Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược và phát triển năng lực tự học của học sinh. Thiết kế tiến trình dạy học chương “Động lực học” – Vật lí 10 Kết nối tri thức theo mô hình lớp học đảo ngược. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH 1. Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược 1. Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược Đã có nhiều quan niệm khác nhau về LHĐN: Theo Garrison và Kanuka (2004): Mô hình LHĐN đã tạo ra được môi trường học thực học (deep learning), học có ý nghĩa (meaningful learning) cũng như phát triển tư duy phê phán và hình thức học cấp cao, nó cũng tạo ra môi trường làm việc độc lập và tự kiểm soát việc học. Theo Strayer (2012): LHĐN (Flipped classroom) là một phương thức thiết kế dạy học theo mô hình kết hợp, đã và đang phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới và có các thức tổ chức dạy học đảo ngược so với lớp học truyền thống.
Theo Flipped Learning Network: Học tập đảo ngược (Flipped Learning) là một phương pháp sư phạm, ở đó việc hướng dẫn trực tiếp chuyển từ không gian học theo nhóm sang không gian học cá nhân và do đó không gian nhóm trở thành môi trường học tập năng động và tương tác, nơi nhà giáo hướng dẫn người học áp dụng các khái niệm và tham gia một cách sáng tạo vào các vấn đề. Các quan điểm tuy khác nhau về LHĐN nhưng đều nói về sự “đảo ngược” của phương pháp dạy học truyền thống, là nơi mà người học có sự tiếp xúc đầu tiên với các tài liệu mới bên ngoài lớp học, thường là qua các bài đọc, video bài giảng, nghiên cứu bài học qua Internet; sau đó, khi đến lớp người học sẽ làm bài tập, trao đổi, chia sẻ các nội dung của bài học, giải quyết các vấn đề, tình huống do người dạy đặt ra. Bản chất giờ học trên LHĐN tạp trung giải quyết các nội dụng vốn trước đây được coi là bài tập về nhà và dành nhiều thời gian hơn cho việc thảo luận, đào sâu kiến thức. Trong mô hình LHĐN, bài giảng của GV được chuyển tải để nghiên cứu trước khi đến lớp, thời gian trên lớp được dành cho các hoạt động tích cực của HS, cá kỹ năng giao tiếp, học tập độc lập, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, cũng như tương tác giữa GV và HS, giữa HS và HS được tăng cường.
Mô hình LHĐN tạo ra môi 5 trường học tập linh hoạt, uyển chuyển, các kỹ năng để học tập suốt đời, suy nghĩ sâu và nhiều phẩm chất tích cực, người học được tham gia nhiều với bài giảng. Lịch sử ra đời và phát triển của mô hình lớp học đảo ngược Ý tưởng và mô hình Lớp học đảo ngược được hình thành tại Mỹ từ những năm 1990. Năm 1993, Alison King xuất bản công trình “From sage on the stage to guide on the side” (Từ nhà thông thái trên các tượng đài thành người đồng hành bên cạnh bạn). Trong đó, King đặc biệt chú trọng vào việc GV cần sử dụng thời gian ở lớp để tổ chức cho HS tìm hiểu ý nghĩa của bài học hơn là truyền đạt thông tin.
Mặc dù chưa đưa ra khái niệm Lớp học đảo ngược nhưng công trình của King thường được các nhà giáo dục trích dẫn như là sự thúc đẩy và cách tân cho phép dành không gian lớp học vào các hoạt động hoạt tập tích cực. Đến năm 2000, các tác giả Lage, Platt và Treglia xuất bản công trình “Đảo ngược lớp học – cánh cửa dẫn đến sự sáng tạo môi trường học tập trọn vẹn”, trong đó giới thiệu các nghiên cứu về lớp học đảo ngược tại các trường cao đẳng. Đặc biệt, người có công lớn cho mô hình Lớp học đảo ngược là Salman Khan. Năm 2004, Khan bắt đầu ghi hình bài giảng của mình thành các video để phụ đạo cho em họ sống ở một bang khác.
Những video này được đưa lên TouTube và rất được yêu thích. Từ đó Salman Khan thành lập học viện Khan, cho đến nay đã có khoảng 2200 video bao gồm tất cả môn học, từ những kiến thức đơn giản nhất như thực hiện phép toán số học của tiểu học đến các bài giải tích vector trong chương trình đại học. Mùa xuân năm 2007, tại Trường Trung học Woodland Park, Colorado, Lớp học đảo ngược được GV Aaron Sams và Jonathan Bergman sử dụng. Họ cho rằng, việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược sẽ giúp HS học bất kỳ thời gian nào và bất kỳ ở đâu nếu HS có máy tính kết nối mạng Internet.
Jonathan và Aaron đã nhận được phần thưởng của tổng thống vì những thành công trong mô hình Lớp học đảo ngược. Ưu và nhược điểm của mô hình lớp học đảo ngược Mô hình lớp học đảo ngược là phương thức tổ chức dạy học đã và đang chứng tỏ sự phù hợp, có nhiều ưu thế trong tổ chức dạy học ở các nhà trường hiện nay. Một số ưu điểm và nhược điểm chính của phương thức tổ chức dạy học này là: 6 Bảng 1. Ưu và nhược điểm của mô hình lớp học đảo ngược [5, tr.
15] Đối Ưu điểm Nhược điểm tượng Người - Mô hình dạy học phù hợp với - Không có cơ sở hạ tầng (máy học sự phát triển tư duy của người vi tính, kết nối Internet,…) học. đảm bảo, đồng đều để phục vụ - Giúp người học chủ động học việc học. - Còn nhiều người học thụ - Sử dụng hiệu quả thời gian học động, chưa có ý thức tự học. tập tại nhà và trên lớp.
- Việc tiếp cận nguồn học liệu - Giúp nâng cao năng lực phát có thể khó khan đối với một số hiện – giải quyết vấn đề và rèn người học chưa có kỹ năng về luyện các kỹ năng cho người công nghệ thông tin. học (kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, thuyết trình, nghiên cứu tài liệu,…) Giáo viên - Khai thác được thế mạnh của - Giáo viên vẫn còn hạn chế về mô hình để tổ chức hoạt động công nghệ thông tin để xây dạy học hiệu quả. dựng nội dung bài giảng trên - Có thêm thời gian để mở rộng, phần mềm tin học. nâng cao kiến thức cho người - Một số giáo viên hiểu sai về học và chú ý, hỗ trợ người học phương pháp giáo dục này, vô gặp khó khăn trong quá trình tình khiến tiết học quay về nhận thức (không bị giới hạn phương pháp giảng dạy cũ.
trong lớp học). - Mất nhiều thời gian để chuẩn - Hệ thống bài giảng, học liệu bị bài giảng. Khó khăn trong dùng cho giảng dạy được sử dự đoán các tình huống trong dụng, khai thác khoa học, hiệu quá trình tổ chức lớp học. quả hơn, có thể sử dụng học - Khó quản lý và giám sát liệu dùng chung, học liệu mở người học học bài trước khi cho các môn học.
học trên lớp. Sự khác nhau giữa mô hình lớp học đảo ngược và mô hình dạy học truyền thống Trong lớp học truyền thống, GV chỉ hướng dẫn, truyền đạt kiến thức. Vì thế, khi ở trên lớp HS chỉ đạt hai mức đầu của thang đo cấp độ tư duy là “Ghi nhớ”, “Thông hiểu”. Để đạt được mức độ cao hơn là “Ứng dụng”, “Phân tích”, “Đánh giá”, “Sáng tạo”, HS phải nỗ lực tự học và nghiên cứu ở nhà.
Trong LHĐN, dưới sự hướng dẫn của GV, HS sẽ tự học, nghiên cứu bài giảng và tài liệu ở nhà để đạt hai mức đầu là “Ghi nhớ” và “Thông hiểu”. Sau đó, HS lên lớp tương tác, thảo luận, thuyết trình với GV và các bạn cùng lớp để đạt bốn mức độ cao hơn là “Ứng dụng”, “Phân tích”, “Đánh giá”, “Sáng tạo”. Ở lớp học truyền thống, nhiệm vụ bậc cao lại do HS và phụ huynh là những người không có chuyên môn đảm nhận. Ngược lại, với LHĐN, việc tìm hiểu kiến thức được định hướng bởi GV (thông qua giáo trình E-Learning đã được GV chuẩn bị trước cùng thông tin cho học sinh tự tìm kiếm), nhiệm vụ của HS là tự khám phá những kiến thức mới này và làm bài tập ở mức độ dễ ở nhà.
Khi đến lớp, các em được GV tổ chức cho các hoạt động để tương tác và chia sẻ, các bài tập bậc cao, khó cũng sẽ được thực hiện tại lớp dưới dự hỗ trợ của GV và các bạn trong lớp, các hoạt động này đòi hỏi HS phải dùng nhiều đến hoạt động trí não. Như vậy những nhiệm vụ bậc cao trong thang tư duy Bloom được thực hiện bởi thầy và trò. Hiệu quả của lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược được đánh giá dựa trên thang đo cấp độ tư duy Bloom. Dạy học theo hướng phát triển phát triển năng lực tự học của học sinh 1.
Khái niệm tự học và năng lực tự học Theo từ điển Giáo dục học: “Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn của GV và sự quản lý trực tiếp của sơ sở đào tạo”. Trên thế giới có một số nhà nghiên cứu như: Nhà tâm lý học N.ARubakin xem “Tự học có nghĩa là sự tìm lấy kiến thức, là quá trình lĩnh hội tri thức, kỹ năng trong hoạt động thực tiễn, trong hoạt động của cá nhân nhằm đối chiếu với các mô hình phản ánh thực tại, biến các tri thức của loài người thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của thủ thể”. Năng lực là một thuộc tính quan trọng của nhân cách. Hiện nay, định nghĩa về năng lực đang được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận nhiều cách khác nhau.
Trong từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó”. Cách hiểu của Trần Trọng Thuỷ và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp những yêu cầu đặc trưng nhất định của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”. Từ những quan điểm trên về “tự học” và “năng lực”, khái quát về năng lực tự học như sau: “Năng lực tự học là khả năng người học độc lập, tự giác từ việc xác định mục tiêu học tập, thiết kế và thực hiện kế hoạch học tập đến việc tự đánh giá và điều chỉnh việc học nhằm tối ưu hoá việc lĩnh hội kiến thức và phát triển kỹ năng, năng lực”.