phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc chia làm 2 chƣơng: Chƣơng 1: Thực trạng Chƣơng 2: Một số giải pháp Luan van 5 CHƢƠNG 1 1.Trường Đại học Đồng Tháp Trƣờng ĐH Đồng Tháp đƣợc thành lập ngày 10/01/2003 theo Quyết định số 08/2003/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ và Công văn số 5830/VPCP-KGVX ngày 04 tháng 09 năm 2008 về việc đổi tên Trƣờng Đại học Sƣ phạm Đồng Tháp thành Trƣờng Đại học Đồng Tháp Nhà trƣờng đƣợc giao nhiệm vụ đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật có trình độ ĐH và sau ĐH cho vùng Đồng bằng sông C kinh tế – xã hội. 02 trung tâm, 01 Tạp chí khoa học (có chỉ số ISSN), 01 Thƣ viện trung tâm, 01 Trƣờng Mầm non Hoa hồng, 01 Trạm y tế và 01 Ban q (Nguồn: Trƣờng ĐH Đồng Tháp năm 2014) 1. Khoa SP Nghê Thuật – đổi mới phƣơng pháp dạy học Âm nhạc và Mỹ thuật cho các trƣờng Trung học cơ sở. * Luan van 6 Mục tiêu chung: Đào tạo cử nhân sƣ phạm Âm nhạc có trình độ lý luận và thực hành để giảng dạy âm nhạc ở các cấp học phổ thông, các trƣờng sƣ phạm, các khoa sƣ phạm âm nhạc của các trƣờng nghệ thuật và văn hóa nghệ thuật, góp phần giáo dục thẩm mỹ âm nhạc cho học sinh , sinh viên.
Mục tiêu cụ thể: - Về phẩm chất đạo đức: Có phẩm chất cơ bản của ngƣời giáo viên XHCN Việt Nam: thấm nhuần thế giới quan Mác- Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, yêu nƣớc, yêu CNXH, yêu học sinh, yêu nghề, có ý thức trách nhiệm cao, có đạo đức tốt, có tác phong mẫu mực của ngƣời giáo viên. - Về kiến thức: + Nắm vững kiến thức khoa học có hệ thống về trình độ đại học sƣ phạm về giảng dạy âm nhạc, bao gồm các kiến thức về khoa học xã hội- nhân văn, tâm lý học, giáo dục học, ngoại ngữ và âm nhạc. + Có khả năng nghiên cứu khoa học giáo dục âm nhạc và khả năng quản lý công tác dạy học âm nhạc ở các cơ quan quản lý giáo dục - Về kĩ năng: + Biết xây dựng kế hoạch giảng dạy âm nhạc + Có năng lực tổ chức các hoạt động về dạy và học âm nhạc + Có khả năng thể hiện các ca khúc nghệ thuật, diễn tấu đƣợc các bản nhạc soạn cho đàn Eletric keyboar + Có nghiệp vụ dạy học âm nhạc ở các cấp học phổ thông và trình độ cao đẳng, đại học + Nắm đƣợc phƣơng pháp nghiên cứu khoa học giáo dục âm nhạc + Có năng lực tuyên truyền, giáo dục âm nhạc + Biết tổ chức, vận động cha mẹ học sinh, sinh viên, các tổ chức xã hội, phối hợp với nhà trƣờng trong công tác chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ. + Biết theo dõi và kịp thời xử lý các thông tin về chuyên ngành bậc học nhằm không ngừng nâng cao trình độ.
Luan van 7 + Trợ giúp cho các cơ quan quản lý giáo dục về công tác dạy học âm nhạc + Có khả năng đóng góp vào phong trào âm nhạc chung. + Biết phát hiện, bồi dƣỡng, tạo điều kiện phát triển cho những học sinh có năng khiếu âm nhạc. *Chương trình đào tạo SVSP âm nhạc hệ Đại học Chƣơng trình đào tạo gồm 141 tín chỉ. Trong đó kiến thức giáo dục đại cƣơng = 42 tín chỉ, kiến thức giáo dục chuyên nghiệp= 99 tín chỉ trong đó kiến thức ngành 73 tín chỉ, kiến thức chuyên ngành tự chọn 15 tín chỉ, thực hành, thực tập nghề nghiệp là 14 tín chỉ, khóa luận tốt nghiệp hoặc môn học thay thế là 7 tín chỉ.Chương trình đào tạo SVSP âm nhạc hệ Đại học (xem bảng chƣơng trình đào tạo SVSP ở phụ lục số 1) Với sự phân bổ tín chỉ nhƣ trên chúng ta thấy chƣơng trình vẫn còn coi trọng vai trò của kiến thức hơn kỹ năng, còn nhiều kiến thức”kinh điển” thừa so với yêu cầu vận dụng thực hành thực tế ngoài xã hội, số lƣợng môn học đƣa vào chƣơng trình quá nhiều khiến sinh viên không còn đủ thời gian tự học, trau dồi kỹ năng ảnh hƣởng rất lớn đến chất lƣợng *Về đội ngũ và trình độ CBGV của khoa.
Hiện tại đội ngũ giảng viên khoa sƣ phạm Nghệ thuật của ĐH Đồng Tháp có 22 Giảng viên giảng viên và 03 chuyên viên (13 nam, 12 nữ), trong đó, có 01 Nghiên cứu sinh, 14 Thạc sĩ, 05 giảng viên đang hoàn thành chƣơng trình thạc sỹ, 02 Cử nhân và đƣợc cơ cấu thành 02 tổ bộ môn: Âm nhạc và Mỹ thuật.Riêng âm nhạc gồm có 8 Giảng viên, trong đó: - Một GV trình độ thạc sĩ chuyên ngành: Quản lý giáo dục - Một GV trình độ thạc sĩ chuyên ngành: Quản lý văn hóa - Một GV trình độ thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học âm nhạc - Một GV trình độ cử nhân chuyên ngành: Thanh nhạc Luan van 8 - Một GV đang học nghiên cứu sinh chuyên ngành: Âm nhạc dân gian - Một GV đang học cao học chuyên ngành: Quản lý văn hóa - Hai GV đang học cao hoc chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học âm nhạc Bảng 1. Thực trạng đội ngũ giảng viên âm nhạc của ĐH Đồng Tháp (tính đến tháng 5 năm 2015) Bằng tốt Tuổi đời Trình độ học vấn Chuyên ngành ĐH nghiệp ĐH Chỉ số Chính Tại Chỉ Thanh SP âm <45 >45 TS Th. sĩ CN qui chức huy nhạc nhạc Số 7 1 0 4 4 4 4 1 1 6 lƣợng Tỷ lệ 87, 12,5 0 50 50 50 50 12,5 12,5 75 % 5 Qua kết quả ngiên cứu( bảng 1.2) cho thấy: số GV tuổi đời trên 45 chỉ có 1 ngƣời, chiếm tỉ lệ 12,5%, còn lại 87,5% GV dƣới 45 tuổi, có 37,5% GV nam. Đây là nguồn lực mạnh mẽ cho công tác giáo dục âm nhạc, tuy nhiên hiện nay vẫn chƣa có GV nào trình độ tiến sĩ(mới có một GV đang nghiên cứu sinh), giảng viên chính không có, trình độ thạc sĩ 50%, trình độ đại học 50%, trong đó, số lƣợng GV có bằng tốt nghiệp đại học chính qui chiếm 50% và tại chức là 50%.
Mặc dù đội ngũ GV tuy đã tƣơng đối đủ về số lƣợng và đáp ứng đƣợc yêu cầu thực hiện chƣơng trình của Bộ GD& ĐT qui định. Tuy nhiên, chất lƣợng của một số bộ phận GV vẫn còn hạn chế. Một số GV cao tuổi, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy nhƣng đi theo lối mòn của phƣơng pháp cũ(do lịch sử để lại) và một số GV mới ra trƣờng chƣa có kinh nghiệm trong giảng dạy và cuộc sống, phƣơng pháp sƣ phạm còn non nớt, ít chịu học hỏi, chƣa nhạy bén và thích ứng với những tình huống và sự biến đổi phức tạp của giáo dục đại học. Kỹ năng sƣ phạm của một bộ phận giảng viên còn yếu, Luan van 9 phƣơng pháp giảng dạy chậm đổi mới, chƣa thực sự thay đổi cách dạy theo hƣớng “ dạy cho ngƣời học biết cách học” mà vẫn nặng nề “ dạy kiến thức cho ngƣời học”, chƣa chú trọng phát triển năng lực, giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng sống theo nếp sống có văn hóa cho sinh viên.
Số giảng viên có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ và tin học còn chiếm tỷ lệ thấp, do đó ảnh hƣởng nhất định tới việc khai thác tài liệu nƣớc ngoài, nghiên cứu khoa học. Điều nàyít nhiều đã ảnh hƣởng rất lớn đến chất lƣợng dạy học âm nhạc hiện nay. Bên cạnh đó số lƣợng các lớp học quá nhiều nhƣng số lƣợng GV thì lại quá ít cũng đã ảnh hƣởng rất nhiều đến chất lƣợng dạy học. Thực trạng hiện nay cho thấy có tình trạng quá tải giờ dạy của đội ngũ giảng viên (bảng 1.
Phân công giảng dạy năm học 2014- 2015 STT Họ và tên GV Chính qui Liên thông Tổng số giờ 1 Trƣơng Thị Kim Hạnh 510 645 1155 2 Trần Thanh Phong 610 475 1085 3 Trần Văn Thành 471 405 786 4 Võ Xuân Hùng 594 422 1016 5 Lại Thị Thanh Thủy 390 0 390 6 Nguyễn Hoàng Phƣơng Thi 189 0 189 7 Trần Nguyễn Thanh Thảo 264 495 759 8 Nguyễn Thị Quỳnh Nhƣ 165 180 419 Kết quả bảng 1. cho thấy có những GV dạy 1000 tiết/năm trong khi qui định là: 320 tiết/ năm dành cho GV trình độ thạc sĩ và 300/năm dành cho GV trình độ cử nhân. Tình trạng quá tải giờ dạy diễn ra liên tục trong thời gian dài khiến cho rất nhiều GV không còn thời gian dành cho học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, không cập nhật đƣợc một cách thƣờng Luan van 10 xuyên các kiến thức và kỹ năng mới, thiếu thời gian cần thiết để chuẩn bị giáo án, tiếp xúc với sinh viên và nghiên cứu. Công tác NCKH chƣa đƣợc chú trọng: nội dung NCKH không có chất lƣợng, hiệu quả, không có tính thực tiễn và khả năng ứng dụng mà chỉ nhằm đối phó hoặc để chấm điểm bình xét thi đua, xét phong danh hiệu.
Ngoài ra, cơ chế quản lý, sử dụng đội ngũ giảng viên hiện nay không phát huy hết tiềm năng của cả đội ngũ và từng cá nhân, không khuyến khích đƣợc sự phấn đấu trong chuyên môn. Cơ chế, chính sách đãi ngộ chƣa tƣơng xứng, vẫn dựa chủ yếu vào khối lƣợng giảng dạy và thâm niên công tác mà không căn cứ vào thành tích và khả năng nghiên cứu của cá nhân, chƣa đảm bảo cho giảng viên có cuộc sống đủ để có thể toàn tâm, toàn ý cho việc bảo đảm chất lƣợng hoạt động giảng dạy và NCKH. * Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hóa của chúng ta có nhiều điều kiện giao lƣu, tiếp xúc với các nền văn hóa trên thế giới kể cả văn hóa phƣơng Đông và phƣơng Tây. Việc học tập tiếp thu những tinh hoa, văn hóa của các nền văn hóa khác là cần thiết.
Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do đó, sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hóa không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợi cho bản thân họ. Nói đến sinh viên tức là nói đến thế hệ đang nắm trong tay tri thức cùng với những hiểu biết về tiến bộ xã hội nói chung và sự phát triển của đất nƣớc nói riêng. Về mặt số lƣợng, sinh viên là một lực lƣợng không nhỏ. Họ là lớp ngƣời đang đƣợc đào tạo toàn diện và đầy đủ nhất, bao gồm các chuyên ngành học trên khắp các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, khoa học.