Chương 1. Khái quát về giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trước năm 1954. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2. Xây dựng và phát triển giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trong giai đoạn khôi phục kinh tế và cải tại xã hội chủ nghĩa (1954 - 1960).
Phát triển giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trong những năm thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961 - 1964). 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ GIÁO DỤC CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC TRƢỚC NĂM 1954 1. Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hƣởng đến quá trình xây dựng và phát triển giáo dục miền núi 1. Điều kiện tự nhiên Nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, sáu tỉnh miền núi Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang có những đặc thù riêng, cả về điều kiện địa lý, tự nhiên cũng như về kinh tế - xã hội khác với các vùng khác của đất nước.
Đặc điểm địa hình nổi bật của sáu tỉnh là đồi núi được cấu tạo từ đá phiến, đá cắt và đá biến chất. Ngoài ra còn có vùng đá vôi tập trung ở một số huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang); huyện Quảng Hòa (Cao Bằng) và huyện Tràng Định (Lạng Sơn). Là các tỉnh miền núi nên phần lớn các tỉnh nằm ở độ cao từ hàng trăm mét trở lên so với mặt nước biển. Địa hình của vùng thấp dần theo chiều từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông.
Trong sáu tỉnh đó, có những tỉnh miền núi và những tỉnh trung du với những đặc điểm cũng khác nhau. Ở những tỉnh miền núi, như Cao Bằng, Hà Giang, v.v… đại bộ phận diện tích tự nhiên là núi cao, rừng rậm, trong khi đó ở Thái Nguyên thì hầu hết là những vùng đồi trải rộng. Địa hình mỗi tỉnh lại chia ra làm hai vùng rõ rệt là vùng thấp và vùng cao. Vùng cao, địa hình hiểm trở, núi non trùng điệp, bốn bề là những dãy núi đá, khí hậu khắc nghiệt, giao thông khó khăn, dân cư sống phân tán.
Vùng thấp, thiên nhiên ưu đãi hơn so với vùng cao. Ở đây có những ruộng bậc thang, khí hậu bớt lạnh hơn, giao thông thuân tiện, cư dân sống tập trung, quây quần hơn. Hệ thống sông, suối ở đây cũng khá dày, có độ nông, sâu không đều, độ dốc lại lớn (do chảy theo độ nghiêng của địa hình) nên tạo thành nhiều 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ghềnh thác. Vào mùa mưa, mưa lớn từ đầu nguồn đổ về gây lũ rất nguy hiểm, ảnh hưởng đến sản xuất, giao lưu hàng hóa cũng như các hoạt động khác của nhân dân, trong đó có công tác giáo dục.
Về mùa đông, do ít mưa, các khe suối thường khô hạn không có nước, khiến nhiều vùng cao của các tỉnh miền núi, như huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) thường xuyên thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt. Chế độ mưa ở đây khá phong phú. Trung bình lượng mưa hàng năm khoảng 2. Độ ẩm bình quân hàng năm đạt 85% và sự dao động cũng không lớn.
Về khí hậu. Đặc điểm nổi bật là khí hậu ở đây khá khắc nghiệt. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 21,60C đến 23,90C; biên độ nhiệt dao động trong năm khoảng 100C và trong ngày từ 6 - 70C. Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 400C (thường vào các tháng 6, 7).
Mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối khoảng 2,20C (thường vào tháng giêng của năm), thậm chí có năm nhiệt độ còn xuống đến không độ C. Khi rét đậm, sản xuất gặp nhiều khó khăn thì cũng là thời gian nghỉ đông của các trường, trời ấm lên một chút học sinh có thể đi học tương đối dễ dàng nhưng lại là lúc nhân dân bận rộn sản xuất, vì thế người lớn ít thì giờ đi học, nhiều gia đình lại cho cả con nghỉ để sản xuất cho kịp thời vụ. Đặc điểm kinh tế - xã hội Đây là nơi sinh sống của hơn hai mươi dân tộc thiểu số với trình độ phát triển khác nhau, trong đó đông nhất là dân tộc Tày và dân tộc Nùng còn lại là các dân tộc như Dao, H„Mông, Cao Lan, Nhắng, Quần trắng, v. Dù tiếng nói, phong tục và tập quán khác nhau, trình độ phát triển xã hội chênh lệch nhau, nguồn gốc lịch sử có chỗ khác nhau nhưng đồng bào các dân tộc đã chung sống từ lâu đời nên có tinh thần đoàn kết, thương yêu lẫn nhau.
Đồng bào có tinh thần yêu nước và truyền thống cách mạng. Trong sản xuất, họ lao động cần cù, chịu khó. Trình độ kinh tế thấp, chủ yếu vẫn là tự cung tự cấp, công cụ sản xuất thô sơ, thậm chí ở vùng cao, hẻo lánh vẫn còn sống du canh, du cư, dựa vào thiên nhiên là chính. Cây trồng chủ yếu là ngô và lúa nương còn các loại hoa 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com màu khác thì hầu như không sản xuất vì thú rừng phá hoại, nắng hạn kéo dài.
Ở vùng cao tình trạng sản xuất và đời sống của đồng bào còn khó khăn hơn. Do đặc điểm tự nhiên chủ yếu là núi đá, đất canh tác hầu như không có nên đồng bào vẫn sản xuất theo phương pháp “thổ canh hốc đá” tức là cách trồng xen kẽ cây lương thực ở núi đá. Không những thế, diện tích đất canh tác theo đầu người cũng rất ít. Ở vùng núi đá huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) có 6 xã, bình quân mỗi đầu người chỉ được trên một sào “thổ canh hốc đá”.
Sản xuất kém phát triển nên hàng năm, đồng bào thiếu ăn thường xuyên, nhất là những hộ ở vùng cao, có gia đình thiếu ăn tới sáu, bảy tháng trong một năm. Sự phân bố dân cư quá thưa, cư trú phân tán cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho công tác xây dựng và phát triển giáo dục. Theo ước tính, mật độ dân số của các tỉnh miền núi rất thấp. Ở huyện Mèo Vạc (Hà Giang) khoảng 19 người trên một kilômét vuông.
Một vài huyện khác, như huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) còn thấp hơn, chỉ có 7 người trên một kilômét vuông. Các gia đình sống không tập trung, nhà này cách nhà kia thường phổ biến là 3, 4 kilômét. Từ làng, bản đến trung tâm huyện, xã cũng rất xa, phổ biến từ 10 đến 12 kilômét, có nơi như xã Cao Bồ, huyện Vị Xuyên (Hà Giang) cách đến 30 kilômét. Từ xã lên đến huyện cũng rất xa, có nơi như huyện Nguyên Bình, Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng; huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang và huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang xa đến 50, 60 kilômét.
Trong khi đó, đường giao thông từ huyện đến xã rất khó khăn, chủ yếu là đường đất, đi bộ. Gắn liền với sự lạc hậu về kinh tế là tình trạng lạc hậu về văn hóa. Bên cạnh sự bần cùng là nạn thất học trầm trọng. Tính đến năm 1945, có đến 95% dân số các dân tộc miền núi bị mù chữ.
Không những thế, đồng bào còn bị bó buộc bởi các phong tục tập quán lạc hậu và các tệ nạn xã hội khác. Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và xã hội trên đây gây rất nhiều khó khăn cho công tác xây dựng và phát triển giáo dục ở các tỉnh miền núi. Trình độ kinh tế và dân trí thấp, sản xuất gặp nhiều khó khăn do thời tiết, khí hậu, đời sống của đồng bào còn rất thấp nên khó có điều kiện cho con em đi 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hơn nữa, trẻ em từ khi mới lớn lên đã phải tham gia lao động nương rẫy cùng với cha mẹ để đảm bảo cho gia đình có lương thực, thực phẩm.
Nếu để trẻ em đi học chữ thì không những gia đình phải mất một khoản kinh phí nào đó cho việc học tập mà mất đi một lao động có khả năng sản xuất ra của cải vật chất. Mật độ dân cư quá thấp, đồng bào sống phân tán, không tập trung trong một địa bàn nhất định nên việc xây dựng trường, lớp cũng như đội ngũ giáo viên đòi hỏi nhiều hơn các vùng đông dân cư. Về phía chính quyền, sự phân bố dân cư không tập trung như vậy sẽ khiến cho việc quản lý, hướng dẫn công tác giáo dục khó khăn hơn, mất nhiều thời gian hơn, v. Khái quát về giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trƣớc năm 1954 1.
Giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc dưới thời Pháp thuộc Từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược và tiến hành cai trị nước ta. Mục đích của chúng là nô dịch nhân dân Việt Nam, biến đất nước ta thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa để bóc lột và đầu tư, sản sinh lợi nhuận nhanh chóng, phục vụ cho thế lực tư bản tài chính đang thống trị nước Pháp. Để đạt được mục đích trên, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp khai thác, bóc lột kinh tế, Pháp tiến hành ngay các hoạt động giáo dục. Theo thực dân Pháp, muốn đô hộ một dân tộc, nhất là một dân tộc đã có một nền văn hóa lâu đời thì phải chọn giáo dục để làm công cụ chinh phục.
Những văn bản dưới đây sẽ nói rõ mục đích của thực dân Pháp khi mở trường, lớp, xây dựng giáo dục ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam: Năm 1906, trong Báo cáo của chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương, đọc tại Hội nghị thuộc địa (Paris) ghi rõ: "Giáo dục là một công cụ chắc chắn và mạnh nhất trong tay người đi chinh phục (. Chúng ta (tức người Pháp - TG) phải làm cho họ (tức là người bản xứ Đông Dương - TG) tiêm nhiễm tư tưởng của chúng ta, dạy cho họ biết tiếng nói của chúng ta và, do 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó, phải bắt đầu làm việc này từ nhà trường, trước hết là cho trẻ em" [84, tr. Ngày 18 - 4 - 1912, trong Báo cáo của Pêran, Giám đốc Học chính Bắc kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương cũng nói rõ mục đích việc tổ chức giáo dục ở thuộc địa là nhằm: "Đào tạo những công chức bản xứ hạ đẳng, những giáo viên sơ cấp, những thông ngôn và thư ký để làm cho bộ máy cai trị, cho các nhà buôn” [84, tr. Ngày 10 - 10 - 1920, Toàn quyền Anbe Xarô viết trong một văn bản có đoạn như sau: "Phát triển giáo dục phải nhằm nhiệm vụ đào tạo những công chức bản xứ mà công quỹ thuộc địa phải đài thọ nhẹ hơn” [84, tr.
Chủ trương trên thể hiện chính sách ngu dân triệt để của thực dân Pháp đối với nhân dân ta.