chương 1 này, tác giả luận văn sẽ tổng hợp một số vấn đề chung liên quan đến đề tài như khái niệm, chức năng, yêu cầu của sách giáo khoa và sơ lược về lịch sử phát triển SGK Ngữ văn ở Việt Nam. Quan niệm về sách giáo khoa SGK là một tài liệu dạy học quan trọng trong nhà trường phổ thông, nhưng cho đến nay khái niệm về SGK chưa có sự thống nhất. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Sách giáo khoa là sách soạn theo chương trình dùng để dạy và học trong nhà trường” [59. Luật Giáo dục, chương 2 mục 2 điều 29 quy định: “Sách giáo khoa cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở những lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giảng dạy phổ thông.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình phổ thông, duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa” [10. Điều lệ trường Trung học, điều 23 ghi “Sách giáo khoa Trung học bao gồm sách bài học và sách bài tập theo danh mục được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở trường Trung học” [11. Tác giả Trần Bá Hoành đưa ra quan niệm về SGK như sau: “SGK theo cách hiểu thông thường là sách viết cho học sinh, căn cứ và chương trình đã được xác định chính thức” [43. Trong cuốn sách “Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc phương pháp của sách giáo khoa phổ thông”, tác giả…… đưa quan niệm về SGK như sau: “Sách giáo khoa trường phổ thông là một loại hình sách dành cho học sinh nghiên cứu học tập với sự chỉ đạo của giáo viên.
Đó là cách học tập chính thức, có tính tiêu chuẩn đối với học sinh, giúp các em nắm vững 10 kiến thức, rèn luyện kĩ năng và tư duy một cách tích cực, có ý thức để phát triển nhân cách và đào luyện mình thành con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [55. TS Trần Đức Tuấn trong bài viết “Sách giáo khoa và vấn đề nghiên cứu sách giáo khoa ở Việt Nam” đưa ra khái niệm về SGK (được hiểu là một bộ SGK) “là loại sách dùng riêng cho các trường phổ thông, là phương tiện dạy học đặc biệt do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn thẩm định, duyệt và sử dụng chính thức, thống nhất ổn định trong giảng dạy, học tập ở nhà trường và các cơ sở giáo dục khác nhằm thực hiện những mục tiêu cơ bản của giáo dục phổ thông” [54. Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng các khái niệm trên đều đề cập đến những nội dung cụ thể sau: SGK là sách soạn theo chương trình trong nhà trường phổ thông, được biên soạn với mục đích dạy và học nhằm cung cấp những kiến thức và kĩ năng cho HS. Chức năng của sách giáo khoa Chức năng của SGK đã được đề cập đến trong một số cuốn sách và bài viết cụ thể sau: Trong cuốn sách “Những yêu cầu chủ yếu vế nội dung và cấu trúc phương pháp của sách giáo khoa phổ thông”, (NXB Giáo dục – 1981) các tác giả đã đưa ra ba chức năng của SGK: 1.
Chức năng thông tin: Đây là chức năng thông báo những nội dung: khoa học, tài liệu, bao gồm phương pháp của bộ môn khoa học, phương pháp tư duy và và phương pháp học tập bộ môn. Chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập: SGK phải góp phần phát triển tư duy, năng lực độc lập học tập và sáng tạo. Ngoài ra SGK còn phát triển kỹ năng và năng khiếu, giúp HS có thể tự học, tự rèn luyện, và tự kiểm tra đánh giá. Chức năng kích thích hứng thú học tập: Ngoài hai chức năng trên, SGK phổ thông còn có nhiệm vụ kích thích HS lòng say mê học tập, yêu thích bộ môn và thấy được vui, hạnh phúc trong lao động, học tập và khám phá.
11 Bài viết “Sách giáo khoa và vấn đề nghiên cứu sách giáo khoa ở Việt Nam” trong cuốn “Sách giáo khoa trong xã hội hiện đại” TS. Trần Đức Tuấn đã chỉ ra SGK có hai chức năng sau: 1. Chức năng trung tâm (định hướng và hỗ trợ phát triển bền vững): SGK những kiến thức, những vấn đề, những kĩ năng, những viễn cảnh và những giá trị phát triển bền vững về 3 phương diện: môi trường, kinh tế và xã hội phải được thể hiện đầy đủ rõ nét trong chương trình SGK. Các chức năng cơ bản gồm 4 chức năng: thông tin/ tái tạo, định hướng tổ chức dạy học (Điều khiển), tạo động cơ, gây hứng thứ và kiểm tra, đánh giá.
Trong bài viết tác giả đã đưa ra một số ý kiến của các tác giả ở châu Âu về chức năng của SGK: “Trong những thập kỉ cuối thế kỉ thứ XX, khi đề cập các chức năng của SGK nhiều tác giả ở châu Âu thường nhấn mạnh đến các chức năng sư phạm và lí luận dạy học và thống nhất khi cho rằng các chức năng tái tạo (thông tin), chức năng điều khiển, chức năng luyện tập và kiểm tra, chức năng tạo động cơ, gây hứng thú học tập là những chức năng rất cơ bản của SGK” [54. Tuy nhiên, các tác giả còn đề cập đến một số chức năng khác nữa. Dưới đây là kết quả nghiên cứu chức năng của SGK của một số tác giả: Hacker Quan niệm Sujew (Liên Xô cũ, Sorina (Liên Xô (CHLB Đức, chung ở CHDC 1983) cũ, 1983) 1980, 1992) Đức (1980) 1. Chuyển đạt thông 1.
Điều khiển tin 2. Điều khiển Chuyển đạt thông 3. Ôn tập, kiểm tra, 2. Củng cố, tự kiểm tra 3.
Củng cố kết tin đánh giá 3. Tự giáo dục, quả 2. Cấu trúc Liên kết/ phối hợp 4. Kích thích 3.
Tự giáo dục, 5. Hợp lí hóa tổ Liên kết/ phối hợp 6. Phân hóa giáo dục/ phát chức DH 4. Nghiên cứu giáo triển dục/ phát triển 12 Trong cuốn sách “Các vấn đề sách giáo khoa” (NXB Giáo dục- 1998) tác giả đưa ra hai chức năng của SGK: 1.
Chức năng thông tin tức là chức năng cung cấp kiến thức cho HS. Chức năng dạy học và phát triển. Là chức năng hướng dẫn phương pháp học tập, nghiên cứu, trên cơ sở củng cố và phát triển năng lực tư duy của HS. Trong luận văn này, tác giả luận văn quan niệm SGK gồm có bốn chức năng sau: chức năng thông tin kiến thức, chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập, chức năng kích thích hứng thú học tập và chức năng giáo dục nhân văn.
Chức năng thông tin kiến thức Chức năng thông tin kiến thức là chức năng truyền thống, chức năng quan trọng nhằm thông báo nội dung khoa học, nội dung tài liệu, phương pháp dạy học. Một số quan điểm cho rằng chức năng thông tin kiến thức là chức năng duy nhất còn các chức năng khác có thể không cần thiết, chỉ là sự kéo theo. Trong quá trình giảng dạy, GV phải thực hiện được chức năng thông tin, bản thân GV phải hướng dẫn HS kích thích hứng thú học tập cho HS. Vì vậy, SGK cần được tổ chức tốt hệ thống thông tin kiến thức nhằm phục vụ cho việc giảng dạy và học tập của GV và HS.
Chức năng thông tin thể hiện qua nội dung SGK, được trình bày dưới dạng kênh hình (hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ…) và kênh chữ. Thông thường, sách giáo khoa bậc Tiểu học kênh hình và kênh chữ gần như tương đương nhau. Còn SGK Trung học cơ sở và Trung học phổ thông kênh hình chiếm số lượng ít hơn kênh chữ. Kênh chữ trong SGK giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện chức năng thông tin.
Lượng kênh hình trong SGK phải có sự tính toán phù hợp sao cho HS lĩnh hội kiến thức một cách phù hợp và không để HS phân tán. Kênh chữ và kênh hình là những thông tin được dùng chủ yếu trong SGK ở các cấp học. Vì vậy, chúng cần phải được thể hiện chính xác, khoa học, hài hòa về mặt thẩm mỹ, phù hợp với tâm lí từng cấp học và đặc biệt phải mang tính sư phạm. Các thông tin trong SGK qua kênh chữ và kênh hình thường đa dạng, phong 13 phú được đưa ra dưới dạng gợi mở, đòi hỏi ở người học tư duy linh hoạt mới có thể giải quyết vấn đề được đặt ra.
Kênh hình bao gồm ảnh chụp, tranh ảnh, hình vẽ, sơ đồ, các hình ảnh khá rõ nét chi tiết mang tính cân đối thẩm mỹ…phù hợp với kênh chữ, thể hiện đúng đối tượng nghiên cứu, phù hợp với môi trường sư phạm. Kênh hình có khả năng kích thích hứng thú học tập, tạo tâm thế học tập cho HS, nó có giá trị rất lớn về vấn đề nhận thức của HS. Nội dung và lượng thông tin trong SGK gồm những đơn vị kiến thức môn học. Kiến thức không bao giờ đứng yên mà luôn vận động, kiến thức trong SGK thì phải ổn định, lâu dài.
Giải quyết vấn đề này chức năng thông tin phải hướng đến tính khoa học, ổn định, tính vừa sức và tính hấp dẫn. SGK là bộ sách được biên soạn phù hợp với từng cấp học, chính vì vậy lượng kiến thức phải đảm bảo vừa sức với học sinh từng cấp học. Kiến thức được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau như: khái niệm, quy luật, định lí, định nghĩa, quy tắc…SGK cấp trên không thể dùng được cho cấp dưới và ngược lại. Đặc biệt đơn vị kiến thức được đưa vào SGK phải phù hợp với từng lứa tuổi, đặc điểm tâm lí của HS.
Khác với những loại sách khác kiến thức trong SGK phải được lựa chọn, đưa vào chương trình những kiến thức phổ thông cơ bản, chuẩn mực và ổn định. Số lượng, chất lượng và sự bố trí, sắp xếp thông tin trong mỗi bài học phải đảm bảo yêu cầu vừa sức với mỗi HS. Tiến trình những kiến thức được chuyển tải qua nội dung các môn học ở các khối lớp từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao. SGK không những cung cấp thông tin kiến thức mà còn chỉ dẫn các cách lĩnh hội những kiến thức đó, trang bị cho HS phương pháp tư duy, học tập, rèn luyện kỹ năng thực hành.
SGK trong nhà trường phổ thông đã trở thành tài liệu định hướng, hỗ trợ phương pháp dạy và học cho GV và HS. Hệ thống bài tập, câu hỏi trong SGK phải bám sát nội dung bài học, vừa kích thích hứng thú học tập của HS, giúp HS tự nghiên cứu, tìm ra phương pháp tự học.