CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Một số định hướng trọng tâm của CTGDPT mới (2018) CTGDPT năm 2018 được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp HS hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng.
Quan điểm này được thể hiện nhất quán ở nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục của các môn học. Cụ thể: Về nội dung: Theo CTGDPT môn Ngữ văn hiện hành ở trường THCS và THPT, HS được hướng dẫn tìm hiểu hai loại văn bản: văn bản văn học và văn bản nhật dụng. Trong đó, văn bản nhật dụng “không phải một thể loại văn học hay một kiểu văn bản. Sở dĩ gọi văn bản nhật dụng là xuất phát từ nội dung đề tài (gắn với những vấn đề có tính thời sự)… và vì thế những văn bản này có thể thuộc bất kì thể loại nào của văn học hoặc không phải văn bản văn học.
Như vậy, khái niệm văn bản thông tin chưa xuất hiện trong chương trình Ngữ văn hiện hành” [41, tr. Tuy nhiên, nếu hiểu “văn bản thông tin chủ yếu được viết để truyền đạt thông tin hoặc kiến thức. Do đó, kiểu văn bản này thường trình bày thông tin một cách khách quan: cung cấp thông tin về đối tượng một cách trung thực, giúp người đọc/ người nghe hiểu chính xác những gì được mô tả, giới thiệu” [41, tr. 91] thì có thể thấy hầu hết các văn bản trong các sách giáo khoa các môn học đều có thể coi là văn bản thông tin; riêng đối với sách giáo khoa Ngữ văn THCS hiện hành, có một số văn bản nhật dụng viết theo phương thức thuyết minh được xếp vào nhóm văn bản thông tin như: 13 + Lớp 6: Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử; Động Phong Nha.
+ Lớp 7: Ca Huế trên sông Hương. + Lớp 8: Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000; Ôn dịch, thuốc lá; Bài toán dân số. + Lớp 9: Đấu tranh cho một thế giới hòa bình; Tuyên bố thế giới về sự sống còn; quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em. Ngoài ra, một số đoạn tóm tắt (trước) hoặc đoạn chú thích (sau) các bài đọc hiểu thực chất cũng là văn bản thông tin.
Qua những thống kê trên có thể thấy số lượng văn bản thông tin trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THCS hiện hành là không nhiều. Các văn bản đó cũng được trình bày chủ yếu dưới dạng chữ, hầu như không có thêm các sơ đồ, bảng số liệu minh họa,… Đặc biệt, thể loại của văn bản thông tin chưa đa dạng, chưa có nguồn văn bản kĩ thuật số để hướng dẫn HS đọc hiểu. Theo CTGDPT năm 2018, do chủ trương xây dựng chương trình theo hướng mở, thể hiện ở việc không qui định chi tiết về nội dung dạy học mà chỉ qui định những yêu cầu cần đạt về nghe, nói, đọc, viết ở mỗi lớp. Bên cạnh một số văn bản bắt buộc là một danh mục gợi ý các văn bản ngữ liệu cho phép GV được chọn và sử dụng.
Không những thế, trên cơ sở kế thừa, CTGDPT mới phát triển định hướng dạy học tích hợp và phân hóa theo định hướng phát triển năng lực người học. Về phương pháp: Trước đây, chương trình Ngữ văn của chúng ta chưa quan tâm nhiều đến phát triển năng lực đọc hiểu văn bản thông tin cho HS bởi HS chủ yếu chỉ được tìm hiểu hệ thống văn bản văn chương. Các nhà trường không chỉ dành quá ít thời gian cho việc rèn luyện năng lực đọc hiểu loại văn bản thông tin mà ngay cả những kiểu văn bản cụ thể thuộc loại này cũng chiếm một số lượng rất khiêm tốn trong toàn bộ chương trình Ngữ văn. Mặc dù vẫn xuất 14 hiện trong chương trình Ngữ văn hiện tại nhưng cách khai thác của chúng ta trong giảng dạy chủ yếu vẫn thiên về nội dung của văn bản mà chưa hướng HS đến việc tìm hiểu những đặc điểm của văn bản (chẳng hạn như đặc điểm hình thức, đặc điểm ngôn ngữ, đặc điểm cấu trúc, hoặc là việc khai thác ý nghĩa từ những công cụ trình bày trực quan, v.) nên HS chưa có kĩ năng tiếp nhận và tạo lập những loại văn bản thông tin.
Thực tế chỉ ra rằng, việc dạy loại văn bản thông tin theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho người học có ý nghĩa lớn trong bối cảnh hiện nay. Bởi lẽ: “Một trong những lí do quan trọng nhất để cắt nghĩa tại sao cần học môn này sớm và trước các môn khác là xuất phát từ tính chất công cụ - phương tiện của môn học. Rõ ràng, biết đọc, biết viết là cơ sở và công cụ cho việc học những nội dung khác, những môn học khác. Ban đầu là học để biết đọc, biết viết, sau đó thông qua đọc và viết để học, học trong nhà trường và học suốt đời.
Cũng phải thông qua đọc và viết mà làm, thì làm mới có hiệu quả cao… Chính xuất phát từ tầm quan trọng này mà cho đến đầu thế kỉ XXI, yêu cầu biết đọc, biết viết cho tất cả mọi người vẫn là một trong những mục tiêu quan trọng mà UNESCO kêu gọi tất cả các quốc gia hoàn thành vào năm 2015”. 23] Trong bối cảnh cần phải nâng cao năng lực đọc hiểu để đảm bảo thực hiện mục tiêu thiết yếu có tính quốc tế, chương trình Ngữ văn của Việt Nam được tiến hành xây dựng, đổi mới theo yêu cầu của thời đại và của Nghị quyết 29 Ban Chấp hành trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Theo đó, CTGDPT môn Ngữ văn năm 2018 được xây dựng vừa tuân thủ các qui định cơ bản của chương trình tổng thể vừa căn cứ vào những đặc điểm riêng của bộ môn. Chương trình môn Ngữ văn mới lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói, nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng của yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực và đảm bảo tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp 15 học.
Các kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng về Tiếng Việt và văn học được tích hợp vào hoạt động dạy học đọc, viết, nói và nghe. Với chương trình môn Ngữ văn mới, kiến thức vẫn cần nhưng không phải mục tiêu cần đạt mà trở thành phương tiện để đạt tới mục tiêu cuối cùng là năng lực. “CTGDPT quan tâm đến vai trò của văn bản thông tin trong việc rèn luyện kĩ năng đọc hiểu để học sinh được chuẩn bị đầy đủ hơn những tri thức và kĩ năng tự nhiên, xã hội trước khi học lên cao hơn hoặc ra ngoài cuộc sống… Có thể thấy tỉ lệ đọc hiểu văn bản văn chương sẽ giảm dần, còn tỉ lệ của văn bản thông tin sẽ tăng dần theo cấp lớp và chiếm khối lượng đáng kể trong chương trình đọc hiểu. Việc này nhằm đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp và cuộc sống của người học trong tương lai” [43, tr.
Về kiểm tra, đánh giá: Để khắc phục hạn chế của cách kiểm tra đánh giá theo chương trình cũ, trong chương trình mới, để đảm bảo tính mở, tăng cường khả năng chủ động và sáng tạo của GV và HS, kiểm tra đánh giá là khâu cần được thay đổi một cách đồng bộ. Việc kiểm tra, đánh giá HS trong quá trình dạy học được thực hiện thông qua các sản phẩm hoạt động học trên lớp và ở nhà. Các bài kiểm tra, đánh giá và thi cũng không yêu cầu ghi nhớ kiến thức một cách máy móc mà yêu cầu HS sử dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập, cũng như trong thực tiễn. Qua đó, đánh giá được sự phát triển về phẩm chất, năng lực của HS.
Khái niệm đọc hiểu và dạy đọc hiểu văn bản trong môn Ngữ văn 1. Đọc hiểu Đọc hiểu văn bản là nội dung nghiên cứu đã thu hút tâm sức của rất nhiều nhà khoa học giáo dục trên thế giới trong khoảng 50 năm trở lại đây… đặc biệt là ở Mĩ và các nước phương Tây. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đọc hiểu và đọc hiểu văn bản. Tiêu biểu có thể kể đến như: Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA - The program for International Student Assessement) quan niệm: “Đọc hiểu là sự hiểu biết, sử 16 dụng, phản hồi và chiếm lĩnh các văn bản viết nhằm đạt được những mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng như tham gia vào đời sống xã hội của mỗi cá nhân”.
Theo PISA, định nghĩa về đọc và đọc hiểu có sự thay đổi theo thời gian và điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội. “Khái niệm đọc và đặc biệt là học suốt đời đòi hỏi phải mở rộng cách hiểu về việc đọc hiểu”. Quan niệm này của PISA hoàn toàn phù hợp với quan niệm của UNESCO về năng lực đọc hiểu: “Đó là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in ấn kết hợp với những bối cảnh khác nhau. “Literacy” đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách đầy đủ trong xã hội rộng lớn”.
Có thể nói quan niệm và yêu cầu của PISA về đọc hiểu không dựa theo một CTGDPT của một quốc gia cụ thể nào. Nhưng việc nhiều nước tham gia PISA, trong đó có Việt Nam, chứng tỏ trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, các nước đang xích lại gần nhau, thống nhất một quan niệm chung về vai trò của văn bản thông tin trong học tập và trong đời sống của mỗi người. Bàn về đọc hiểu, giáo sư Nguyễn Thanh Hùng cho rằng “đọc - hiểu là một khái niệm khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động học; đọc – hiểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực văn của người đọc… Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa mối quan hệ đó. Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống.
Hiểu tức là phải trả lời câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Vì sao? Làm như thế nào? Đó là biết và làm trong đọc hiểu… Hiểu là quá trình nhận thức văn bản toàn vẹn” [24, tr.