CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN • tự• học 1.1 Khái niệm nãng lực Trong chương trình GDPT tổng thể [1] khái niệm năng lực được chỉ rõ “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng họp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Như vậy, ta có thể hiểu năng lực như sau: - Năng lực giải thích sự khác biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác ở khả năng đạt được kiến thức và hành vi nhất định. - Năng lực cá nhân là sự kết họp giữa các yếu tố có sẵn và quá trình học r tập, rèn luyện tích lũy kiên thức, kĩ năng và thái độ của cá nhân, từ đó có thể thực hiện thành công một hoạt động nhất định. Trong khuôn khồ luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm năng lực được đề cập như trên.2 Các năng lực cần phát triển cho học sinh Chương trình GDPT tổng thể LIJ đã chỉ rõ học sinh cần được phát triển 10 năng lực cốt lõi được chia thành hai nhóm năng lực chính là năng lực chung và năng lực chuyên môn.
Những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động cùa con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp được hiếu là năng lực chung. Yếu tố di truyền, quá trình giáo dục và những trải nghiệm cuộc sống của con người đóng vai trò chù yếu trong việc hình thành và phát triển những năng lực này. Nhiều hoạt động khác nhau trong cuộc sống cần sử dụng đến 10 năng lực này. Trong nhà trường, những năng lực chung sẽ được nhà trường và giáo viên giúp các em học sinh phát triển trong chương trình giáo dục phố thông là: - Năng lực tự chủ và tự học.
- Năng lực giao tiếp và hợp tác. - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Năng lực chuyên môn là những năng lực theo định hướng chuyên sâu và riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hẹp hơn của một hoạt động, được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung. Năng lực chuyên môn được xem như một năng khiếu, giúp học sinh phát huy thế mạnh của bản thân nhiều hơn.
Trong chương trình GDPT tổng thể [1] có 7 năng lực chuyên môn được rèn luyện và phát triển: Ngôn ngữ; Tính toán; Tin học; Thể chất; Thẩm mỹ; Công nghệ; Tìm hiểu tự nhiên và xã hội. Năng lực tự học 1.1 Khái niệm • tự• học • Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [15] cho rằng “Tự học là động não, suy nghĩ, sử dụng năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích.) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của chính bản thân người học (tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học) cả động cơ, tinh cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” Theo tác giả Đặng Thành Hưng [7] “Tự học là chiến lược học tập cá nhân độc lập, không phụ thuộc trực tiếp vào người dạy hay học chế nhất định, do người học tự mình quyết định và tự nguyện tiến hành học tập kể từ 10 mục đích, nội dung, cách thức, phương tiện, môi trường và điêu kiện học tập cho đến kế hoạch và nguồn lực học tập”. về cơ bản, các nghiên cứu trên đều chỉ ra tự học là hoạt động học sinh độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ sảo, kinh nghiệm xã hội để hoàn thiện và phát triển bản thân. Trong khuôn khồ luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm tự học với nội hàm là khả năng huy động kiến thức, kì năng, thái độ, hứng thú của bản thân để tự thực hiện kĩ năng mới, kiến thức mới tạo nên các sản phẩm mới.2 Các thành tố của năng lực tự học Bảng ỉ.ỉ: Các thành tố của năng lực tự học Thành tố Mô tả 1.
Xác định Học sinh xác định được mục đích, nội dung và cách thức tự mục tiêu học, hình thành ý thức về nhu cầu học tập, từ đó tự xây học tập dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn. Khi có động cơ học tập đúng đắn, học sinh tự giác say mê học tập với những mục tiêu cụ thể, tự thân học tập do mình yêu thích, để có thể tự học dài lâu và bền vững. Lập kể Học sinh phải biết lập kế hoạch tự học khoa học, vừa sức và hoạch tự khả thi; lên danh mục các nội dung tự học; khối lượng và học yêu cầu cần đạt được, các hoạt động cần phải tiến hành, sản phẩm cụ thể cần phải tạo ra và thời gian cho mồi nội dung, hoạt động hay sản phẩm. Khi lập kế hoạch cần có các phương án dự phòng các trường hợp phát sinh ngoài ý muốn.
Ngoài ra, học sinh cần biết cách lựa chọn hình thức thực hành, quyết định cách thức thực hiện phù hợp với năng lực, tài liệu của bản thân để duy trì NLTH. Tiến Học sinh thể hiện kĩ năng lựa chọn các tài liệu thích hợp, sử hình kế dụng các phương pháp nhận thức phổ biến; vận dụng các • tự• hoạch kiến thức đã học để làm bài tập vận dụng, báo cáo, thuyết học trình. giúp tri thức có được không dề quên mà bền vững, được bổ sung thường xuyên, mở rộng, làm giàu tri thức cá nhân. Đánh giá Học sinh phát triển khả năng đánh giá điều chỉnh hoạt động điều chỉnh học tập, tự nhận biết mức độ tiếp thu của mình và điều chỉnh hoạt động phương pháp tự học thích hợp bằng cách tự trắc nghiệm trên hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm khách quan; so sánh kết quả học tập của mình với kết quả đúng của giáo viên.
Với các thành tố trên, ở mỗi cấp học năng lực của học sinh sẽ được phát triển theo các mức độ khác nhau. Chương trình GDPT tổng thể [1] đã chỉ rõ yêu cầu cần đạt về các thành tố của NLTH của HS khối THCS gồm có: - Tự đặt được mục tiêu học tập để nồ lực phấn đấu thực hiện. • • • • • • X • X • • - Biết lập và thực hiện kế hoạch học tập; lựa chọn được các nguồn tài liệu học tập phù hợp; lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khoá; ghi chú bài giảng của giáo viên theo các ý chính. - Nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân khi được giáo viên, bạn bè góp ý; chủ động tìm kiếm sự hồ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập.
- Biết rèn luyện, khắc phục những hạn chế của bản thân hướng tới các giá trị xã hội. Như vậy nếu như sừ dụng mô hình LHĐN trong dạy học, thông qua việc học tập trên lớp học online, học sinh sẽ có cơ hội được lập và thực hiện kế • • X X • z • • • • X •• hoạch phù hợp với bản thân; có thể lựa chọn và lưu giữ tư liệu phù họp bằng 12 nhiều cách và sáng tạo trong việc ghi chép, có thể điều chinh chù động trong quá trình học, từ đó các thành tố của NLTH được phát triển. Quan điếm về tự học • tự• học a. NăngƯ lực • Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nồ như hiện nay, khối lượng kiến thức và kĩ năng cho học sinh là quá nhiều so với thời lượng trên lớp học.
Chính vì vậy, bài toán làm thế nào để giáo viên có thể truyền tải được nhiều nhất các kiến thức và kĩ năng cho học sinh được nhắc đến rất nhiều trong đó tự học là một giải pháp được nhắc đến rất nhiều với nhiều quan điểm đáng lưu ý. Qua việc nghiên cứu từ kết quả của các tác giả [4], [7], [13], [15]. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi hiểu NLTH là khả năng học sinh huy động kiến thức kinh nghiệm sẵn có kết hợp với động cơ, hứng thú tình cảm để tạo ra sự tò mò, mong muốn chiếm lĩnh tri thức, từ đó học sinh tự thực hiện các kĩ năng mới, kiến thức mới và điều chỉnh hoạt động học tập phù hợp. Với quan niệm trên, NLTH toán trong nội dung hình học trực quan chúng tôi hiểu là khả năng học sinh sử dụng các kiến thức đã biết về hình học trực quan ờ tiểu học kết hợp với động cơ, hứng thú tình cảm đê thực hiện thành công các nhiệm vụ học tập (gồm các nhiệm vụ online và các nhiệm vụ trên lóp học) được GV thiết kế trên mô hình lớp học đảo ngược đế hình thành kiến thức, kĩ năng mới.
Đặc điếm của học sinh lóp 6 Học sinh lớp 6 là một lứa tuồi rất đặc biệt khi học sinh vừa bước lên cấp THCS cùng những sự ngỡ ngàng về thầy cô, phong cách học tập, cách ghi chép bài.Vì vậy, đây là thời điểm vàng để thầy cô có thể tạo nền móng và phát triến các năng lực thiết yếu cho học sinh trong đó có NLTH. Tuy nhiên, còn rất nhiều những khó khăn thầy cô sẽ cần chú ý khi phát triển NLTH cho học sinh lớp 6. Cụ thể là: 13 - Động cơ tự học của học sinh lớp 6 phân lớn là chưa có hoặc nêu có thì không thường xuyên. Vì vậy mà việc tập trung tìm giải pháp để tạo động cơ học tập môn Toán cho học sinh lớp 6 là rất quan trọng, do đó việc phát triển NLTH rất cần thiết.
- Học sinh lớp 6 chưa làm quen với cách học ở khối THCS: các em đa số còn thấy khó khăn với việc có tới 12 môn học chính khóa, mồi môn học một thầy cô và đặc biệt là việc ghi chép bài với lượng kiến thức lớn. Do đó, nếu các em có sự chuẩn bị trước các nội dung học tập, tự hệ thống hóa kiến thức ở nhà thì việc học của các em khi đến lớp sẽ dễ dàng hơn. - Nhiều học sinh có lồ hồng kiến thức khá lớn, vì vậy học sinh không thể tự học được. Ngoài ra, một số em có thể tự học tốt thì sau đó không biết mình đã đạt yêu cầu hay chưa hay nói cách khác, HS chưa có kĩ năng tự đánh giá và điều chỉnh sau tự học.