nhìn liên kết vùng Đông Nam Bộ trong toàn bộ giai đoạn 1945 - 1975.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Tái hiện có hệ thống quá trình xây dựng và phát triển của giáo dục cách mạng ở vùng Đông Nam Bộ từ năm 1945 đến năm 1975; nhận xét, đánh giá về đặc điểm, vị trí, vai trò và đóng góp của nền giáo dục này.
  2. Làm rõ các khía cạnh tổ chức và hoạt động của giáo dục cách mạng Đông Nam Bộ trong chiến tranh, bao gồm: công tác quản lý, mô hình trường lớp, phương thức dạy học, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và tài liệu giảng dạy.
  3. Rút ra các đặc điểm và bài học lịch sử từ thực tiễn giáo dục cách mạng ở Đông Nam Bộ thời kỳ 1945 - 1975 nhằm làm cơ sở tham khảo cho sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm:

  1. Khảo sát hệ thống giáo dục và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý giáo dục cách mạng qua các thời kỳ.
  2. Làm rõ công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; việc biên soạn chương trình, sách giáo khoa; quá trình xây dựng trường lớp và phương pháp tổ chức dạy học.
  3. Tái hiện phong trào Bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ, bổ túc văn hóa và giáo dục phổ thông (trọng tâm là cấp I).
  4. Phân tích, đánh giá vị trí, vai trò và tác động của giáo dục cách mạng đối với công cuộc kháng chiến tại vùng Đông Nam Bộ.
  5. Đánh giá kết quả của giáo dục cách mạng về quy mô, chất lượng đào tạo và những đóng góp cụ thể từ năm 1945 đến năm 1975.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Lịch sử giáo dục cách mạng ở vùng Đông Nam Bộ từ năm 1945 đến năm 1975, tập trung vào đường lối, chủ trương, tổ chức bộ máy quản lý, đội ngũ giáo viên, hệ thống trường lớp, chương trình và hoạt động dạy - học trong điều kiện chiến tranh.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 9/1945 (thời điểm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phát động phong trào diệt giặc dốt) đến tháng 4/1975 (kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước).
  • Phạm vi không gian: Vùng giải phóng và các căn cứ kháng chiến thuộc khu vực Đông Nam Bộ. Luận án theo sát các biến động địa giới hành chính qua hai thời kỳ:
    • Giai đoạn 1945 - 1954: Địa bàn bao gồm các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An và thành phố Sài Gòn; từ tháng 5/1951 sáp nhập thành các tỉnh Gia Ninh và Thủ Biên thuộc Phân liên khu miền Đông.
    • Giai đoạn 1954 - 1975: Địa bàn tương ứng với các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Long Khánh, Phước Long - Bình Long (Bình Phước), Tây Ninh, Bình Dương, Long An (tới Hậu Nghĩa), Phước Tuy và Đặc khu Sài Gòn - Gia Định (giai đoạn 1959 - 1965 có tỉnh Phước Thành; giai đoạn 1973 - 1975 có tỉnh Bình Phước và Tân Phú).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các loại hình giáo dục: Bình dân học vụ, xóa mù chữ, bổ túc văn hóa và giáo dục phổ thông (chủ yếu là cấp I), gắn liền với yêu cầu phục vụ kháng chiến.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Chương 1 của luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây theo 3 nhóm chính:

                  CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIỀN ĐỀ
[Nhóm 1: Giáo dục Việt Nam]  [Nhóm 2: Giáo dục miền Nam &] [Nhóm 3: Địa phương & Ban]
- Vương Kiêm Toàn, Vũ Lân     Nam Bộ (1945 - 1975)]         Tuyên giáo tại Đông Nam Bộ]
  (1980)                     - Trần Thanh Nam (1995)       - Hồ Thiệu Hùng (1998)
- Vũ Ngọc Khánh (1985)       - Nhiều tác giả (2002)        - Trần Văn Giàu, Trần
- Bộ GD&ĐT (1995)            - Nguyễn Tấn Phát (2004)        Bạch Đằng (1998)
- Đỗ Thị Nguyệt Quang (1996) - Ban LL Tiểu ban GD R        - Hồ Hữu Nhựt (1999)
- Lê Văn Giạng (2003)          (2005)                      - Sở GD&ĐT Bình Dương (2004)
- Nguyễn Q. Thắng (2005)     - Nguyễn Quốc Bảo, Phạm       - Nguyễn Văn Hiệp, Phạm
- Ngô Đăng Tri (2008)          Thanh Liêm (2012)             Văn Thịnh (2014)
- Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn   - Tọa đàm khoa học Sở GD      - Địa chí: Long An, Đồng Nai,
  Khánh Toàn, Võ Thuần Nho,    Nam Bộ (2017)                 Bình Phước
  Phạm Minh Hạc, Trần Hồng   - Đặng Thị Minh Phượng        - Lịch sử Tuyên giáo: Bà Rịa -
  Quân, Nguyễn Quang Kính,     (2018)                        Vũng Tàu, Biên Hòa, Long An,
  Phạm Tất Dong              - Đỗ Văn Biên (2019)           Bình Phước, Bình Dương

1. Các công trình nghiên cứu chung về giáo dục Việt Nam

Nhóm này bao gồm các ấn phẩm như Hội Truyền bá quốc ngữ (1938 - 1945) của Vương Kiêm Toàn và Vũ Lân (1980); Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước 1945 của Vũ Ngọc Khánh (1985); đề tài cấp Bộ Lịch sử cơ quan Bộ Giáo dục - Đào tạo 1945 - 1995 (1995); luận án Phó Tiến sĩ của Đỗ Thị Nguyệt Quang (1996); Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam của Lê Văn Giạng (2003); Khoa cử và giáo dục Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng (2005); Giáo dục ở Việt Nam thời kỳ 1945 - 1954 của Ngô Đăng Tri (2008). Ngoài ra còn có các chuyên khảo của Nguyễn Văn Huyên (1961), Nguyễn Khánh Toàn (1965, 1991), Võ Thuần Nho (1990), Phạm Minh Hạc (1990, 1992), Trần Hồng Quân (1995), Nguyễn Quang Kính (2005), Phạm Tất Dong (2010). Các công trình này cung cấp bức tranh khái quát về đường lối, chính sách giáo dục trên phạm vi toàn quốc nhưng ít đi sâu vào thực tế vùng Đông Nam Bộ.

2. Các công trình về giáo dục cách mạng ở miền Nam và Nam Bộ (1945 - 1975)

Bao gồm: Sơ thảo 30 năm giáo dục miền Nam (1945 - 1975) do Trần Thanh Nam chủ biên (1995); Giáo dục Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) (2002); Giáo dục cách mạng ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1975. Những kinh nghiệm và bài học lịch sử của Nguyễn Tấn Phát (2004); Tiểu ban Giáo dục R một thời để nhớ (2005); Giáo dục giải phóng thời kỳ chống Mỹ cứu nước của Nguyễn Quốc Bảo và Phạm Thanh Liêm (2012); bài viết của Trần Thanh Nguyện (2016); kỷ yếu Tọa đàm khoa học “Chín năm xây dựng nền giáo dục kháng chiến ở Nam Bộ - Thành quả và kinh nghiệm (1945 - 1954)” (2017) với các tham luận của Võ Anh Tuấn, Vũ Quang Đạo, Nguyễn Đức Nhuệ, Lê Hữu Phước, Trần Văn An, Nguyễn Trọng Xuất, Nguyễn Thị Liễu, Ngô Minh Oanh, Phạm Phúc Vĩnh; bài báo của Đặng Thị Minh Phượng (2018); chuyên khảo của Đỗ Văn Biên về Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam (2019). Đây là nguồn tư liệu phản ánh chân thực các hoạt động chuyên môn, chương trình, sách giáo khoa và tổ chức bộ máy giáo dục kháng chiến.

3. Các công trình nghiên cứu về địa phương ở Nam Bộ

Nhóm này tập trung vào các nghiên cứu cấp tỉnh, thành phố: Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh 50 năm đấu tranh xây dựng và phát triển 1945 - 1995 của Sở GD&ĐT TP.HCM (1998); Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (Tập 2) do Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng chủ biên (1998); Biên Hòa - 300 năm hình thành và phát triển (1998); Lịch sử giáo dục Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh (1698 - 1998) của Hồ Hữu Nhựt (1999); Lịch sử giáo dục Bình Dương (từ đầu thế kỷ XX đến 2003) (2004); các nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiệp và Phạm Văn Thịnh (2014) trên Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một và Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử; các bộ Địa chí Long An (1990), Địa chí Đồng Nai (2001), Địa chí Bình Phước; cùng hệ thống sách lịch sử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Long An, Bình Phước, Bình Dương.

Vị trí và vấn đề luận án giải quyết

Kế thừa các cứ liệu từ những công trình trên, luận án định vị vai trò giải quyết các vấn đề còn bỏ ngỏ:

  • Phân tích bối cảnh lịch sử xác định sự cần thiết phải triển khai giáo dục cách mạng tại Đông Nam Bộ trong chiến tranh (1945 - 1975).
  • Tái hiện toàn diện, liên tục quá trình xây dựng, chuyển đổi tổ chức của bộ máy quản lý giáo dục cách mạng ở vùng Đông Nam Bộ qua hai giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
  • Phân tích các phương thức tổ chức trường lớp, đào tạo giáo viên, biên soạn tài liệu dạy học thích ứng với điều kiện chiến trường.
  • Đánh giá vai trò, thành tựu, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử của giáo dục cách mạng Đông Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận

  • Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, giáo dục và vai trò của quần chúng nhân dân; quán triệt các quan điểm, đường lối kháng chiến và đường lối giáo dục của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Cách tiếp cận: Luận án tiếp cận vấn đề theo quan điểm lịch sử vùng (khu vực học), xem xét Đông Nam Bộ như một chỉnh thể địa - lịch sử, địa - chính trị gắn liền với không gian chiến trường Nam Bộ và cả nước.
  • Nội hàm khái niệm:
    • Giáo dục cách mạng: Quá trình giáo dục gắn liền với yêu cầu giải phóng dân tộc, do chính quyền cách mạng tổ chức và chỉ đạo. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở việc dạy chữ Quốc ngữ và truyền bá kiến thức khoa học thường thức, mà quan trọng hơn là nâng cao giác ngộ chính trị, trang bị cho người học năng lực tham gia tổ chức, vận động và chiến đấu bảo vệ căn cứ cách mạng theo phương châm "Đi học là kháng chiến, mỗi lớp học là một tổ tuyên truyền kháng chiến".
    • Vùng giải phóng: Vùng lãnh thổ và dân cư do lực lượng kháng chiến kiểm soát, thành lập chính quyền cách mạng để quản lý công khai đời sống xã hội. Do tính chất chiến tranh khốc liệt, vùng giải phóng không có ranh giới hành chính cố định mà đan xen, thay đổi theo tương quan lực lượng quân sự.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử chuyên ngành kết hợp các phương pháp liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình hình thành, phát triển của hệ thống giáo dục cách mạng Đông Nam Bộ qua hai giai đoạn lịch sử kế tiếp nhau (1945 - 1954 và 1954 - 1975), bảo đảm tính tuần tự và bối cảnh cụ thể của từng thời điểm.
  • Phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp tư liệu để rút ra bản chất, đặc điểm quy luật, sự chuyển biến của hệ thống giáo dục và các bài học lịch sử.
  • Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích văn bản, phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu và thẩm định độ tin cậy của các nguồn sử liệu.
  • Phương pháp lịch sử truyền khẩu: Phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng lịch sử nguyên là cán bộ phụ trách Ty Giáo dục, Ban Tuyên huấn, Tiểu ban Giáo dục R và các nhà giáo từng giảng dạy tại chiến khu.

Nguồn tư liệu sử dụng

  • Tài liệu lưu trữ: Khai thác các báo cáo, nghị quyết, chỉ thị, công văn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh) và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (Hà Nội), tiêu biểu là Phông Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ (UBKCHCNB), Phông Phủ Thủ tướng, và hồ sơ văn bản của Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa (1954 - 1963).
  • Tài liệu xuất bản: Các tập Văn kiện Đảng, tác phẩm của Hồ Chí Minh, các tập kỷ yếu hội thảo, hồi ký của các nhà giáo và cán bộ kháng chiến.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước theo 3 cấp độ: toàn quốc, miền Nam/Nam Bộ và địa phương từng tỉnh ở Đông Nam Bộ. Tác giả chỉ ra rằng các công trình hiện có đã cung cấp nhiều sự kiện, cứ liệu quý về truyền thống diệt giặc dốt và phong trào giáo dục thời chiến, nhưng phần lớn mang tính chất ghi chép hồi ức hoặc nghiên cứu cục bộ. Luận án xác lập sự cần thiết của việc nghiên cứu giáo dục cách mạng Đông Nam Bộ như một hệ thống liên hoàn, làm rõ tính đặc thù của vùng căn cứ đầu não kháng chiến ở Nam Bộ.

Chương 2: Giáo dục cách mạng ở vùng Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)

Chương này tái hiện bức tranh giáo dục từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi Hiệp định Genève được ký kết (1954):

  • Tình hình giáo dục trước năm 1945: Dưới ách cai trị của thực dân Pháp, mạng lưới trường học ở Đông Nam Bộ rất hạn chế nhằm duy trì chính sách ngu dân.

    • Tại Biên Hòa năm 1901: toàn tỉnh có 102.941 dân nhưng chỉ có 1 trường tiểu học tỉnh lỵ (182 học sinh) và 4 trường tổng (196 học sinh), tính bình quân 272 người dân mới có 1 học sinh. Đến năm 1936, toàn tỉnh vẫn chỉ có 4 trường tiểu học, không có trường cấp II.
    • Tại Thủ Dầu Một năm 1915: dân số 110.800 người nhưng chỉ có 1 trường tỉnh và 10 trường tổng.
    • Tại Bà Rịa năm 1930: chỉ có 3 trường tiểu học với 22 lớp học và 1.025 học sinh.
    • Cuối năm 1944, phong trào Truyền bá quốc ngữ lan rộng đến Sài Gòn, Thủ Dầu Một, Biên Hòa với các lớp học ban đêm, đặt nền móng phong trào dạy chữ cho người lao động.
  • Bối cảnh và đường lối (1945 - 1954): Sau Cách mạng tháng Tám, trên 90% dân số mù chữ. Ngày 23/9/1945, Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Chính quyền cách mạng thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: kháng chiến và diệt giặc dốt.

    • Các sắc lệnh nền tảng của Chính phủ ban hành ngày 8/9/1945: Sắc lệnh 17/SL (thành lập Nha Bình dân học vụ), Sắc lệnh 19/SL (quy định mở lớp học ở các làng, xã trong 6 tháng), Sắc lệnh 20/SL (quy định học chữ Quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền).
    • Sắc lệnh 146/SL và 147/SL (ngày 10/8/1946) xác định 3 nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới: Dân tộc hóa, Khoa học hóa, Đại chúng hóa, khẳng định giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt ở mọi bậc học.
  • Bộ máy quản lý giáo dục:

    • Tháng 8/1947, UBKCHCNB thành lập Sở Giáo dục Nam Bộ và Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ do các trí thức phụ trách như Lê Văn Chí, Nguyễn Văn Chì, Đặng Minh Trứ, TS. Lê Văn Thiêm, GS. Hoàng Xuân Nhị.
    • Tháng 8/1948, theo Nghị định số 191/NĐ-NB, các Ban Giáo dục đổi tên thành Ty Giáo dục tại Thủ Dầu Một (Trưởng ty Phạm Văn Trình), Biên Hòa (Trưởng ty Hoàng Minh Viễn), Bà Rịa (Trưởng ty Nguyễn Thành Long), Tây Ninh (Trưởng ty Sáu Điều), Tân An. Ty Giáo dục cơ cấu các bộ phận: Phòng Tiểu học vụ, Trung học vụ, Bình dân học vụ, Ban Tu thư, Ban Ấn loát.
    • Tháng 5/1951, Phân liên khu miền Đông được thành lập (sáp nhập thành tỉnh Thủ Biên, Gia Ninh...). Ty Giáo dục chuyển đổi thành Tiểu ban Huấn giáo thuộc ngành Tuyên huấn.
                    SỞ GIÁO DỤC NAM BỘ (8/1947) / NHA GIÁO DỤC NAM BỘ (12/1949)
[Ty GD Biên Hòa]   [Ty GD Thủ Dầu Một]    [Ty GD Bà Rịa]      [Ty GD Tây Ninh]       [Ty GD Tân An]
(Hoàng Minh Viễn)   (Phạm Văn Trình)    (Nguyễn Thành Long)     (Sáu Điều)
                                    [CÁC PHÒNG CHUYÊN MÔN]
                                    - Phòng Tiểu học vụ
                                    - Phòng Trung học vụ
                                    - Phòng Bình dân học vụ
                                    - Ban Tu thư / Ban Ấn loát
                                    [PHÒNG GIÁO DỤC CẤP HUYỆN]
                                  [CÁN BỘ PHỤ TRÁCH GIÁO DỤC XÃ]
  • Đội ngũ giáo viên, chương trình và phong trào Bình dân học vụ:
    • Vận dụng phương châm xã hội hóa: "Mỗi người biết chữ là một giáo viên bình dân học vụ", vận động người trong nhà dạy lẫn nhau. Ban Giáo dục điều động giáo viên tiểu học kháng chiến từ vùng tạm chiếm ra vùng giải phóng (các thầy Tống Văn Phụng, Tống Hòa Việt, Tô Bá Hùng, Mai Văn Tươi...).
    • Biên soạn sách Vần Quốc ngữ, sách bổ túc, tổ chức các lớp học dã chiến trong rừng Chiến khu Đ, Thuận An Hòa, Trà Vong.
Danh mục bảng số liệu giai đoạn 1945 - 1954 trong luận án Nội dung dữ liệu phản ánh
Bảng 2.1 & Bảng 2.2 Số giáo viên lớp sơ cấp và dự bị được huấn luyện ở các tỉnh Nam Bộ
Bảng 2.3 So sánh tỷ lệ người biết chữ ở các tỉnh Đông Nam Bộ (1949 - 1950)
Bảng 2.4 Số lớp, số học viên ở các tỉnh Đông Nam Bộ (1949 - 1950)
Bảng 2.5 Tình hình tiểu học vụ ở các tỉnh Đông Nam Bộ (1948)

Chương 3: Giáo dục cách mạng ở vùng Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)

Chương 3 trình bày sự phát triển của giáo dục giải phóng trong bối cảnh chiến tranh ác liệt hơn:

  • Bối cảnh lịch sử và đường lối: Sau năm 1954, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách "tố Cộng, diệt Cộng", chia cắt đất nước. Sau phong trào Đồng khởi (1960) và sự thành lập Trung ương Cục miền Nam (1961), Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chủ trương xây dựng nền giáo dục dân tộc dân chủ tại vùng giải phóng.
  • Tổ chức bộ máy:
    • Thành lập Tiểu ban Giáo dục miền Nam (ký hiệu B3 hoặc Tiểu ban Giáo dục R) trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam.
    • Ở các khu, tỉnh thuộc Đông Nam Bộ, hệ thống Tiểu ban Giáo dục được kiện toàn, phối hợp chỉ đạo phong trào dạy học tại chỗ.
  • Đào tạo giáo viên và biên soạn giáo trình: Mở các trường sư phạm trung cấp, sơ cấp tại chiến khu để đào tạo giáo viên phục vụ vùng giải phóng; tổ chức biên soạn và in ấn sách giáo khoa phổ thông hệ giải phóng.
  • Hoạt động dạy - học vùng giải phóng:
    • Xây dựng mạng lưới trường lớp dã chiến: lớp học dưới hầm chữ A, giao thông hào, lớp học di động phân tán tránh bom đạn.
    • Duy trì các lớp xóa mù chữ, bổ túc văn hóa cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; mở các trường tiểu học cho con em vùng căn cứ.
Danh mục bảng số liệu giai đoạn 1954 - 1975 trong luận án Nội dung dữ liệu phản ánh
Bảng 3.1 Số trường, lớp, học sinh và giáo viên ở một số tỉnh Đông Nam Bộ (1972 - 1973)
Bảng 3.2 Số học sinh phổ thông cụ thể của một số tỉnh Đông Nam Bộ (1974 - 1975)

Chương 4: Nhận xét, đánh giá về giáo dục cách mạng ở vùng Đông Nam Bộ (1945 - 1975)

Chương 4 tổng kết các đặc điểm, thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm:

  • Các đặc điểm và thành tựu cơ bản:

    1. Duy trì liên tục trong chiến tranh: Dù trải qua các đợt càn quét, ném bom, phong trào học tập tại Đông Nam Bộ vẫn bám đất, bám dân để tồn tại và phát triển.
    2. Hình thức trường lớp phong phú: Tổ chức linh hoạt các lớp học gia đình, lớp học ca đêm, lớp học tại nương rẫy, lớp học hầm hào trong chiến khu.
    3. Phát huy tinh thần tự lực, tự cường: Tự túc sản xuất bảng đen, phấn viết, mực in từ nguyên liệu thiên nhiên rừng rậm; tự in ấn giáo trình.
    4. Đào tạo nhân lực tại chỗ: Bồi dưỡng văn hóa và lý luận chính trị cho hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ, bổ sung nhân lực cho bộ máy kháng chiến.
    5. Đội ngũ nhà giáo kiên trung: Các thầy cô giáo vừa làm nhiệm vụ giảng dạy, vừa trực tiếp cầm súng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh bảo vệ trường lớp và học sinh.
    6. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân: Thu hút mọi tầng lớp đồng bào, đồng bào các dân tộc thiểu số và công nhân cao su tham gia phong trào học tập.
  • Hạn chế:

    • Do chiến tranh chia cắt và bom đạn khốc liệt, mạng lưới trường lớp thiếu ổn định, thường xuyên phải sơ tán, di dời.
    • Cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học và sách vở thiếu thốn nghiêm trọng.
    • Trình độ học vấn và chuyên môn sư phạm của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, chủ yếu đào tạo cấp tốc.
    • Quy mô giáo dục chủ yếu dừng lại ở bậc sơ học, tiểu học (cấp I) và xóa mù chữ; giáo dục cấp II, cấp III mở được rất ít do điều kiện thời chiến.
  • Một số bài học kinh nghiệm:

    • Bài học 1: Luôn bám sát và vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối, chủ trương giáo dục của Đảng vào tình hình thực tiễn địa phương.
    • Bài học 2: Chú trọng xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tâm huyết và gắn bó mật thiết với nhân dân.
    • Bài học 3: Xây dựng nội dung chương trình, sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy thiết thực, gắn lý thuyết với thực hành và phục vụ trực tiếp nhiệm vụ chính trị - xã hội của đất nước.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt khoa học và nhận thức lịch sử: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên phục dựng một cách toàn diện, hệ thống và khách quan toàn bộ tiến trình lịch sử xây dựng và phát triển của giáo dục cách mạng ở vùng Đông Nam Bộ trong suốt 30 năm chiến tranh (1945 - 1975). Luận án làm rõ tính liên tục và sự chuyển đổi tổ chức của mạng lưới giáo dục từ cấp Nam Bộ xuống các tỉnh, huyện, xã ở miền Đông qua từng giai đoạn.
  2. Về nguồn sử liệu: Luận án khai thác và công bố nhiều nguồn tài liệu lưu trữ có giá trị lịch sử cao tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II và III (đặc biệt là hồ sơ phông UBKCHCNB và các tài liệu của chính quyền Sài Gòn), kết hợp phỏng vấn sâu các nhân chứng lịch sử nguyên là cán bộ Ty Giáo dục, Tiểu ban Giáo dục R và giáo viên trực tiếp giảng dạy tại chiến khu Đông Nam Bộ.
  3. Về mặt thực tiễn: Luận án tổng kết các đặc trưng, ưu điểm, hạn chế và đúc kết 3 bài học lịch sử có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản lý, đào tạo giáo viên và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục ở vùng Đông Nam Bộ cũng như cả nước hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt kéo dài, nhiều tài liệu, báo cáo gốc của các cơ sở giáo dục vùng căn cứ Đông Nam Bộ bị thất lạc, tiêu hủy hoặc không lưu trữ trọn vẹn. Số liệu thống kê ở một số năm (nhất là giai đoạn chuyển biến 1954 - 1960) không đồng bộ và thiếu tính liên tục ở một số phân vùng địa bàn nhỏ. Nội dung khảo sát của luận án chủ yếu tập trung vào giáo dục cấp I, xóa mù chữ và bình dân học vụ, chưa thể phân tích sâu về các bậc học cao hơn do điều kiện lịch sử thời chiến không cho phép phát triển rộng rãi.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng việc sưu tầm, giải mật các nguồn tư liệu lưu trữ bổ sung từ các cơ quan Trung ương và quốc tế; đẩy mạnh phỏng vấn các thế hệ học sinh vùng giải phóng; tiến hành các nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa hệ thống giáo dục cách mạng vùng căn cứ với phong trào giáo dục đô thị yêu nước tại Sài Gòn - Chợ Lớn và vùng tạm chiếm Đông Nam Bộ giai đoạn 1954 - 1975.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Luận án cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử, số liệu thực chứng và cơ cấu tổ chức bộ máy giáo dục kháng chiến, là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho việc giảng dạy và nghiên cứu Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Giáo dục Việt Nam và Lịch sử địa phương vùng Đông Nam Bộ.
  • Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách giáo dục: Cung cấp bài học kinh nghiệm lịch sử về phương thức xã hội hóa giáo dục, huy động sức mạnh toàn dân tham gia sự nghiệp giáo dục, xây dựng đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ nhà giáo, cùng cách thức tổ chức dạy học linh hoạt, thích ứng với hoàn cảnh khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu bộ máy quản lý giáo dục cách mạng ở Đông Nam Bộ thời kỳ 1945 - 1954 được tổ chức như thế nào?

Tháng 8/1947, UBKCHCNB thành lập Sở Giáo dục Nam Bộ và Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ. Tháng 8/1948, các Ban Giáo dục cấp tỉnh đổi tên thành Ty Giáo dục (Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, Tây Ninh, Tân An) với các bộ phận: Phòng Tiểu học vụ, Trung học vụ, Bình dân học vụ, Ban Tu thư, Ban Ấn loát. Cấp huyện có Phòng Giáo dục và cấp xã có cán bộ chuyên trách giáo dục. Đến tháng 5/1951, khi thành lập Phân liên khu miền Đông, các Ty Giáo dục chuyển thành Tiểu ban Huấn giáo trực thuộc ngành Tuyên huấn.

2. Ba nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới được quy định trong Sắc lệnh số 146/SL (10/8/1946) là gì?

Sắc lệnh 146/SL xác định 3 nguyên tắc nền tảng:

  • Dân tộc hóa: Giáo dục lịch sử dân tộc, hun đúc tinh thần yêu nước, tin vào sức mạnh và truyền thống cách mạng của dân tộc.
  • Khoa học hóa: Phương châm học đi đôi với hành, gắn giáo dục với đời sống thực tiễn và sản xuất của nhân dân.
  • Đại chúng hóa: Phổ cập học vấn cho mọi tầng lớp quần chúng từ thấp đến cao, đưa tri thức khoa học đến phục vụ đời sống nhân dân lao động.

3. Khái niệm "Giáo dục cách mạng" trong luận án được xác định với nội hàm như thế nào?

Giáo dục cách mạng là quá trình giáo dục gắn liền với yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nội hàm bao gồm việc tổ chức phong trào Bình dân học vụ, xóa mù chữ, bổ túc văn hóa và giáo dục phổ thông (trọng tâm là cấp I) nhằm nâng cao trình độ văn hóa, đồng thời trang bị giác ngộ chính trị, đào tạo cán bộ, chiến sĩ có phẩm chất đạo đức phục vụ trực tiếp cho kháng chiến và xây dựng vùng giải phóng.

4. Những khó khăn, hạn chế lớn nhất của giáo dục cách mạng Đông Nam Bộ trong chiến tranh là gì?

Hạn chế lớn nhất là trường lớp thường xuyên bị xáo trộn, phân tán do bom đạn và càn quét của địch; thiếu thốn cơ sở vật chất, sách giáo khoa và đồ dùng dạy học; trình độ đội ngũ giáo viên không đồng đều do đào tạo cấp tốc; quy mô phát triển chủ yếu giới hạn ở cấp tiểu học (cấp I) và xóa mù chữ, các cấp học cao hơn chưa có điều kiện mở rộng.

5. Sự thay đổi về tổ chức bộ máy giáo dục cách mạng Đông Nam Bộ sau năm 1954 diễn ra ra sao?

Sau Hiệp định Genève 1954, phong trào giáo dục tạm lắng do địch khủng bố. Sau phong trào Đồng khởi (1960) và sự ra đời của Trung ương Cục miền Nam (1961), Tiểu ban Giáo dục miền Nam (Tiểu ban Giáo dục R / B3) được thành lập trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục. Hệ thống Tiểu ban Giáo dục cấp khu, tỉnh, huyện tại Đông Nam Bộ được tái lập để chỉ đạo xây dựng trường lớp dã chiến, đào tạo giáo viên và in ấn sách giáo khoa hệ giải phóng.


Kết luận

Luận án "Giáo dục cách mạng ở vùng Đông Nam Bộ (1945 - 1975)" của tác giả Huỳnh Hồng Hạnh là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo phục dựng một cách toàn diện quá trình xây dựng, duy trì và phát triển mạng lưới giáo dục vùng giải phóng Đông Nam Bộ trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Bằng việc kết hợp các nguồn tư liệu lưu trữ phong phú và lời kể nhân chứng, tác giả đã làm rõ cơ cấu bộ máy quản lý, phong trào Bình dân học vụ, hoạt động dạy - học dã chiến và tinh thần cống hiến của đội ngũ nhà giáo thời chiến. Công trình khẳng định vai trò của giáo dục cách mạng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực tại chỗ cho kháng chiến, đồng thời đúc kết các bài học lịch sử có giá trị tham khảo thiết thực cho công cuộc phát triển giáo dục hiện nay.