CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG CƯ TRÚ VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NAM TRƯỚC NĂM 1997 1. Khái quát các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam 1. Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lí: Tỉnh Quảng Nam nằm ở trung độ của cả nước, là tỉnh ven biển của dải đất miền Trung. Có tọa độ địa lí 14o57′10′′ đến 160o3′40′′ vĩ độ Bắc, 107o12′42′′ đến 108°44′20′′ kinh độ Đông.
Tỉnh Quảng Nam hiện có 15 huyện, 2 thành phố và 01 thị xã, trong đó có đến 9 huyện miền núi bao gồm: Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Bắc Trà My, Nam Trà My, Hiệp Đức, Phước Sơn, Tiên Phước, Nông Sơn [31, tr6]. Các huyện miền núi này tập trung chủ yếu ở phía Tây của tỉnh, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, an ninh, quốc phòng. Chính vì vậy khu vực miền núi Quảng Nam là một bộ phận không thể tách rời của tỉnh, cùng miền đồng bằng, trung du, ven biển tạo thành một thể thống nhất hoàn chỉnh về mọi phương diện của một tỉnh có vị trí quan trọng ở miền Trung - dấu nối giữa Nam và Bắc, giữa nước ta và nước bạn Lào có liên minh đặc biệt. Mặc dù địa bàn cao dốc, hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều sông suối, núi cao, khó khăn cho việc đi lại, nhưng miền núi Quảng Nam không chỉ là căn cứ địa vững chắc về quốc phòng, mà là nơi sẽ nằm trên con đường xuyên Đông Dương, đường Hồ Chí Minh, huyết mạch của Tổ quốc, là vùng rất quan trọng bảo vệ môi trường sống toàn tỉnh, nơi đầu nguồn nuôi dưỡng tất cả các con sông lớn của đồng bằng, nơi có núi, rừng che chở, bảo đảm sự điều hoà khí hậu.
Sự sống và sự trù phú của toàn tỉnh nói chung và của miền trung du, đồng bằng nói riêng phụ thuộc vào “mái nhà che" là miền núi của tỉnh [55, tr36]. Trên địa bàn tỉnh có 34 tộc người, đông nhất là dân tộc Kinh có 1.587 người, chiếm 93,2%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Cơtu có 37.310 người, chiếm 2,71%; dân tộc Xơ Ðăng có 30.231 người, chiếm 2,2%; dân tộc Mnông có 13.685 người, chiếm 0,99%; dân tộc Giẻ Triêng có 4.546 người, chiếm 0,33%; dân tộc Co có 4.607 người, chiếm 0,33%; dân tộc Hoa có 1.106 người, chiếm 0,08%; dân tộc Tày có 509 người, chiếm 0,03%; dân tộc Mường có 364 người, chiếm 0,02%; dân tộc Nùng có 247 người, chiếm 0,01%; các dân tộc khác chiếm 0,1% [60]. Trong 9 huyện miền núi của tỉnh đồng bào Cơtu sinh sống rải rác ở các huyện nhưng tập trung nhất tại 3 huyện Nam 7 Giang, Đông Giang và Tây Giang. “Trên tọa độ địa lí 15°23′ đến 16°4′18′′ (vĩ độ Bắc), 107°12′26′′ đến 107°58′59′′ độ kinh Đông, người Katu hiện diện ở ba huyện vùng cao tỉnh Quảng Nam là Nam Giang, Tây Giang, Đông Giang, dọc lên phía bắc là Thừa Thiên Huế, họ cũng có mặt, cả trên đất Lào” [38, tr42].
Trong đó huyện Nam Giang: có diện tích lớn nhất tỉnh Quảng Nam. Với vị trí tọa độ trong khoảng: 15°- 20° vĩ độ Bắc, 107°10′ -107°52′ kinh độ Đông, cách thành phố Đà Nẵng 82 km về phía tây. Địa giới hành chính huyện Nam Giang về phía tây giáp huyện Đắc Chưng, tỉnh Sê Kông nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào với chiều dài đường biên giới khoảng 70 km, về phía đông giáp các huyện Đại Lộc, phía bắc giáp huyện Tây Giang và Đông Giang, phía nam của huyện giáp với huyện Phước Sơn (Quảng Nam) và huyện Đăk Glei, của tỉnh Kon Tum [15, tr9]. Cùng với tuyến quốc lộ 14B, 14D, đường Hồ Chí Minh và Đông Trường Sơn đi qua địa bàn đã nối Nam Giang với thành phố Đà Nẵng, đi các tỉnh Tây Nguyên và sang huyện Đắc Chưng (Sê Kông, Lào) thông qua Cửa khẩu Nam Giang - Đắc Tà Oọc.
Đây là những yếu tố thuận lợi cơ bản trong việc thông thương, mở ra nhiều cơ hội liên kết vùng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương [31, tr172]. Đến với Tây Giang: Đây là huyện mới tái lập theo Nghị định số 72/2003/NĐ-CP ngày 20/6/2003 của Chính phủ, trên cơ sở chia tách, điều chỉnh địa giới hành chính của huyện Hiên thành huyện Tây Giang và huyện Đông Giang. Trung tâm của huyện nằm trên địa bàn xã Atiêng, cách thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam hơn 180km, cách thành phố Đà Nẵng hơn 120km. Huyện giáp giới với các đơn vị hành chính khác như sau: Phía đông giáp huyện Đông Giang (tỉnh Quảng Nam), phía tây giáp huyện Kàlừm và huyện Đắc Chưng, tỉnh Sê Kông, nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào.
Còn về phía nam giáp huyện Nam Giang (tỉnh Quảng Nam), phía bắc giáp huyện Alưới và Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. “Với vị trí địa lý, kinh tế, quốc phòng quan trọng, có đường biên giới giáp với nước bạn Lào, giao thông kết nối với thành phố Đà Nẵng, tỉnh Thừa Thiên Huế và các huyện lân cận trong tỉnh thông qua hệ thống đường Hồ Chí Minh; có hệ thống sông suối dày đặc như: Sông Bung, sông Avương, sông Lăng. Đây là vị trí rất thuận lợi cho phát triển kinh tế, giao lưu văn hoá và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài tỉnh” [44, tr1]. Còn với Đông Giang: ở vị trí địa lý theo tọa độ từ 15°50′ đến 16°10′ vĩ Bắc và từ 107°35' đến 107° 86' kinh độ Đông, nằm tại vùng Tây của tỉnh Quảng Nam cách trung tâm thành phố Tam Kỳ 145 km về phía Tây Nam, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 81 km về phía Tây.
Toàn 8 huyện có 12 xã, thị trấn với tổng diện tích tự nhiên trong khoảng 82. Dân số là 24.496 người, trong đó người CơTu chiếm 73%, còn lại 27% là các dân tộc khác cùng nhau sinh sống. Phần lớn các trung tâm hành chính của huyện xã, thị trấn trong đều nằm trên trục đường 14G và đường Hồ Chí Minh có chiều dài toàn tuyến qua huyện 55Km. Ranh giới của huyện được xác định cụ thể: Về phía đông giáp: huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng; phía tây giáp huyện Tây Giang, phía nam giáp huyện Nam Giang và huyện Đại Lộc của Quảng Nam; phía bắc giáp với huyện Nam Đông của tỉnh Thừa Thiên Huế [12, tr11] Ba huyện đều có vị trí địa lí ở xa trung tâm của tỉnh Quảng Nam, lại là nơi tập trung đồng bào dân tộc (chủ yếu là người Cơtu: Đông Giang 73%, Nam Giang 85% Tây Giang 95%), mật độ dân cư thưa thớt, trình độ dân trí chưa cao, tỉ lệ hộ nghèo còn khá lớn…đây là những khó khăn nhất định trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các huyện nói chung, ngành giáo dục nói riêng nhưng bằng sự quan tâm sát sao của Đảng và nhà nước, sự nổ lực của người dân từ khi thành lập đến nay các huyện đã có những kế hoạch nhằm khắc phục khó khăn đó.
* Địa hình: Nằm trên dãy Trường Sơn hùng vĩ, nên địa hình của ba huyện được đánh giá là phức tạp, hiểm trở với đồi cao, đất dốc, thung lũng hẹp và sâu, nhiều dãy núi cao, với độ dốc lớn, sông suối dày đặc ngăn cách. “Phía Bắc của dải Trường Sơn có những ngọn núi cao như Â - Taouat/A Tuất (2.500 m) kéo dài từ Lào sang tới Thừa Thiên, núi Ngọc Lĩnh phía Nam, ngoài ra có một số núi cao nằm ở phía nam của huyện Nam Giang như La Ê (1.521m), phía tây vùng giáp biên giới Việt Lào l3 núi Tr'Hy (2. Khi nói đến địa hình Nam Giang chủ yếu là đồi núi, độ dốc lớn, mức chia cắt mạnh, hướng thấp dần từ Tây sang Đông, có thể chia ra 3 dạng địa hình chính, địa hình núi cao: Phân bố tập trung khu vực phía Tây dọc theo biên giới Việt - Lào và phía Tây Nam của huyện, độ cao trung bình trên 1. Địa hình đồi núi thấp: Phân bố khu vực trung tâm kéo dài về phía Đông, độ cao trung bình 300 - 700m; hướng thấp dần từ Tây sang Đông.
Địa hình tương đối bằng phẳng: là các thung lũng ven chân núi hoặc vùng đất bằng ven sông, suối, chiếm khoảng 15% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác, tập trung nhiều ở khu vực Thạnh Mỹ, Cà Dy, Chà Vài [54, tr2]. Địa hình của Tây Giang còn cao và hiểm trở hơn, độ cao trung bình so với mặt nước biển là 892m, núi cao nhất là núi Arung cao 2.005m, nơi thấp nhất tại ranh giới Đông Giang là 516m [44, tr17]. Do đại hình núi cao phức tạp, 9 nhiều sông suối nên gây khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội của ba huyện miền núi này. Đây cũng là ba huyện vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Quảng Nam.
Trong phát triển giáo dục của địa phương, địa hình gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục. Đặc biệt trong mùa mưa gió, việc đi lại của học sinh, giáo viên gặp nhiều trở ngại. Hay trong việc xây dựng cơ sở vật chất, trường, lớp…mỗi cấp học, lớp học do bị chia cắt nên phải xây dựng nhiều địa điểm trường, thôn khác nhau. * Khí hậu: Do chịu ảnh hưởng chung từ khí hậu của tỉnh nên ba huyện miền núi Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuộc điều kiện của khí hậu Đông Trường Sơn, ở đây hình thành hai mùa rõ rệt (mùa khô và mùa mưa).
Mùa khô thường bắt đầu từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 9, mùa mưa từ tháng 9 đến cuối tháng 2 của năm sau. Lượng mưa bình quân hàng năm có khi lên tới 2650 mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm trong khoảng hơn 22 - 25,6°C, nhiệt độ tối cao hàng năm khoảng 38 - 42°C, nhiệt độ thấp nhất từ 8 - 11°C. Các tháng nóng nhất từ tháng 5 - tháng 7.
“Số ngày nắng ở ba huyện này hàng năm hơn nhau không đáng kể (Nam Giang 189 ngày, Đông Giang và Tây Giang 166 ngày/năm). Lượng bốc hơi hàng năm khoảng 950 - 960 mm, có khi lên tới 130ml (tháng 6,7,8). Độ ẩm ở đây tương đối cao, khoảng 87,5% (có khi lên tới 95%). Vào mùa mưa rét, sương mù thường xuất hiện ở phía tây và tây bắc của huyện Tây Giang” [38, tr43].
Ở Đông Giang không khí lạnh kéo dài, ảnh hưởng đến thời vụ sản xuất, điều kiện sinh trưởng phát triển của cây trồng. Trong khi đó, mùa khô xuất hiện gió mùa Tây Nam, mang theo những đợt gió khô nóng từ Lào thổi sang [12, tr13]; Với khí hậu khắc nghiệt của một vùng núi cao, mùa khô nắng nóng thiếu nước, mùa mưa nước lớn, độ ẩm cao nguy cơ lũ quyét ở các con sông rất lớn. Chính vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, sản xuất thường nhật của người dân các huyện miền núi này.