CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề chung 1. Một số nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực số Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra với quy mô mạnh mẽ đã tác động lên nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội của con người, trong đó có ngành giáo dục. Bởi trong kỷ nguyên chuyển đổi số, người dạy cũng như người học phải không ngừng nâng cao các kĩ năng về công nghệ thông tin để có thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động.
Do đó, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về NLS, tiếp cận nhiều chủ đề như: Bài báo “Rural High School Students’ Digital Literacy” của Jay R. Briere, James Nahachewsky (2015) [22] được thực hiện trên địa bàn vùng trường học nông thôn của Canada. Nhóm nghiên cứu đã đề xuất phát triển chính sách liên quan đến các thiết bị được sử dụng trong trường học; giáo viên cần kết hợp các cách sử dụng công nghệ để hỗ trợ giao tiếp và phân phối nội dung khoá học; thúc đẩy sự đa dạng về đọc, viết cho học sinh thông qua các hoạt động của giáo viên, thủ thư, các nhà lãnh đạo công nghệ cũng là một điều tốt. Nghiên cứu “A Systematic Review of Digital Literacy Training for High School Students” của nhóm tác giả Nisa và Setiyawati được tiến hành để tìm hiểu các chủ đề nhằm đào tạo năng lực số cho HS THPT [21].
Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra 5 chủ đề, cụ thể là: kiến thức về đặc điểm của thế giới số, khả năng chọn nguồn thông tin, khả năng đánh giá thông tin, khả năng sản xuất nội dung, khả năng ngăn chặn các vấn đề khi sử dụng Internet. Mursidi và nhóm tác giả (2022) đã thực hiện một nghiên cứu về năng lực số giúp hỗ trợ việc học tập độc lập (independent learning) [20]. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng, được thực hiện trên 125 học sinh với độ tuổi từ 12 đến 15 của 5 trường trung học tại thành phố Singkawang, Indonesia. 5 Nhóm nghiên cứu kết luận rằng NLS có tác động tốt tới quá trình học tập của học sinh, mặc dù có sự khác nhau về kết quả giữa các trường nhưng nhìn chung kết quả vẫn rất tốt.
Theo bài báo Digital Competences in Selected European Countries among University and High School Students: Programing is laging behind [16], nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu cách sinh viên đại học và học sinh trung học kinh tế tự đánh giá năng lực số của mình, từ đó xác định trình độ và kỹ năng kĩ thuật số, đồng thời đề xuất các cách cải thiện năng lực số. Sau khi khảo sát, nhóm nghiên cứu nhận thấy sinh viên đại học và trung học tự đánh giá năng lực số của mình ở cấp độ dưới trung cấp, điều này cho thấy các nhà hoạch định chính sách giáo dục cần phải đổi mới phương pháp và chương trình giảng dạy để nâng cao năng lực số cho người học. Ở Việt Nam, nhóm tác giả Lê Thị Phượng và Phạm Thị Phương Nam [7] đã thực hiện một nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng NLS của HS tại một số trường trung học cơ sở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Dựa trên khung NLS của học sinh phổ thông do Lê Anh Vinh và cộng sự đề xuất, các tác giả đã xây dựng bộ câu hỏi đánh giá khách quan NLS dành cho HS trung học cơ sở.
Kết quả cho thấy đa số HS có NLS đạt ở mức chưa tốt. Đây chính là cơ sở thực tiễn để GV đưa ra những giải pháp nhằm hình thành và phát triển năng lực số cho HS trung học cơ sở. Nghiên cứu về NLS dành cho giảng dạy và học tập trực tuyến của tác giả Đỗ Văn Hùng, Trần Đức Hoà đăng trên tạp chí Thông tin và Tư liệu [2] đã khái quát bối cảnh của NLS tại Việt Nam, các chính sách thúc đẩy đào tạo trực tuyến và phát triển NLS. Bài báo cũng đưa ra các khó khăn mà người dạy và người học gặp phải trên môi trường số.
Đối với người dạy, có thể kể đến các khó khăn như: Chưa được trang bị kĩ năng và phương thức giảng dạy trên môi trường trực tuyến; Chưa sử dụng đa dạng các ứng dụng đa phương tiện để tạo lập bài giảng; Nguồn học liệu số hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy còn rất hạn 6 chế; Nhận thức chưa đầy đủ của người dạy về đào tạo trực tuyến. Đối với người học, thiếu thiết bị học tập là một trong những khó khăn lớn nhất; bên cạnh đó là thiếu sự hướng dẫn và hỗ trợ tham gia học trực tuyến. Trong chủ đề phát triển NLS, đã có những công trình nghiên cứu của một số tác giả với đối tượng là sinh viên, giảng viên. Những nghiên cứu phát triển NLS cho học sinh trung học qua một bộ môn cụ thể chưa có nhiều, có thể kể đến bài viết: “Phát triển NLS cho học sinh trung học qua môn Ngữ Văn” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga, được đăng trên Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam [6].
Bài báo tồng quan một số nghiên cứu về NLS, khung NLS của HS. Bài viết cũng chỉ ra những cơ hội có thể tích hợp, phát triển một số biểu hiện của năng lực này trong môn Ngữ văn cấp trung học, đồng thời minh hoạ bằng một kế hoạch bài dạy môn Ngữ văn ở lớp 10 theo Chương trình 2018. Với những thông tin đó, bài viết mong muốn các nhà nghiên cứu và các giáo viên có một cái nhìn cụ thể và khả năng phát triển NLS cho HS qua môn học. Bài báo “Thiết kế tình huống dạy học chủ đề Thống kê (Toán 11) nhằm phát triển năng lực số cho học sinh THPT” của Trịnh Thị Phương Thảo và các cộng sự là một trong số ít nghiên cứu về phát triển NLS cho học sinh trong bộ môn Toán [11].
Trong nghiên cứu trên, nhóm tác giả làm rõ khái niệm NLS và trên cơ sở phân tích các gợi ý sư phạm giúp phát triển NLS cho HS trong dạy học Toán, đề xuất hai tình huống dạy học toán chủ đề “Thống kê” nhằm phát triển NLS cho HS THPT, góp phần tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong dạy học Toán 11. Bài báo “Thiết kế tình huống dạy học chủ đề Xác suất (Toán 11) nhằm phát triển năng lực số cho học sinh THPT” của Trịnh Thị Phương Thảo và các cộng sự [8] trên cơ sở tồng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, đề xuất quy trình thiết kế tình huống dạy học nhằm phát triển NLS cho HS, trình bày cơ hội phát triển NLS cho HS THPT trong dạy học Toán nói chung. Trên cơ sở 7 đó, nhóm tác giải thiết kế một số tình huống dạy học về chủ đề “Xác suất” nhằm phát triển NLS cho HS THPT. Một số nghiên cứu về dạy học chủ đề Phương pháp toạ độ trong mặt phẳng Chủ đề Phương pháp toạ độ trong mặt phẳng không phải là một chủ đề mới.
Đã có nhiều nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài này để phát triển các năng lực khác nhau. Nhóm tác giả Nguyễn Dương Hoàng, Trần Quản Lộ nghiên cứu về phát triển tư duy thuật toán cho học sinh với bài báo “Một số biện pháp phát triển tư duy thuật toán cho học sinh trong dạy học chủ đề Phương pháp toạ độ trong mặt phẳng (Toán 10)” đăng trên Tạp chí Giáo dục; Trương Thị Dung và nhóm tác giả nghiên cứu về phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh; Nguyễn Dương Hoàng và Trần Xuân Nam với bài báo “Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tư duy và lập luận toán học cho học sinh lớp 10 trong dạy học chủ đề phương pháp toạ độ trong mặt phẳng” đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp. Năng lực số đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam, mỗi bài viết có đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau. Bên cạnh đó, cũng đã có nhiều đề tài về dạy học chủ đề phương pháp toạ độ trong mặt phẳng nhằm phát triển năng lực cho HS.
Tuy nhiên, chưa có công trình, luận án, luận văn nào nghiên cứu về dạy học môn Toán chủ đề Phương pháp toạ độ trong mặt phẳng nhằm phát triển NLS cho học sinh THPT. Năng lực số của học sinh trung học phổ thông 1. Năng lực Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 định nghĩa năng lực như sau: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, 8 ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [1]. Tựu chung lại, năng lực là khả năng sử dụng tư duy, kỹ năng, thái đọ và vận dụng nó một cách hiệu quả để giải quyết vấn đề, hoàn thành công việc trong cuộc sống hàng ngày.
Năng lực số Năm 2006, Uỷ ban Châu Âu định nghĩa: “NLS là một trong những năng lực cơ bản toàn diện đến việc sử dụng công nghệ số một cách tự tin và có tư duy phản biện phục vụ cho học tập, giải trí, công tác và giao tiếp. NLS gồm những kĩ năng cơ bản về công nghệ thông tin như: sử dụng máy tính để tìm kiếm, tiếp cận, đánh giá, lưu trữ, tạo ra sản phẩm, trình bày và trao đổi thông tin cũng như giao tiếp và tham gia vào các mạng lưới hợp tác thông qua Internet” [10]. UNESCO (2018) cho rằng năng lực số là khả năng truy cập, điều khiển, thấu hiểu, kết hợp, giao tiếp, tính toán, sáng tạo thông tin an toàn và phù hợp thông qua công nghệ số để phục vụ cho thị trường lao động và khởi nghiệp. Nó bao gồm các năng lực thường được biết đến như năng lực sử dụng máy tính, năng lực công nghệ thông tin, năng lực thông tin và năng lực truyền thông [18].
Mỗi tác giả dựa trên các quan điểm và phương pháp tiếp cận khác nhau để đưa ra định nghĩa cho NLS. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm của nhóm tác giả Trịnh Thị Phương Thảo và cộng sự (2024) [10]. Trong đó, NLS là khả năng sử dụng các công cụ kĩ thuật số của con người một cách có hiệu quả để truy cập, ứng dụng, xây dựng những kiến thức mới thông qua công nghệ số vào đời sống thực tiễn, là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… mà người dùng cần để hoạt động hiệu quả trong môi trường số hoá.