CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Dạy học đọc hiểu và phát triển năng lực của người học 1. Dạy học đọc hiểu trong phát triển năng lực chung và năng lực chuyên biệt của người học Truy nguyên về vấn đề đọc hiểu, trên thế giới, “đọc hiểu” (reading comprehension, reading literacy) không phải là khái niệm được dùng riêng cho môn Ngữ văn hay ngôn ngữ nghệ thuật mà còn dùng chung cho cả những môn học khác. Tuy nhiên, khái niệm này đương nhiên được nhắc đến nhiều hơn trong việc đọc văn.
Lịch sử nghiên cứu về vấn đề này khá đồ sộ, đủ để ta hiểu được tầm quan trọng của khả năng đọc hiểu đối với người học. Các lĩnh vực đánh giá của PISA [36] đối với học sinh 15 tuổi thậm chí được chia thành 3 lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực đọc hiểu (bên cạnh Toán học và Khoa học). Việc nghiên cứu về đọc hiểu thúc đẩy và tạo ra sự tồn tại của những mô hình đọc hiểu mà ở đó, người ta quan niệm việc đọc hiểu là sự giao nhau trong kết nối của những yếu tố văn bản, bối cảnh văn hóa và xã hội, hoạt động và người đọc Ở thời điểm hiện tại, người đọc (là HS đối với quá trình dạy học) là trung tâm của quá trình đọc hiểu. Ở Việt Nam, các vấn đề về đọc hiểu cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm mà trong đó có thể kể đến những công trình nghiên cứu rất tâm huyết của Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Hùng, Lê Phương Nga, Nguyễn Thị Hồng Nam,.Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khẳng định đọc hiểu văn bản là một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay.
Giáo sư cho rằng: phải biết đọc, không phải chỉ biết đọc chữ, đọc diễn cảm, mà trước hết phải biết đọc hiểu, qua một văn bản phải biết đâu là chỗ quy tụ thông tin, đâu là câu then chốt thể hiện tư tưởng của tác giả. Phạm Thi Thu Hương trong cuốn Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông có khẳng định: Đọc hiểu thực chất là quá trình người đọc kiến tạo ý nghĩa của văn bản 13 thông qua hệ thống hoạt động, hành động, thao tác. Các nhà nghiên cứu đưa ra những quan điểm hay những khía cạnh nghiên cứu khác nhau về vấn đề này nhưng đều tựu lại ở một điểm chung mà không ai có thể phủ nhận: đọc hiểu là một thao tác quan trọng, quyết định thành công của học sinh trong quá trình phát triển năng lực đối với học sinh. Dạy học đọc hiểu là dạy cách tiếp nhận văn bản, cách đọc hiểu văn bản mà ở đó GV sẽ tổ chức, hướng dẫn HS sử dụng các kĩ năng để khai thác, lĩnh hội, vận dụng,…nội dung, ý nghĩa của văn bản.
Năng lực chung và năng lực chuyên biệt đều được hình thành và phát triển thông qua các môn học, hoạt động giáo dục. Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống. Đối với người học, năng lực chung được nhắc tới ở đây bao gồm năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Kĩ năng đọc hiểu Văn [19; 50] có quan điểm rằng bản chất của việc đọc hiểu chính là hành động nhận thức tích cực bằng cách sử dụng toàn bộ năng lực tinh thần, kí ức, thể xác, kinh nghiệm để năm bắt ý nghĩa của tác phẩm.
Như vậy, đối với việc đọc hiểu và dạy học đọc hiểu văn bản, nếu muốn chiếm lĩnh nội dung của tác phẩm, HS nhất thiết cần vận dụng linh hoạt những trải nghiệm cá nhân, những kiến thức, kĩ năng của mình, chọn lọc những nguồn tài liệu học tập phù hợp để kiến giải tác phẩm. Đọc hiểu văn bản là tham gia vào quá trình tiếp nhận mà người học sẽ coi văn bản và chính những người học khác là đối tượng giao tiếp, và như đã nói, đọc hiểu văn bản là quá trình dài diễn ra của những hoạt động được xâu chuỗi, trong đó nhất thiết diễn ra sự trao đổi, bàn luận giữa nhưng người học và cả việc đối thoại với tác phẩm. Từ đó, những vấn đề của văn bản xuất hiện và yêu cầu người học tư duy độc lập và giải quyết. Như vậy, dạy và học đọc hiểu văn bản có ý nghĩa lớn trong việc phát triển năng lực chung của người học.
Người học cần giải mã, tái tạo, hình dung, tưởng tượng, phân tích, tổng hợp, đồng thời biết xác định và bám sát việc đọc của mình, biết sử 14 dụng các chiến thuật đọc hiểu hợp lí, duy trì động cơ đọc để kết nối với văn bản và thậm chí là biết giám sát, thúc đẩy, điều chỉnh quá trình đọc của bản thân. Năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn bao gồm năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học. Ý nghĩa của một tác phẩm không bao giờ là một điều gì đương nhiên, có sẵn trong văn bản. Đôi khi, ý nghĩa của tác phẩm vượt ra khỏi tầm kiểm soát của tác giả, như Umberto Eco từng nói: “Nhà văn có lẽ nên chết đi sau khi hoàn thành văn bản để tác phẩm có thể tự do sống cuộc đời của nó.” Sự tự do đó của tác phẩm là khi nó được nằm trong sự quyết định của người đọc mà thiếu đi sự cảm nhận và kiến giải của người đọc, tác phẩm chỉ đơn giản là một bản in ấn.
Trong tầm đón nhận của mình, người đọc bằng sự liên tưởng, cảm thụ cá nhân với khả năng cảm nhận và lí giải ngôn ngữ sẽ lấp đầy những khoảng trống của văn bản. Để hướng tới việc phát triển năng lực chuyên biệt của môn Văn, việc dạy học đọc hiểu đóng vai trò then chốt. Dạy học đọc hiểu và phát triển năng lực người học trong chương trình Ngữ văn 2018 Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 có quy định rõ ràng về khái niệm năng lực: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có nhờ quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các thuộc tính, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…thực hiện một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Chương trình giáo dục mới cũng nêu rõ yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của môn Ngữ văn: − Năng lực ngôn ngữ: biết vận dụng kiến thức tiếng Việt với những trải nghiệm và khả năng suy luận của bản thân để hiểu văn bản; biết đọc văn bản theo kiểu loại; hiểu được nội dung tường minh và hàm ẩn của văn bản.
Nhận biết và bước đầu biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản; biết so sánh văn bản này với văn bản khác, liên hệ 15 với những trải nghiệm cuộc sống của cá nhân; từ đó có cách nhìn, cách nghĩ và những cảm nhận riêng về cuộc sống, làm giàu đời sống tinh thần. − Năng lực văn học: nhận biết và phân biệt được các loại văn bản văn học: truyện, thơ, kích, kí và một số thể loại tiêu biểu cho mỗi loại. Phân tích được tác dụng của một số yếu tố hình thức nghệ thuật thuộc mỗi thể loại văn học; hiểu nội dung tường minh và hàm ẩn của văn học. Trình bày được cảm nhận, suy nghĩ về tác phẩn văn học và tác động của tác phẩm đối với bản thân; bước đầu tạo ra được một số sản phẩm có tính văn học.
Những năng lực đặc thù kể trên của môn Ngữ văn được hình thành qua các hoạt động chủ đạo là nghe, nói, đọc, viết, trong đó hoạt động đọc đóng vai trò chủ đạo. Trên web https://pisavietnam.vn/ [36], PISA có định nghĩa về năng lực đọc hiểu như sau: Năng lực đọc hiểu là hiểu, sử dụng, phản ánh và liên kết vào các văn bản viết, nhằm đạt được mục tiêu cá nhân, phát triển kiến thức và tiềm năng cá nhân, và tham gia vào xã hội. Trong số các năng lực văn học, năng lực đọc hiểu có thể coi là quan trọng nhất vì tất cả các năng lực khác cũng đều liên quan đến năng lực đọc hiểu hay được phát triển trên nền tàng của việc đọc hiểu văn bản. Để có thể nắm bắt được các tầng nghĩa của văn bản, học sinh cần có vốn tri thức lí luận văn học, những hiểu biết về văn học Việt Nam và nước ngoài, về kết cấu và những vấn đề liên quan đến tác phẩm và vững vàng cả các phương pháp, kĩ thuật, các chiến thuật đọc hiểu và quan trọng nhất là ứng dụng được tri thức văn học vào việc nắm bắt các giá trị sống thực tế.
Việc dạy học đọc hiểu đối với học sinh chính vì vậy cũng có ý nghĩa vô cùng lớn trong quá trình tiếp nhận tri thức Ngữ văn. Đặc biệt, theo quan niệm giáo dục chủ động của chương trình giáo dục phổ thông 2018, giáo viên cần có trách nhiệm trong việc chỉ đường, tạo điều kiện cho người học là học sinh đi đúng con đường để tiếp cận, giải mã các tầng nghĩa của văn bản văn học. Ngược lại, để học sinh được dạy học theo định hướng phát triển năng lực 16 thì GV lại càng phải chú trọng vào việc tổ chức những hoạt động tiếp cận với văn bản một cách có hiệu quả để người học đi từ đọc chính xác, đọc sâu, đọc phân tích cho đến đọc trải nghiệm và đọc sáng tạo. Ở mỗi độ tuổi, năng lực của con người lại tồn tại ở một mức độ khác nhau.
Chính vì vậy, năng lực đọc hiểu vẫn luôn phát triển. Sự phát triển của vạn vật đều có ảnh hưởng, tác động lớn từ bối cảnh văn hóa, xã hội hay từ môi trường, cộng đồng của mình. Năng lực của HS được phát triển là từ sức mạnh nội tại của HS nhưng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ không gian lớp học và sự định hướng của GV thông qua việc tổ chức hoạt động dạy học đọc hiểu. Lí thuyết mô hình “VTTLVC” 1.
Khái niệm “VTTLVC” = Không viết tắt ở tiêu đề Harvey Daniels là người nghiên cứu sớm nhất, sâu sắc và thành công nhất về mô hình “VTTLVC”.