Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN TỪ NĂM 1954 ĐẾN TRƯỚC NĂM 1963 1. Giáo dục và Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển xã hội. Các Khái niệm về giáo dục. Để làm rõ và có những cơ sở khoa học cho việc giải quyết các vấn đề căn bản của đề tài, tác giả xin đưa ra một vài lập luận và đề cập đến một số khái niệm về giáo dục có liên quan.
Giáo dục là một hoạt động xuất hiện từ rất sớm trong xã hội loài người, nó được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Mỗi một thời đại, mỗi một khu vực nó lại có một cách biểu hiện và nhiệm vụ riêng, và hơn thế nữa nó được biến đổi về mặt nội dung, hình thức và bản chất qua thời gian và sự phát triển của xã hội loài người. Chính vì vậy mà hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giáo dục. Theo quan niệm sơ khởi của phương Đông định nghĩa rằng chữ "Giáo" nghĩa là dạy, là sự rèn luyện về tinh thần nhằm phát triển trí thức và huấn luyện tình cảm đạo đức.
"Dục" nghĩa là nuôi nấng, săn sóc về mặt thể chất. Vậy giáo dục là một sự đào luyện con người về cả ba phương diện trí huệ, tình cảm và thể chất. Về phía phương Tây, danh từ Education vốn phát xuất từ chữ Educare của tiếng Latin. Động từ Educare là dắt dẫn, hướng dẫn để làm phát khởi ra những khả năng tiềm tại.
Sự dắt dẫn này nhằm đưa con người từ không biết đến biết, từ xấu đến tốt, từ thấp kém đến đầy đủ tốt đẹp v. Như thế ta thấy rằng trong quan niệm sơ khởi về giáo dục của cả phương Đông và phương Tây đều giống nhau ở chỗ lấy con người làm đối tượng và nhằm phát triển ba phương diện trí tuệ, tình cảm và thể chất. Còn theo từ điển Giáo Dục (Dictionary of education. By Carter, V, Good, McGraw Hill Book Company, New York - Toronto - London, 1959, p.
191) định nghĩa Giáo dục: “ (a): Là các quá trình qua đó một người phát triển các khả năng, thái độ sống, và các cách xử thế tích cực trong xã hội mà người ấy sống. (b): Là quá trình xã hội theo đó con người phải tuân theo cái ảnh hưởng của môi trường sống đã được chọn lựa và kiểm soát (đặt biệt là môi trường học đường) để con người có thể đạt được khả năng xã hội và sự phát triển khả năng cá nhân tốt nhất. (c): Thông thường là thuật ngữ nói về "Kỹ thuật" chỉ các lớp học chuyên nghiệp cao cấp để đào tạo các thầy giáo, liên hệ đến tâm lý giáo dục, triết lý giáo dục, lịch sử 11 giáo dục, khóa trình, các phương pháp tổng quát, đặt biệt sự giảng dạy điều hành, hướng dẫn, v.một cách rộng hơn, đó là mẫu mực toàn diện về đào tạo, chính thức hay không chính thức, thành sự trưởng thành chuyên môn cho các thầy giáo”1. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, trung tâm từ điển học, nxb Giáo dục, 1994, trang 379 có ghi: "Giáo dục 1.
Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. Hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy giáo dục của một nước". Tuy nhiên, giáo dục còn là quá trình khơi gợi các tiềm năng sẵn có trong mỗi con người, góp phần nâng cao các năng lực và phẩm chất cá nhân của cả thầy và trò theo hướng hoàn thiện hơn, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại. Như vậy, những khái niệm về giáo dục được nêu ở trên đều coi giáo dục là một quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi và biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của cả người dạy và người học theo hướng tích cực.
Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách cả thầy và trò bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại. Nhưng “Khi nghĩ về giáo dục chúng ta không được quên rằng giáo dục có tính cách trưởng thành của một cơ thể sinh động. Trong khi có những tùy thuộc thường xuyên nó vẫn liên tục thay đổi tự thích ứng với những nhu cầu mới và hoàn hảo mới. (When thinking about education we must not forget that it has the growing quality of a living organism.
While it has permanent to new demands and new circumstances) Cho nên trong việc nghiên cứu giáo dục những định nghĩa ấy không khác những tên đày tớ tốt nhưng là những ông chủ xấu. Vì nó phục vụ trung thành cho một quan điểm chủ quan và do đó giết chết ý tưởng, sáng kiến về những quan niệm rộng rãi và phương cách thích nghi trong tiến trình sinh hoạt của loài người trên mặt đất”2. 1 Theo từ điển Giáo Dục (Dictionary of education. By Carter, V, Good, McGraw Hill Book Company, New York - Toronto - London, 1959, p.
191 định nghĩa): a: The aggregate of all processes by means of which a person develops abilities, attitudes, and other forms of behavior of positive value in the society in which he lives. b: The social process by which people are subjected to the influence of a selected and controlled environment (especially that of the school) so that they may attain social competence and optimum individual development. c: Ordinarily, a general term for the so-called "technical" or more specifically classified professional courses offered in higher institutions for the preparation of teachers and relating directly to educational psychology, philosophy and of education, curriculum, special and general methods, instruction, administration, supervision etc; broadly, the total pattern of preparation, formal that results in the professional growth of teachers. Lester Smith, Giáo viên Đại Học Luân Đôn, Chủ Tịch Hội nghiên cứu giáo dục Anh Quốc đã nói.
12 Theo đó, Giáo dục phổ thông được định nghĩa là hoạt động giáo dục bao gồm ba cấp: giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở, giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 12 năm học từ lớp 1 đến lớp 12 dành cho đối tượng người học từ 6 tuổi đến 18 tuổi. Nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi.
Ở bậc giáo dục này học sinh sẽ được hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở. Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi. Ở cấp học này chủ yếu giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Còn Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi. Ở cấp học này lại nhằm chú trọng giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở để hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. Tuy nhiên, nếu như xem xét ở hệ thống giáo dục phổ thông của chúng ta ở hiện nay và cả trước giải phóng so với hệ thống giáo dục phổ thông của chính quyền Sài gòn thì có đôi chút khác biệt.
Về đại thể hệ thống giáo dục phổ thông của chúng ta là hoạt động giáo dục bao gồm ba cấp học: tiểu học (cấp 1), trung học cơ sở (cấp 2) và cả trung học phổ thông (cấp 3). Điều đó có nghĩa là trong hệ thống giáo dục của chúng ta bậc giáo dục trung học phổ thông chỉ bao gồm có một cấp học là cấp 3. Còn bậc giáo dục bậc trung học phổ thông của chính quyền Việt Nam cộng hòa bao gồm hai cấp học Đệ nhất và Đệ nhị cấp (cấp 2 và 3), với 7 năm học bao gồm từ lớp đệ thất đến lớp đệ nhất, tức từ lớp 6 cho đến lớp 12, hệ thống giáo dục này được chính quyền Việt Nam 13 cộng hòa học theo mô hình của một số nước châu Âu, mà ở đây cụ thể là của Anh và Mỹ ở ngay giai đoạn đó. Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển xã hội.
Nhân loại đã đi vào thế kỷ mới với những cơ hội và thách thức mới. Ở mọi quốc gia dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, giáo dục luôn được đặt ở vị trí tiêu điểm của sự phát triển. Nó là chìa khoá để đất nước phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học, chính trị hài hoà đồng bộ và cân đối với nhau. Và là cách để dạy cho con người ta biết học, Học để nhận thức (con người có tri thức chuyên sâu, có trình độ học vấn và trình độ văn hoá cao, có khả năng cống hiến), Học để hành động (biết tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần có chất lượng cao cho xã hội, sự năng động sáng tạo trong công việc), Học để biết tồn tại (để có khả năng thích nghi với sự vận động và phát triển của xã hội hiện đại trong môi trường sống rộng mở phức tạp, đa chiều.
Nhất là trong xu thế hội nhập hiện nay), Học để biết cách chung sống với mọi người (có kiến thức về bản sắc riêng của từng dân tộc, am hiểu văn hoá thế giới, đáp ứng xu thế quốc tế toàn cầu hoá, có như vậy con người mới có thể chung sống trong đối thoại và hoà bình).