CHƯƠNG 1: CO SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐÈ NGHIÊN cú u 1. Lịch sử nghiên cứu vân đê trên thê giói * Nhũng nghiên cún về năng lực, năng lực vận dụng toán học Một trong những nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực này là Amartya Sen - nhà nghiên cún đầu tiên giới thiệu cách tiếp cận năng lực (Capability Approach) trong nhiều công trình nghiên cứu của mình như Equality of what?; Commodities and Capabilities; The Standard of Living; Development as Freedom,.Sen nhấn mạnh sự đánh giá thịnh vượng của con người nên dựa trên khả năng vận hành chức năng của họ, đo lường được thực lực của họ. Theo quan điểm của ông, năng lực là một thể thống nhất, tổng hợp các khả năng thực hiện các chức năng khác nhau, mồi người có thể có nhiều năng lực. Ông nhấn mạnh, quá trình phát triển của con người sẽ là tiền đề cho việc mở rộng cơ hội lựa chọn cho họ.
Đại diện cho khía cạnh định lượng của năng lực, Howard Gardner đã khẳng định rằng: “NL phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được” [36]. Hay theo một quan điểm khác của F.Weinert, “NL là những kỳ năng, kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá nhân để giài quyết các tình huống cụ thể, cũng như sự sẵn sàng về khía cạnh động cơ, xã hội và khả năng áp dụng các phương pháp giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và linh hoạt” [40]. Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc UNDP đề cập đến khái niệm năng lực chung cho mọi cá nhân, tổ chức và xã hội. “Nàng lực” trong ngữ cảnh này được định nghĩa là khả năng của cá nhân, tổ chức và xã hội để thực hiện các chức năng, giải quyết vấn đề, thiết lập và đạt được mục tiêu một cách bền vừng [39].
Do đó, “phát triền năng lực” được mô tả như quá trình thông qua đó, năng lực của con người được hình thành, tăng cường, thích nghi và duy trì theo thời gian. David Potten đã chỉ ra cách tiếp cận phát triển năng lực ở ba cấp độ khác nhau trong bài viết về "Chương trình học kết hợp làm việc: Quỹ Phát triển Chính sách và Nguồn Nhân lực tại Nhật Bẳn và thách thức về phát triển năng lực". Điều này phản ánh sự phát triển năng lực ở cấp độ cá nhân, tổ chức và môi trường hoạt động xã hội. Theo tác giả, mục tiêu của việc phát triển năng lực cá nhân bao gồm việc nâng cao kiến thúc để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế hiện hành, tăng cường năng lực kỹ thuật và công nghệ, cũng như nâng cao kỳ năng làm việc trong các điều kiện làm việc đa dạng như năng lực làm việc nhóm và khả năng thích ứng, theo quan điểm của tác giả.
Để đào tạo ra nguồn nhân lực phù hợp và chủ động thích nghi với những biến đổi của thế giới trong tương lai, nhiều quổc gia phát triển trên thế giới rất coi trọng năng lực vận dụng kiến thức học được trong các nhà trường để giải quyết các vấn đề thực tế. * Các nghiên cứu về dạy học gắn vói phát triển năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn Hoa Kỳ là một quốc gia phát triển sớm về khoa học kĩ thuật nên cũng có một nền giáo dục có định hướng sớm trong việc chú trọng việc bồi dưỡng năng lực vận dụng tri thức vào TT. Kể từ năm 1969, Chương trình Đánh giá Quốc gia về Tiến bộ trong Giáo dục (NAEP) đã được triển khai lần đầu tại Hoa Kỳ. Đây là một chương trình thực hiện theo mẫu đại diện cho toàn quốc một cách liên tục nhằm nắm bắt các thông tin về HS ớ Hoa Kì: xem HS biết những gì và có thế làm được gì qua học tập các môn học cụ thế, trong đó có toán học.
Trong các đề khảo sát của NAEP có rất nhiều bài toán liên quan đến thực tiễn được lồng ghép để đánh giá HS. Đen năm 2000, mục tiêu thử hai trong tám mục tiêu của giáo dục, như được quy định trong "Pháp lệnh về mục tiêu giáo dục Hoa Kỳ năm 2000" [33, tr.30-31], đã được xác định là "Tất cá học sinh trong các lóp 4, 8 và 12 đều cần phải có khả năng áp dụng kiến thức vào thực tế, có khả năng suy nghĩ độc 7 lập và có khả năng tiếp tục học tập trong các lĩnh vực như Tiếng Anh, Toán học, Khoa học, Ngoại ngữ,. Điều này là minh chứng cho sự chú trọng và đánh giá cao của hệ thống giáo dục Hoa Kỳ đối với việc nuôi dưỡng và phát triển năng lực, đặc biệt là khả năng ứng dụng Toán học vào thực tiễn cho học sinh. Ngoài ra tống thống Barack Obama đã yêu cầu Bộ Giáo dục thực hiện chiến dịch cải tiến chất lượng giáo dục cho trẻ em Mỹ lấy nền tảng là STEM từ năm 2013.
Giáo dục STEM đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những cá nhân có khả năng đáp ứng yêu cầu công việc của thế giới trong tương lai, có ảnh hưởng tích cực đến sự biến đổi của nền kinh tế tri thức trong ngữ cảnh của quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ.Makarenkô (1976), một nhà giáo dục nổi tiếng của Liên Xô, ông cho rằng khoa học sư phạm và đặc biệt là lý thuyết giáo dục đầu tiên và trước hết là một lĩnh vực khoa học hướng tới mục tiêu thực tiễn. Ông nhấn mạnh rằng quá trình giảng dạy là sự tương tác giữa giáo viên, học sinh và môi trường học tập, với mục tiêu chính là phát triển nhân cách cho người học. Phương pháp giảng dạy hiệu quả nhất là đặt học sinh vào bối cảnh thực tế và liên kết thực tế với quá trình học tập. Vào năm 1997, chương trình đánh giá quốc tế cho học sinh được khởi xướng và chỉ đạo bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đã được triển khai lần đầu tiên, được gọi là PISA (Programme for International Student Assessment).
Chương trình này được thực hiện định kỳ mồi 3 năm nhằm đánh giá khả năng áp dụng kiến thức và kỹ năng trong bốn lĩnh vực chính là toán, đọc hiểu, khoa học và giải quyết vấn đề, nhằm giúp học sinh lứa tuổi 15 giải quyết các thách thức trong cuộc sống của họ. Tất cả các đề kiểm tra của PISA đều tập trung vào các tình huống trong thực tế. HS muốn giải quyết được các tình huống này các em phài huy động đồng thời hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và sự hiểu biết của bản thân về TT [37], 8 Dường như, có nhiêu nghiên cứu từ các học giả quôc tê đã thảo luận về khả năng và quá trình phát triến khá năng. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào khía cạnh NL và quá trình phát triển NL trong ngữ cảnh của tổ chức, nhóm, hoặc sử dụng chung khái niệm NL và quá trình phát triến năng lực cho cả cá nhân và tố chức.
Những nghiên cứu trong nước, NL và quá trình phát triển NL cũng được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau thông qua nhiều nguồn thông tin như sách, tạp chí, đề tài nghiên cứu, luận văn, và luận án. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước Trong chương trình giáo dục phổ thông môn Toán mới đã yêu cầu rất \ r r n __Ạ _ _• 1____ 1- _ nr _ z __ _ W a 1______ a • Ạ 2 1. _ _ Ạ __ nn* 1 _ nr______ _ rõ vê việc dạy học Toán găn với thực tiên (ở cá ba cap Tiêu học, Trung học cơ / 2- sở, Trung học phổ thông), theo định hướng giáo dục nghề nghiệp. Giúp học sinh “hiểu được vai trò và những ứng dụng của toán học trong thực tiễn, những ngành nghề có liên quan đến toán học để học sinh có cơ sở định hướng nghề nghiệp” “Bộ giáo dục và đào tạo, 2018) trong dạy học môn Toán cần có những nghiên cứu, thử nghiệm cho việc dạy học những nội dung toán học nào đó nhằm đạt tới yêu cầu đó.
Vậy việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho người học không chỉ là một mục tiêu quan trọng mà còn là nhiệm vụ hàng đầu của ngành giáo dục, nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Trong lĩnh vực toán học, nhiều nhà nghiên cứu đã dành sự chú ý đặc biệt để nghiên cứu về việc áp dụng Toán học trong giải quyết các tình huống thực tể. Hiện nay khi tìm kiếm trên mạng internet với hai từ khóa “thực tiễn”, “môn Toán” có thể tìm thấy rất nhiều tài liệu, trong đó có những tài liệu về vấn đề dạy học toán gắn với thực tiễn. Có thể kể đến, Luận án tiến sĩ của Phan Thị Tình (năm 2012) về “Tăng cường vận dụng toán học vào thực tiền trong dạy học môn Quỵ hoạch tuyến tính và môn Xác suất thống kê cho sinh viên Toán Đại học sư phạm" đã chỉ ra được các yêu cầu cần thực hiện trong môn 9 Xác suất thống kê và môn Quy hoạch tuyến tính cho sinh viên Toán Đại học sư phạm nhàm thực hiện định hướng vận dụng toán học và đề xuất một số biện pháp tác động vào quá trình dạy học để đến mục tiêu.
Luận án tiến sĩ giáo dục của Bùi Ngọc Huy (2003) tập trung vào việc tăng cường sử dụng nội dung thực tế trong quá trình giảng dạy số học và Đại số, nhằm cải thiện khả năng áp dụng toán học vào thực tế cho học sinh Trung học cơ sở, được thực hiện tại Trường Đại học Vinh. Đóng góp vào việc phát triến năng lực toán học trong việc xử lý các tình huống thực tế cho học sinh Trung học phổ thông thông qua việc giảng dạy Đại số và Giải tích, nhằm đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm thúc đẩy năng lực toán học trong việc xứ lý các tình huống thực tế cho học sinh Trung học phổ thông thông qua việc giảng dạy Đại số và Giải tích. Nói đến khía cạnh năng lực như một thành phần quan trọng của nhân cách và phẩm chất con người, có thể tham chiếu đến ý kiến của Phạm Văn Nhuận (1999). Trong bài viết "Một cách tiếp cận về cặp phạm trù điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan" của ông, năng lực được xem xét như một trong những yếu tố quan trọng hình thành đặc điểm tính cách của một cá nhân [23, tr 57-59].
Theo quan điểm của tác giả Bùi Văn Nghị, năng lực của cá nhân có thể được phân chia thành nhiều loại, phụ thuộc vào các góc nhìn khác nhau.