CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Đội ngũ giảng viên Nghề dạy học đã có mặt tại Việt Nam từ thời kỳ cổ đại và có nhiều tác động sâu sắc bởi triết học Nho giáo Trung Hoa. Đặc biệt, trong việc gọi người làm nghề dạy học, ta có các danh xưng như "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư – Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy", "Lương sư hưng quốc – Thầy giáo tài giỏi đem tới phồn vinh cho nước nhà", "Ân sư vĩnh ký – Ơn thầy luôn được ghi nhớ đời đời", "Vạn thế sư biểu – Người thầy của muôn đời".
Khi chữ Nôm xuất hiện, danh xưng đã trở thành thầy, thầy đồ, ông đồ, cụ đồ. Điển hình bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên hoặc khi nhân dân gọi nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu một cách gần gũi là "Cụ Đồ Chiểu" hoặc "Đồ Chiểu". Lý do để nhân dân đã dùng các danh xưng trên là vì trong xã hội xưa có tư tưởng "trọng nam kinh nữ”, chỉ có nam giới được quyền học tập, còn nữ giới lại không được học hành. Chỉ có một số ít con gái trong nhà giàu sang, phú quý hoặc con gái nhà có chữ được xem như con gái của cụ đồ mới được học hành.
Tuy nhiên, sau này danh xưng "thầy" được gọi chung cho người làm nghề giáo chứ không phân biệt giới tính như "Con đò của thầy chở biết bao nhiêu người" hay "Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy". từ lúc chữ Hán xuất hiện, người làm nghề giáo được gọi với những danh xưng khác nhau mà chung nhất là nhà giáo, tiếp đến thầy giáo, cô, giáo viên. Hiểu ý nghĩa của từng danh xưng trên làm cơ sở để định nghĩa được khái niệm giáo viên được chuẩn xác hơn. Theo luật Điều 66 của Luật Giáo dục (2019) quy định nhà giáo là người làm công tác giảng dạy, giáo dục trong trường học, cơ sở giáo dục khác.
Khái niệm về giảng viên được học viên đưa ra từ cơ sở trên, xác định rằng: “Giảng viên đó là người thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và hướng dẫn trong các trường đại học, cao đẳng hoặc trung cấp”. Khái niệm đội ngũ giảng viên “Đội ngũ là một tổ chức được tập hợp và gộp lại trở thành một lực lượng để thực thi một hoặc vài công việc, có chung trình độ hoặc không thuộc chuyên ngành song lại có mục đích chung” [6]. Hiểu theo nghĩa đơn giản: Đội ngũ giáo viên là một tập thể những giáo viên làm công việc dạy học, giáo dục, được sắp xếp hợp thành một lực lượng, có chung một nhiệm vụ là thực hiện những mục đích giáo dục đã đề ra trong tập hợp đó. Họ hoạt động có trách nhiệm và gắn bó với xã hội thông qua lợi ích cả vật chất và ý thức theo khuôn khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội.
Hiểu theo nghĩa rộng lớn: Đội ngũ giáo viên là các cán bộ làm công việc giảng dạy và quản lý giáo dục tại các trường đại học, cao đẳng, đào tạo giáo viên. Đội ngũ giáo viên Việt Nam là những người lao động trí óc thông minh, có lòng yêu Tổ quốc, tự hào dân tộc cao, chăm chỉ, cần mẫn, linh hoạt và nhanh nhạy với xu thế phát triển của xã hội. Đồng thời họ cũng là lực lượng trí thức tương lai đông đảo. Chính nhờ lực lượng này đã hình thành đội ngũ nhà khoa học tài năng, các chuyên gia đầu ngành.
Họ có năng lực và thực tiễn đã có nhiều cống hiến quan trọng và thiết thực trên tất cả hai mặt: Thu hút những tài năng mới, phát triển lực lượng trí thức, đẩy mạnh việc phát triển và áp dụng tiến bộ công nghệ, kỹ thuật, khoa học quản lí, y tế, giáo dục, phát triển kinh tế - xã hội, giúp thúc đẩy nhanh chóng tiến trình phát triển đất nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Khái niệm chất lượng "Chất lượng là yếu tố cấu thành nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, hiện tượng, nhằm cải tiến chất lượng hàng hoá, nâng cao chất lượng dịch vụ. Từ cơ sở trên học viên đưa ra khái niệm: Chất lượng là khái niệm chỉ mức độ một tập hợp các tính chất sẵn có, hình thành từ sự vật, bảo đảm cho sự vật đáp ứng tốt nhất các mục đích, yêu cầu đã xác lập. Khái niệm nâng cao chất lượng Theo Hoàng Phê, “Nâng cao là làm cho cao hơn trước, đưa đến mức độ cao hơn để nâng cao chất lượng, đời sống ngày càng nâng cao” [12].
Học viên hiểu khái niệm: “Nâng cao chất lượng ĐNGV là khái niệm chỉ mức độ cao hơn của một tập hợp các thuộc tính sẵn có, cấu tạo nên ĐNGV với tư cách là chủ thể của quá trình giảng dạy, nghiên cứu ở các cơ sở giáo dục nhằm đáp ứng ngày càng cao hơn các yêu cầu của ngành giáo dục so với trước đây” [3]. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Chất lượng đội ngũ giảng viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là đội ngũ những giáo viên làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học kỹ thuật trong mỗi cơ sở giáo dục nghề nghiệp, họ kết hợp với nhau thực hiện nhiệm vụ, mục đích đào tạo nghề nghiệp, họ tham gia giảng dạy và giáo dục học sinh, sinh viên theo yêu cầu của các quy định có tính chất pháp luật của ngành đào tạo nghề và của Nhà nước. Đặc điểm dạy nghề là dạy thực hành chủ yếu để rèn kĩ năng nghề đối với người học, trong đội ngũ giảng viên tại mỗi cơ sở giáo dục nghề nghiệp số lượng giảng viên dạy kết hợp (lý thuyết và thực hành) và thực hành nghề nghiệp chiếm tỷ trọng đông hơn do vậy đối với hoạt động giảng dạy cần chú ý phát triển đội ngũ giảng viên trong mỗi cơ sở giáo dục nghề nghiệp có chất lượng cao theo tiêu chuẩn. 13 Để nâng cao chất lượng ĐNGV tại các đơn vị GDNN phải thực hiện tốt chính sách hoạch định, sàng lọc, phân công, lựa chọn, bồi dưỡng, đào tạo, tiêu chuẩn hóa, giao trách nhiệm, thực hiện chính sách, nhắm tạo điều kiện làm việc thuận tiện.
Quá trình nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên là một quá trình thực hiện toàn diện, đổi mới cơ bản nhằm kiện toàn đội ngũ giảng viên để thỏa mãn các đòi hỏi và thử thách trong quá trình hoạt động thực tiễn của đơn vị. Đặc điểm đội ngũ giảng viên tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Đội ngũ giảng viên tại các cơ sở GDNN có những đặc thù riêng về lao động sư phạm và hoạt động dạy học. Thứ nhất, đặc điểm lao động sư phạm. - GVDN đòi hỏi phải có khả năng dạy học tích hợp là sự kết hợp giữa giảng dạy lý thuyết trên lớp đồng thời hướng dẫn thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tế cho người học.
Mục đích là để sinh viên có cái nhìn trực quan nhất đối với công việc, sản phẩm mà họ tiến hành thực hiện, đồng thời đưa ra những cảnh báo, lưu ý để học viên hiểu được cơ chế hoạt động, cách vận hành và tránh những rủi ro, sai sót có thể xảy ra. Khi kết thúc mô dun, môn học, GVDN sẽ tiến hành đánh giá kĩ năng thực hành nghề của học viên theo các chuẩn mực của ngành nghề và của quá trình sản xuất kinh doanh. Các tiêu chí này sẽ được áp dụng để đánh giá khả năng của học viên trong việc áp dụng kiến thức vào công việc. - Ngoài ra, GVDN còn tham gia vào quá trình nghiên cứu và đổi mới chương trình, phương pháp dạy học.
Họ cũng đóng góp vào việc xây dựng mô hình học liệu mới nhằm đáp ứng sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ về kĩ thuật và công nghệ trong sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, để thích ứng với 14 những thay đổi này, GVDN phải liên tục bồi dưỡng và cập nhật kiến thức và kỹ năng mới. - GVDN luôn yêu cầu có tác phong công nghiệp bởi trong thực tế, các ngành nghề luôn đòi hỏi người lao động phải linh hoạt, nhạy bén và nhanh nhẹn trong các tình huống. Trong quá trình giáo dục HSSV không chỉ có các giờ học lý thuyết trên lớp, mà còn có sự kết hợp với việc thực hành và trải nghiệm thực tế tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, đặc biệt là giáo dục về ý thưc, tác phong, văn hóa doanh nghiệp chuẩn bị cho sinh viên sẵn sàng làm việc ngay sau khi tốt nghiệp.
Thứ hai, đặc điểm về thời gian và định mức giảng dạy. Theo quy định, “thời gian giảng dạy trong kế hoạch đào tạo sẽ được tính bằng giờ. Một giờ dạy lý thuyết sẽ được tính là 1 giờ chuẩn, tương ứng với 45 phút. Một giờ dạy tích hợp, kết hợp cả lý thuyết và thực hành, cũng sẽ được tính là 1 giờ chuẩn, tương đương với 45 phút.
Trong khi đó, một giờ dạy thực hành sẽ được tính là 1 giờ chuẩn, tức là 60 phút” [16]. Định mức giờ giảng đã quy định số lượng giờ chuẩn mà mỗi nhà giáo phải tiến hành trong suốt năm học. - “Nhà giáo dạy trình độ cao đẳng có định mức từ 350 đến 450 giờ chuẩn - Nhà giáo dạy trình độ trung cấp có định mức từ 400 đến 510 giờ chuẩn” [13] * Quy định đối với Gv dạy lý thuyết và GV dạy thực hành - Đối với nhà giáo dạy lý thuyết: + Có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành hoặc đại học sư phạm chuyên ngành trở lên, phù hợp với ngành nghề giảng dạy. + Nắm vững kiến thức ngành, nghề được phân công giảng dạy.
+ Có kiến thức vè ngành, nghề liên quan. + Hiểu biết thực tiễn nghề nghiệp và những tiến bộ khoa học kĩ thuật, công nghệ mới của ngành, nghề được phân công giảng dạy. - Đối với nhà giáo dạy thực hành 15 + Có một trong các chứng chỉ kỹ năng nghề phù hợp với ngành nghề giảng dạy để dạy thực hành trình độ cao đẳng sau: Chứng chỉ kĩ năng nghề quốc gia Bậc 3 hoặc chứng nhận bậc thợ 5/7, 4/6 trở lên hoặc chứng nhận nghệ nhân nhân dân, nghệ sĩ nhân dân, thầy thuốc nhân dân hoặc bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc chứng chỉ kĩ năng thực hành nghề trình độ cao đẳng nghề hoặc tương đương. + Thực hiện thành thạo các kĩ năng của ngành, nghề được phân công giảng dạy.
+ Tổ chức thành thạo các hoạt động sản xuất, dịch vụ ngành nghề được phân công giảng dạy.