Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Giáo dục STEM là một hình thức giáo dục đã được các nước trên thế giới nghiên cứu và áp dụng từ khá lâu và hiện nay đang mang lại nhiều thành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển giáo dục. Tại Mỹ, xu hướng giáo dục STEM được hình thành từ đầu những năm 90.
Trong chương trình giáo dục STEM, các môn học về khoa học công nghệ không giảng dạy độc lập mà tích hợp lại với nhau thành một môn học thông qua phương pháp giảng dạy bằng dự án, trải nghiệm, thực hành,. Tại nhiều nước châu Âu và châu Mỹ, để phát huy tối đa sự sáng tạo của học sinh các cấp, các hội chợ khoa học (Science fair) được tổ chức thường xuyên từ cấp trường đến cấp quốc gia để khuyến khích sự sáng tạo của mỗi học sinh. Trong một thập kỷ trở lại đây nghiên cứu về giáo dục STEM đã, đang được rất nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu và xu hướng nghiên cứu về lĩnh vực này sẽ còn tiếp tục được phát triển. Theo thống kê của Josh Brown - Trường đại học Illinois “giai đoạn 2007 - 2010 tại Mỹ có 60 bài báo khoa học liên quan trực tiếp đến giáo dục STEM được xuất bản từ 8 tạp chí nổi tiếng trong lĩnh vực giáo dục của Mỹ, điều này cho thấy cơ sở khoa học đối với việc nghiên cứu về giáo dục STEM.
Tích hợp giáo dục STEM là một hướng nghiên cứu khá cơ bản về giáo dục STEM được rất nhiều nhà khoa học, tổ chức giáo dục quan tâm. Tiêu biểu là công trình của Hom E. J và các cộng sự” [15]. Đây là kết quả nghiên cứu trong một thời gian dài của nhóm các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực của Ủy ban tích hợp giáo dục STEM (Mỹ) dưới sự ủng hộ của Viện Kĩ thuật Quốc gia và Ban khoa học giáo dục của Hội đồng nghiên cứu quốc gia Mỹ.
Nghiên cứu này là một kinh nghiệm quý báu 6 về tích hợp giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông hệ 12 năm của Mỹ. Cụ thể: nghiên cứu đã mô tả về khung lí thuyết tích hợp giáo dục STEM, tổng quan nghiên cứu những kinh nghiệm tích hợp giáo dục STEM, những nghiên cứu liên quan đến việc thiết kế tích hợp những trải nghiệm STEM, ngữ cảnh cho việc triển khai tích hợp STEM. Tại Úc, từ năm 2009, chương trình iSTEM (Invigorating STEM) được thành lập như là một chương trình quốc gia làm giàu tri thức cho học sinh trung học ở Sydney, Úc. Chương trình tập trung vào việc đáp ứng những yêu cầu của học sinh và phụ huynh học sinh về những vấn đề mà họ quan tâm.
Chương trình iSTEM cũng tổ chức một chương trình làm giàu để đưa học sinh và giáo viên vào chương trình Học viện Không gian Hoa Kỳ. Tại Trung Quốc, các nghiên cứu liên quan đến giáo dục STEM ắt đầu muộn hơn so với Mỹ. Năm 2008 bắt đầu xuất hiện một vài bài báo, công trình nghiên cứu về giáo dục STEM. Sau đó, khoảng từ năm 2010 đến 2015, xuất hiện khá nhiều nhà nghiên cứu công bố những công trình liên quan đến vấn đề này, tiêu biểu như: Zhongjian Zhao, Huicheng Zhao và Shengquan Yu.
Nội dung nghiên cứu bao gồm diễn giải về giáo dục STEM của nước ngoài (tập trung nghiên cứu nhiều nhất là STEM tại Mỹ) và nghiên cứu lý thuyết về nội địa hóa giáo dục STEM của Trung Quốc. Giai đoạn gần đây, khoảng từ năm 2015 đến 2021, số lượng các bài nghiên cứu về giáo dục STEM của các nhà nghiên cứu tăng đột biến, các đề tài nghiên cứu được phân tích, tìm hiểu dưới nhiều góc độ, mang lại nhiều ý nghĩa học thuật to lớn. Bên cạnh đó, hiện nay trên thế giới có một số khuynh hướng nghiên cứu về giáo dục STEM như: lịch sử, quá trình phát triển, tầm quan trọng của giáo dục STEM tiêu biểu là các tác giả Morrison, Amanda Roberts, David W. Dugger, Ryan Brown… Những nghiên cứu theo hướng này tập trung tìm hiểu về bản chất của STEM, vai trò của STEM trong lịch sử phát triển khoa học công nghệ của loài người, những nhận thức về giáo dục STEM.
Các nghiên cứu ở trong nước Khác với các nước phát triển trên thế giới như Mỹ, Úc, Trung Quốc giáo dục STEM du nhập vào Việt Nam không phải bắt nguồn từ các nghiên cứu khoa học giáo dục hay từ chính sách vĩ mô về nguồn nhân lực của đất nước mà bắt nguồn từ các cuộc thi Robot dành cho học sinh từ cấp tiểu học đến trung học phổ thông do các công ty công nghệ tại Việt Nam triển khai cùng với các tổ chức nước ngoài. Mô hình giáo dục STEM được đưa vào Việt Nam từ năm 2010 thông qua sự phối hợp của liên doanh DTT - EDUSPEC với Trường Icarnegie (Hoa Kỳ) trên nền tảng là môn học Công nghệ thông tin và Robotics cho khối phổ thông cấp tiểu học đến Trung học phổ thông. Mô hình đã được mở rộng triển khai thí điểm tại thành phố Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh. Các nội dung chương trình STEM được triển khai theo chuẩn quốc tế và phù hợp với mục tiêu của Bộ Giáo dục & Đào tạo.
Trong dự án thí điểm: “Áp dụng phương pháp tiếp cận STEM của Anh vào bối cảnh Việt Nam năm 2016 - 2017” được Bộ áp dụng thí điểm trên học sinh các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh và Nam Định. Dự án với mục tiêu áp dụng STEM cho CBQL, GV của các nhà trường để nâng cao năng lực thực hành, thành tích học tập cho HS; Đổi mới sách, phương pháp dạy học, thiết kế các hoạt động ngoại khóa, nâng cao năng lực dạy học STEM cho GV, một số hướng phát triển STEM cho mỗi nhà trường… Năm 2017, tác giả Lê Xuân Quang nghiên cứu: “Dạy học môn Công nghệ phổ thông theo định hướng giáo dục STEM” [11], trong công trình này tác giả đã đề cập tới một số vấn đề như: Phần cơ sở lý luận về giáo dục STEM tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận như: khái niệm, quy trình dạy học theo định hướng giáo dục STEM, các tiêu chí để giáo dục STEM cho một số chủ đề…; Phần kết quả nghiên cứu thực trạng tác giả đánh giá thực trạng dạy học STEM, minh họa một số chủ đề dạy học theo định hướng STEM ở môn Công nghệ lớp 8. 8 Vào năm 2017 - 2018 xuất hiện công trình nghiên cứu: “Dạy học chủ đề STEM cho HS THCS và Trung học phổ thông”, “Thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề STEM cho HS THCS và trung học phổ thông” của tập thể các tác giả Nguyễn Thanh Nga, Phùng Việt Hải, Nguyễn Quang Linh, Hoàng Phước Muội, Nguyễn Anh Dũng, Ngô Trọng Tuệ. Tài liệu được xuất bản thành sách cung cấp cho độc giả thêm cơ sở lý luận, một số chủ đề.
cho việc dạy học môn KHTN theo định hướng giáo dục STEM [9]. Năm 2018, Nguyễn Văn Biên, Tưởng Duy Hải (đồng chủ biên) cùng tập thể các các tác giả khác công bố tài liệu về “Giáo dục STEM trong nhà trường phổ thông”. Trong tài liệu này các tác giả đã đề cập tới: quy trình thực hiện giáo dục STEM; cách thức đưa giáo dục STEM vào các môn học và hoạt động giáo dục; mô tả một số chủ đề STEM cụ thể. Kết quả của công trình nghiên cứu cho thấy: Muốn giáo dục STEM trong nhà trường đạt hiệu quả thì CBQL, GV cần nhận thức rõ về bản chất, đặc trưng của giáo dục STEM, biết cách vận dụng kiến thức liên môn vào từng tiết học cụ thể [2].
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về giáo dục STEM trong nhà trường phổ thông, chúng tôi cũng thấy xuất hiện một số công trình nghiên cứu có liên quan gần đến hướng nghiên cứu của đề tài. Một số công trình nghiên về quản lý hoạt động dạy học trong một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục trong những năm gần đây như: Năm 2018, luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục do tác giả Bùi Xuân Qúy nghiên cứu: “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên”. Năm 2019, luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục do tác giả Lê Thị Tú Anh nghiên cứu: “Quản lý hoạt động dạy học môn khoa học tự nhiên theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên”. 9 Năm 2020, luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục do tác giả Phạm Thị Khánh Hương nghiên cứu: “Quản lý hoạt động dạy học môn Khoa học tự nhiên theo định hướng giáo dục STEM ở các trường THCS thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.
Năm 2020, luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục do tác giả Nguyễn Ngọc Qúy nghiên cứu: “Quản lý hoạt động dạy học môn Khoa học tự nhiên theo chương trình Giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”… 1. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Hiện nay khái niệm này có khá nhiều các quan điểm và cách hiểu khác nhau, dưới đây chúng tôi trình bày một số khái niệm cơ bản: Theo từ điển tiếng Việt tác giả Hoàng Phê (chủ biên): “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [10]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [6].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đã dự kiến” [12]. Từ lý luận và thực tiễn hoạt động quản lý cho thấy hoạt động muốn thành công cần trang bị những kiến thức quản lý một cách khoa học, bài bản. Bên cạnh đó, hoạt động này cũng là một “nghệ thuật” đòi hỏi năng lực vận dụng linh hoạt, khôn khéo của CBQL các nhà trường.