Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài "Giáo dục Nho học ở Quảng Nam dưới triều Nguyễn (1802 - 1919)" do tác giả Bùi Quang Chuyên thực hiện tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn trong công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử:

  • Bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài: Thực trạng dạy học lịch sử nói chung và lịch sử địa phương nói riêng còn nhiều hạn chế, học sinh và sinh viên có biểu hiện lơ là kiến thức lịch sử cội nguồn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, việc gìn giữ bản sắc văn hóa và tìm về các giá trị truyền thống hiếu học là giải pháp quan trọng nhằm củng cố lòng tự tôn dân tộc, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong thi cử hiện đại. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu", tạo động lực để nghiên cứu lịch sử giáo dục khoa cử truyền thống. Đồng thời, dưới góc độ của một giáo viên lịch sử tương lai, tác giả hướng tới việc hệ thống hóa tư liệu để phục vụ công tác giảng dạy sau này.
  • Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Mục đích: Khôi phục diện mạo lịch sử giáo dục Nho học tại Quảng Nam dưới triều Nguyễn (1802 - 1919), làm rõ vai trò, vị thế của vùng đất này trong nền giáo dục dân tộc và rút ra các bài học kinh nghiệm cho sự nghiệp giáo dục hiện nay.
    2. Nhiệm vụ (3 nhiệm vụ chính):
      • Tìm hiểu điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội, lịch sử hình thành tỉnh Quảng Nam, bối cảnh giáo dục khoa cử triều Nguyễn và truyền thống Nho học bản địa.
      • Khảo cứu toàn diện tình hình giáo dục, hệ thống trường công, trường tư, thiết chế văn miếu, thi cử (thi Hương, thi Hội, thi Đình), tình hình bổ dụng và những cống hiến của đội ngũ kẻ sĩ Quảng Nam.
      • Đánh giá đặc điểm giáo dục Nho học và tầng lớp trí thức xứ Quảng, phân tích nguyên nhân thành tựu và rút ra bài học kinh nghiệm.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình học tập, thi cử Nho học tại địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 1802 - 1919.
    • Phạm vi không gian: Tỉnh Quảng Nam theo địa giới hành chính dưới triều Nguyễn (bao gồm các phủ, huyện: Điện Bàn, Thăng Bình, Tam Kỳ, Hòa Vang, Duy Xuyên, Quế Sơn, Đại Lộc, Tiên Phước).
    • Phạm vi thời gian: Từ năm 1802 (khi triều Nguyễn thành lập) đến năm 1919 (năm diễn ra khoa thi chữ Hán cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam).
    • Phạm vi nội dung: Khảo sát các thiết chế giáo dục (trường tỉnh, trường phủ/huyện, trường tư, văn miếu, văn chỉ), các kỳ thi cử, thành tích khoa bảng, chính sách bổ dụng quan lại và hoạt động của trí thức Nho học trên các lĩnh vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu được triển khai dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học mác-xít và nguồn tư liệu thư tịch cổ:

  • Quan điểm nghiên cứu: Khóa luận quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nghiên cứu khoa học lịch sử, bảo đảm tính khách quan, tính lịch sử cụ thể và tính toàn diện trong xử lý tư liệu.
  • Hệ thống nguồn tư liệu kế thừa:
    • Chính sử triều Nguyễn: Quốc triều Hương khoa lục, Quốc triều đăng khoa lục của Cao Xuân Dục; Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn.
    • Các công trình nghiên cứu chuyên sâu: Bộ sách Khoa cử Việt Nam (Tập thượng và Tập hạ) của Nguyễn Thị Chân Quỳnh; công trình khảo cứu Các nhà khoa bảng Quảng Nam của Phạm Ngô Minh và Trương Duy Hy; các bài viết nghiên cứu của Huỳnh Công Bá, Minh Nguyễn trên các tạp chí và báo chí chuyên ngành.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động, các sự kiện khoa cử, tiểu sử nhân vật và tình hình giảng dạy, học tập theo đúng trình tự thời gian từ 1802 đến 1919.
    • Phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp nhằm rút ra quy luật, bản chất và đặc trưng của giáo dục Nho học xứ Quảng trong mối quan hệ với thể chế triều Nguyễn.
    • Phương pháp so sánh (đồng đại và lịch đại): Đối chiếu thành tích khoa cử giữa các phủ, huyện trong tỉnh Quảng Nam và giữa Quảng Nam với 23 tỉnh thành khác trên phạm vi cả nước.
    • Phương pháp định lượng và thống kê mô tả: Phân loại, tổng hợp số liệu thí sinh trúng tuyển Cử nhân, Tiến sĩ, Phó bảng qua từng triều vua, tính toán tỷ lệ phần trăm và lập bảng dữ liệu đối sánh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: QUẢNG NAM VÀ TRUYỀN THỐNG GIÁO DỤC NHO HỌC

Chương này trình bày tổng quan về bối cảnh tự nhiên, dân cư, hành chính tỉnh Quảng Nam cùng diện mạo chung của nền giáo dục khoa cử Việt Nam thời Nguyễn:

  • Điều kiện tự nhiên, dân cư và lịch sử hình thành tỉnh Quảng Nam:
    • Vị trí địa lý: Nằm ở vĩ độ 14°57’10’’ đến 16°03’50’’ Bắc và kinh độ 108°44’20’’ Đông, diện tích tự nhiên 10.407,4 km², bờ biển dài trên 125 km. Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông, chia thành 3 vùng sinh thái: miền núi (8 huyện phía Tây), trung du (độ cao trung bình 100m) và đồng bằng ven biển. Mạng lưới sông ngòi gồm sông Thu Bồn (lưu vực 9.000 km²), sông Tam Kỳ (lưu vực 800 km²), sông Vu Gia (lưu lượng 400 m³/s). Khí hậu nhiệt đới 2 mùa, nhiệt độ trung bình 25,4°C, lượng mưa trung bình 2.000 - 2.500 mm.
    • Dân cư: Năm 2010 đạt 1.435.629 người, mật độ 139 người/km², tỷ lệ dân số nông thôn chiếm 81,4%. Cư dân bản địa gồm người Kinh (gốc di dân từ Thanh - Nghệ - Tĩnh vào từ thế kỷ XV) và các tộc người Cơtu, Cor, Gié Triêng, Xơ Đăng (chiếm 7,2% dân số).
    • Lịch sử hành chính: Năm 1306, Chế Mân dâng châu Ô và châu Rí làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân. Năm 1402, nhà Hồ chia thành Thăng, Hóa, Tư, Nghĩa. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông lập Đạo thừa tuyên Quảng Nam (gồm Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn). Năm 1806, vua Gia Long đặt Quảng Nam doanh. Năm 1831 (Minh Mạng thứ 12), đổi thành tỉnh Quảng Nam, gồm 8 phủ - huyện (Hòa Vang, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước).
  • Giáo dục, khoa cử Việt Nam dưới triều Nguyễn và truyền thống Nho học Quảng Nam:
    • Nhà Nguyễn nâng Nho giáo lên vị trí độc tôn để củng cố nền quân chủ trung ương tập quyền. Năm 1821, vua Minh Mạng dựng Di Luân Đường tại Quốc Tử Giám, đặt các chức quan Tế tửu, Tu nghiệp. Đến thời Tự Đức, cả nước có 158 trường học công lập tại các phủ, huyện. Năm 1822 mở lại thi Hội, thi Đình; năm 1829 đặt thêm học vị Phó bảng; áp dụng lệ "tứ bất" (không lập Trạng nguyên).
    • Nội dung học tập gồm sách sơ học (Tam Tự Kinh, Sơ học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi, Minh đạo gia huấn) và kinh điển Nho gia (Tứ thư, Ngũ kinh). Từ năm 1867, trường thi Nam Kỳ bãi bỏ khoa cử chữ Hán; nền Nho học suy thoái dần trước làn sóng phương Tây và chính thức chấm dứt vào khoa thi Kỷ Mùi (1919).
    • Tại Quảng Nam, thời chúa Nguyễn thi cử chưa quy củ nên người đỗ đạt ít. Đến năm Gia Long thứ 12 (1813), thí sinh Trần Văn Tú đỗ Cử nhân, mở đầu cho giai đoạn đỗ đạt liên tục của sĩ tử đất Quảng suốt từ 1813 đến 1919.

Chương 2: TÌNH HÌNH GIÁO DỤC NHO HỌC CỦA QUẢNG NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 - 1919)

Chương này tập trung khảo cứu các thiết chế giáo dục, kết quả các kỳ thi, tình hình bổ dụng và vai trò của kẻ sĩ Quảng Nam trong lịch sử triều Nguyễn:

  • Hệ thống trường công, văn miếu và trường tư:
    • Trường công: Trường tỉnh Quảng Nam ban đầu đặt tại xã Câu Nhi, năm 1835 dời về xã Thanh Chiêm (huyện Diên Phước), năm 1843 xây nhà ngói; do quan Đốc học (chánh ngũ phẩm) cai quản và giảng dạy định kỳ hàng tháng. Cấp phủ có quan Giáo thụ (chánh thất phẩm), cấp huyện có quan Huấn đạo (chánh bát phẩm). Toàn tỉnh có 8 trường công lập đặt tại: tỉnh Quảng Nam, phủ Điện Bàn, phủ Thăng Bình, phủ Tam Kỳ, huyện Hòa Vang, huyện Duy Xuyên, huyện Quế Sơn, huyện Đại Lộc.
    • Văn miếu, Văn thánh: Văn miếu tỉnh xây dựng thời Gia Long tại Câu Nhi, năm 1825 dời về Thanh Chiêm, sau đó chuyển về tỉnh lỵ Hội An (đường Phan Đình Phùng) với kiến trúc 3 tòa nhà chính hình chữ "Môn" và nhà Túc hậu, tế lễ vào các ngày đinh mùa xuân và mùa thu. Văn thánh phủ Điện Bàn còn lưu giữ 2 phiến đá trước cổng Tam quan khắc 4 chữ "Khuynh cái hạ mã".
    • Trường tư: Phát triển phổ biến dưới dạng lớp học gia đình từ 5 - 10 trò, học tập trên chiếu trải sàn, không thu học phí cố định. Các thầy đồ tiêu biểu gồm: Cử nhân Nguyễn Doãn Thành (đỗ 1837, mở trường dạy học tại quê), Cử nhân Mai Dị (đỗ 1906, thầy giáo trường tân học Phú Lâm và Diên Phong), Huỳnh Thúc Kháng (Tiến sĩ 1904, từ quan về dạy học và truyền bá tư tưởng dân quyền).
    • Đội ngũ học quan: Toàn tỉnh có 39 vị đại khoa thì có 6 Đốc học, 2 Giáo thụ, 1 Giáo đạo; trong 254 cử nhân có 8 Huấn đạo, 3 Đốc học, 5 Giáo thụ. Nhiều vị giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám (Nguyễn Dực, Nguyễn Đình Tựu), Tu nghiệp (Lê Thiện Trị).
TT Họ và tên Quê quán Học vị Chức vụ học quan
1 Trà Văn Tụy La Thăng - Diên Phước Cử nhân Giáo thụ
2 Lê Hữu Lễ Uất Lũy - Diên Phước Cử nhân Huấn đạo
3 Hoàng Kim Côn Kim Bồng - Duy Xuyên Cử nhân Huấn đạo
4 Lương Văn Nhã Bảo An - Diên Phước Cử nhân Đốc học
5 Nguyễn Thành Ý Túy La - Diên Phước Cử nhân Đốc học
6 Nguyễn Công Tuyển Hà Lam - Lễ Dương Cử nhân Huấn đạo
7 Ông Ích Khiêm Phong Lệ - Diên Phước Cử nhân Huấn đạo
8 Lê Thành Xuân Giáo Ái - Diên Phước Cử nhân Giáo thụ
9 Nguyễn Đình Tựu Hội An - Hà Đông Phó bảng Đốc học, Tế tửu
10 Hoàng Vỹ Xuân Đài - Diên Phước Cử nhân Đốc học
11 Đặng Hữu Mai Đông Yên - Duy Xuyên Cử nhân Huấn đạo
12 Phạm Tuấn Xuân Đài - Diên Phước Tiến sĩ Đốc học
13 Hồ Trung Lượng An Dưỡng - Duy Xuyên Tiến sĩ Đốc học
14 Phan Quang Quế Châu - Quế Sơn Tiến sĩ Giáo thụ
15 Trương Đồng Hiệp Minh Hương - Diên Phước Cử nhân Huấn đạo
16 Nguyễn Mậu Hoán Phú Cốc - Quế Sơn Phó bảng Đốc học
17 Lương Thúc Kỳ Hà Tân - Diên Phước Cử nhân Giáo thụ
18 Nguyễn Phán Mỹ Xuyên - Duy Xuyên Cử nhân Giáo thụ
19 Hồ Hoàng Trung Thới - Diên Phước Cử nhân Huấn đạo
20 Trịnh Luyện Kim Đái - Hà Đông Cử nhân Huấn đạo
21 Võ Uất Quảng Lăng - Diên Phước Cử nhân Giáo thụ
22 Nguyễn Dục Chiên Đàn - Hà Đông Phó bảng Đốc học, Tế tửu
23 Nguyễn Tường Phổ Cẩm Phô - Diên Phước Tiến sĩ Đốc học
24 Nguyễn Thuật Hà Lam - Lễ Dương Phó bảng Giáo đạo
25 Trần Quý Cáp Bất Nhị - Diên Phước Tiến sĩ Giáo thụ
  • Kết quả thi cử Nho học:
    • Thi Hương: Toàn quốc tổ chức 48 khoa (1807 - 1919), thí sinh Quảng Nam tham gia 42 khoa tại trường thi Thừa Thiên, đỗ 254 Cử nhân trên tổng số 1.179 người đỗ tại trường Thừa Thiên (chiếm 27,7%) và chiếm 5,9% tổng số 5.233 Cử nhân toàn quốc. Cấu trúc thi gồm 4 trường: Trường Nhất (Kinh nghĩa, Tứ truyện), Trường Nhì (Chiếu, Chế), Trường Ba (Thơ, Phú), Trường Bốn (Văn sách).
Triều vua Toàn quốc (người) Trường Thừa Thiên (người) Quảng Nam (người)
Gia Long (1802 - 1819) 255 25 5
Minh Mạng (1820 - 1840) 719 152 28
Thiệu Trị (1841 - 1847) 610 163 40
Tự Đức (1848 - 1883) 1.871 460 97
Kiến Phúc và Đồng Khánh (1883 - 1889) 381 100 15
Thành Thái (1889 - 1907) 961 171 55
Duy Tân và Khải Định (1907 - 1919) 435 118 14
Tổng cộng 5.233 1.179 254
  • Thi Hội và Thi Đình: Toàn quốc tổ chức 39 khoa, sĩ tử Quảng Nam tham dự 22 khoa, đỗ 39 vị đại khoa (14 Tiến sĩ, 25 Phó bảng) trên tổng số 558 vị đại khoa cả nước, đạt tỷ lệ 6,99%.
Triều vua Đại khoa toàn quốc (người) Đại khoa Quảng Nam (người) Tỷ lệ (%)
Minh Mạng (1820 - 1840) 76 3 3,95%
Thiệu Trị (1841 - 1847) 79 6 7,59%
Tự Đức (1848 - 1883) 206 11 5,34%
Kiến Phúc (1884) 7 2 28,57%
Thành Thái (1889 - 1907) 121 14 11,57%
Duy Tân (1907 - 1916) 33 1 3,03%
Khải Định (1916 - 1919) 36 2 5,55%
Tổng cộng 558 39 6,99%
  • Hiện tượng khoa cử đặc biệt:

    • Danh hiệu "Ngũ Phụng tề phi": Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), toàn quốc lấy đỗ 18 vị tân khoa thì Quảng Nam có 5 vị đỗ cùng khoa, gồm 3 Tiến sĩ (Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn) và 2 Phó bảng (Ngô Truân, Dương Hiển Tiến), được Tổng đốc Đào Tấn và Đốc học Trần Đình Phong tặng danh hiệu.
    • Danh hiệu "Tứ tuyệt": Khoa thi Hương Canh Tý (1900) tại trường Thừa Thiên, 4 vị trí dẫn đầu đều là sĩ tử Quảng Nam: Huỳnh Thúc Kháng (Hương nguyên), Nguyễn Đình Hiến, Phan Châu Trinh, Lê Bá Trinh.
    • Danh hiệu "Tứ kiệt": Khoa thi Tân Sửu (1901) có 4 Phó bảng đồng khoa: Nguyễn Đình Hiến, Nguyễn Mậu Hoán, Võ Vỹ, Phan Châu Trinh.
    • Thủ khoa tiêu biểu: Phạm Như Xương (Đình nguyên Hoàng giáp năm 1875); Phạm Phú Thứ (Song nguyên: Hương nguyên 1842, Hội nguyên 1843); Huỳnh Thúc Kháng (Song nguyên: Hương nguyên 1900, Hội nguyên 1904).
  • Tình hình bổ dụng và đóng góp của kẻ sĩ Quảng Nam:

    • Bổ dụng: Trong 254 cử nhân có 28 vị giữ chức Tổng đốc, Bố chánh, Án sát tại 20 tỉnh và 40 vị giữ chức Tri huyện, Tri phủ. Kẻ sĩ Quảng Nam được triều đình giao phó các chức vụ đòi hỏi sự cương trực như Đô ngự sử Viện Đô sát (Hồ Lệ), án sát phúc thẩm hình sự tại Hà Nội (Phạm Văn Thuật).
    • Chính trị, ngoại giao: Hoàng Diệu (Tổng đốc Hà Nội tử tiết giữ thành năm 1882); Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu (thủ lĩnh phong trào Nghĩa hội); Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp (lãnh đạo phong trào Duy Tân); Nguyễn Thành Ý (Khâm phái kiêm Lãnh sự đầu tiên tại Gia Định năm 1874); Phạm Như Xương (tham gia thương thuyết với Pháp năm 1883).
    • Kinh tế, xã hội: Phạm Phú Thứ ứng dụng kỹ thuật phương Tây, đưa xe đạp nước vào nông nghiệp, đề xuất đào sông Ái Nghĩa, đắp đê Cu Nhí, mở thủy lợi Đông Triều, nạo vét sông Bình Giang, tổ chức cứu đói tại Khoái Châu và Hưng Yên.
    • Văn hóa, giáo dục: Phạm Phú Thứ khôi phục nhà xuất bản Hải Học Đường, in ấn các tài liệu kỹ thuật (Bác vật tân biên, Khai môi yếu pháp, Hàng hải kim châm), sáng tác Giá viên biệt lục, Tây phù thi thảo; Nguyễn Thuật để lại các tác phẩm Hà Đình văn tập, Hà Đình ứng chế thi sao; Phan Khôi hoạt động báo chí, dịch thuật Kinh thánh (1920) và tranh luận học thuật; Nguyễn Hiển Dĩnh sáng tác tuồng hát bội; nhiều nhà khoa bảng được cử làm thầy dạy các vua Tự Đức, Dục Đức, Kiến Phúc, Hàm Nghi.

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM GIÁO DỤC NHO HỌC VÀ KẺ SĨ QUẢNG NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 - 1919)

Chương này khái quát những nét đặc trưng của nền giáo dục khoa cử và tầng lớp trí thức Nho học xứ Quảng trong tương quan toàn quốc:

  • Vị thế khoa cử của Quảng Nam trên bảng xếp hạng toàn quốc: Quảng Nam xếp thứ 7/24 tỉnh thành về tổng số vị đỗ đại khoa dưới triều Nguyễn (39 người), đứng đầu các tỉnh phía Nam đèo Hải Vân.
TT Tỉnh thành Minh Mạng Thiệu Trị Tự Đức Kiến Phúc Thành Thái Duy Tân Khải Định Tổng cộng (người)
1 Nghệ An 7 7 34 2 23 10 8 91
2 Thừa Thiên 4 11 20 0 16 4 5 60
3 Hà Tĩnh 11 4 21 1 5 7 4 53
4 Nam Định 6 6 17 1 10 0 2 42
5 Quảng Bình 2 6 19 1 9 2 3 42
6 Hà Nội 16 7 16 0 2 0 0 41
7 Quảng Nam 3 6 12 2 14 1 2 39
8 Bắc Ninh 6 10 10 0 7 0 0 33
9 Thanh Hóa 5 8 4 0 2 4 6 29
10 Quảng Trị 3 6 9 0 4 1 1 24
11 Sơn Tây 4 0 16 0 3 0 0 23
12 Hà Đông 0 1 5 0 11 2 2 21
13 Hải Dương 6 4 5 0 2 0 0 17
14 Quảng Ngãi 1 3 3 0 3 0 0 10
15 Hà Nam 0 0 6 0 2 1 0 9
16 Bình Định 2 3 1 0 2 0 0 8
17 Hưng Yên 1 1 2 0 2 0 0 6
18 Ninh Bình 0 0 5 0 0 1 0 6
19 Thái Bình 0 0 0 0 2 0 1 3
20 Gia Định 0 0 1 0 0 0 1 2
21 Định Tường 1 0 1 0 0 0 0 2
22 Ninh Thuận 0 0 0 0 0 0 1 1
23 Vĩnh Long 1 0 0 0 0 0 0 1
24 Chưa rõ 0 0 1 0 1 1 0 3
- Tổng số 76 79 206 7 121 33 36 558
  • Sự phân bố không đồng đều và hệ thống làng học, dòng họ khoa bảng:
    • Người đỗ đạt tập trung chủ yếu ở các vùng đồng bằng và trung du màu mỡ dọc lưu vực sông Thu Bồn và sông Vu Gia, nổi bật là hai huyện Điện Bàn và Duy Xuyên.
    • Toàn tỉnh có 123 làng có người đỗ từ Cử nhân trở lên. Các làng tiêu biểu gồm: Bảo An (14 người), Mã Châu (10 người), Xuân Đài (9 người), Phiếm Ái (6 người), Mỹ Xuyên (6 người), Chiên Đàn (6 người).
    • Có hơn 20 gia đình "thế khoa" (nhiều thế hệ đỗ đạt): Gia đình họ Phạm (Đông Bàn) có Phạm Phú Thứ (đỗ đầu thi Hương 1842, Hội nguyên 1843), anh ruột Phạm Tân Hồng (Cử nhân 1843), cháu Phạm Phú Lâm (Cử nhân 1868) và Phạm Phú Tiết (Cử nhân 1918); gia đình họ Hoàng (Xuân Đài) có Hoàng Kim Giám, Hoàng Diệu, Hoàng Kim Huyễn; gia đình họ Nguyễn (Hà Lam) có Nguyễn Thuật, Nguyễn Chức, Nguyễn Tạo; gia đình họ Phạm (Mã Châu) có Phạm Thanh Nhã và 4 người con cháu đỗ đạt; gia đình họ Nguyễn Tường (Cẩm Phô) có anh Nguyễn Tường Vĩnh (Phó bảng), em Nguyễn Tường Phổ (Tiến sĩ); trường hợp "Ngũ tử đăng khoa" của 5 anh em họ Nguyễn tại làng Túy La/Bất Nhị (2 Cử nhân: Nguyễn Thành Ý, Nguyễn Tĩnh Cung và 3 Tú tài).
  • Đặc điểm kẻ sĩ Quảng Nam:
    • Tinh thần học tập thể hiện từ độ tuổi trẻ (Ông Ích Khiêm đỗ Cử nhân năm 15 tuổi) đến độ tuổi cao niên (Trà Quý Trưng 56 tuổi đỗ Cử nhân).
    • Tính cách kẻ sĩ mang đậm dấu ấn của vùng đất mới: cương trực, thẳng thắn, có tinh thần thực tiễn ("học thấu suốt, học đi đôi với hành"), dám dấn thân vào các phong trào cứu nước và đi đầu trong công cuộc cải cách, đổi mới văn hóa - xã hội.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    1. Khôi phục một cách có hệ thống mạng lưới giáo dục Nho học tỉnh Quảng Nam giai đoạn 1802 - 1919 với đầy đủ cấu trúc: 1 trường tỉnh, 7 trường phủ/huyện, thiết chế Văn miếu/Văn thánh và mạng lưới trường tư tại các làng xã.
    2. Xác lập cơ sở dữ liệu định lượng chính xác về thành tích khoa bảng: Sĩ tử Quảng Nam tham gia 42/48 khoa thi Hương, đạt 254 Cử nhân (chiếm 27,7% trường Thừa Thiên, 5,9% toàn quốc); tham gia 22/39 khoa thi Đình, đạt 39 đại khoa (14 Tiến sĩ, 25 Phó bảng, chiếm 6,99% toàn quốc, xếp thứ 7/24 tỉnh thành).
    3. Làm rõ cơ cấu bổ dụng quan lại: 28 người giữ chức Tổng đốc, Bố chánh, Án sát tại 20 tỉnh; 40 người giữ chức Tri huyện, Tri phủ; 25 vị học quan tiêu biểu giữ các cương vị Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo, Tế tửu.
    4. Tổng kết các đóng góp thực tiễn của kẻ sĩ xứ Quảng trên 4 lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, kinh tế - kỹ thuật và văn hóa - giáo dục, đặc biệt là vai trò khởi xướng phong trào Duy Tân và canh tân đất nước.
  • Đóng góp về mặt khoa học: Khóa luận là công trình chuyên khảo địa phương đầu tiên nghiên cứu toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa phân tích sử liệu và phương pháp định lượng về giáo dục Nho học Quảng Nam dưới triều Nguyễn, cung cấp nguồn dữ liệu đáng tin cậy phục vụ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được ghi nhận từ văn bản:
    • Tư liệu thống kê về hệ thống trường tư thục và các lớp học tại gia chưa thực sự đầy đủ về số lượng do tính chất phân tán và không có văn bản hành chính lưu trữ thời phong kiến.
    • Nguồn tài liệu thống kê về tình hình thi cử thời các chúa Nguyễn (trước năm 1802) tại vùng đất Đàng Trong còn thiếu hụt do chiến tranh và thất lạc thư tịch.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát quá trình chuyển biến từ giáo dục Nho học truyền thống sang hệ thống giáo dục Tân học và Quốc ngữ trong 30 năm đầu thế kỷ XX tại Quảng Nam.
    • Khai thác sâu hơn hệ thống văn bia, gia phả dòng họ và hương ước làng xã để làm rõ cơ chế khuyến học, cấp phát ruộng học (học điền) tại các làng khoa bảng tiêu biểu như Bảo An, Mã Châu, Xuân Đài.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên và giảng viên chuyên ngành Lịch sử, Sư phạm Lịch sử, Văn hóa học làm tài liệu nghiên cứu chuyên đề về lịch sử giáo dục Việt Nam thời phong kiến.
    • Giáo viên phổ thông tại tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng sử dụng làm tư liệu giảng dạy phần lịch sử địa phương.
    • Các nhà nghiên cứu văn hóa, nhân vật chí và dòng họ phục vụ công tác biên soạn địa chí, lịch sử Đảng bộ địa phương.
  • Các nội dung có giá trị tra cứu cao:
    • Hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết danh sách Cử nhân, Tiến sĩ, Phó bảng qua từng triều vua (1807 - 1919).
    • Bảng đối sánh số lượng Tiến sĩ của 24 tỉnh thành thời Nguyễn (Bảng 3).
    • Danh mục 25 vị học quan và tóm tắt tiểu sử, hành trạng của 39 vị đại khoa quê hương Quảng Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao khoa thi Hương đầu tiên của triều Gia Long (năm 1807) không có sĩ tử Quảng Nam nào đỗ đạt và thành tích khoa cử bắt đầu từ năm nào?
Quảng Nam là vùng đất mới, cư dân phần lớn là lưu dân khai phá phải tập trung ổn định sinh kế, chống chọi thiên tai nên truyền thống Nho học thời kỳ đầu chưa được củng cố. Phải đến khoa thi Hương năm Gia Long thứ 12 (1813), thí sinh Trần Văn Tú mới đỗ Cử nhân, mở đầu cho chuỗi đỗ đạt liên tục của sĩ tử Quảng Nam suốt 42 khoa thi Hương đến năm 1919.

2. Danh hiệu "Ngũ Phụng tề phi" xuất hiện trong hoàn cảnh nào và gồm những nhân vật lịch sử nào?
Danh hiệu này do Tổng đốc Đào Tấn và Đốc học Trần Đình Phong trao tặng tại khoa thi Hội năm Mậu Tuất (1898). Khoa thi này toàn quốc chỉ lấy đỗ 18 vị tân khoa thì riêng Quảng Nam có 5 vị đỗ đại khoa cùng lúc, gồm 3 Tiến sĩ (Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn) và 2 Phó bảng (Ngô Truân, Dương Hiển Tiến).

3. Cơ cấu quản lý hệ thống trường công lập ở Quảng Nam dưới triều Nguyễn được phân cấp như thế nào?
Trường tỉnh đặt tại Thanh Chiêm do quan Đốc học (hàm Chánh ngũ phẩm) phụ trách coi việc học toàn tỉnh và trực tiếp giảng dạy. Tại cấp phủ (Điện Bàn, Thăng Bình, Tam Kỳ) có quan Giáo thụ (hàm Chánh thất phẩm), tại cấp huyện (Hòa Vang, Duy Xuyên, Quế Sơn, Đại Lộc) có quan Huấn đạo (hàm Chánh bát phẩm) quản lý và giảng dạy, đặt dưới sự chỉ đạo của quan Đốc học.

4. Vị thế khoa cử của Quảng Nam xếp thứ mấy trên phạm vi toàn quốc dưới triều Nguyễn?
Theo bảng thống kê đại khoa của 24 tỉnh thành thời Nguyễn, Quảng Nam có 39 vị đỗ đại khoa (14 Tiến sĩ, 25 Phó bảng), chiếm tỷ lệ 6,99% toàn quốc, xếp thứ 7 cả nước (sau Nghệ An, Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nam Định, Quảng Bình, Hà Nội) và đứng đầu các tỉnh phía Nam đèo Hải Vân.

5. Những đóng góp nổi bật về mặt kỹ thuật và kinh tế của kẻ sĩ Quảng Nam được ghi nhận trong khóa luận là gì?
Tiêu biểu là danh sĩ Phạm Phú Thứ sau khi đi sứ phương Tây đã tiếp thu khoa học kỹ thuật, ứng dụng xe đạp nước vào sản xuất nông nghiệp, đề xuất triều đình đào sông Ái Nghĩa, đắp đê Cu Nhí ở Quảng Nam, mở thủy lợi Đông Triều, đào rộng sông Bình Giang và tổ chức cứu tế chống đói tại Khoái Châu, Hưng Yên.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Quang Chuyên đã tái hiện toàn diện và chân thực diện mạo nền giáo dục Nho học tại Quảng Nam dưới triều Nguyễn (1802 - 1919) thông qua hệ thống tư liệu lịch sử và số liệu thống kê chuẩn xác. Công trình khẳng định vị thế "đất học" hàng đầu của Quảng Nam với 254 Cử nhân và 39 vị đại khoa, làm rõ những cống hiến to lớn của đội ngũ trí thức xứ Quảng trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và canh tân đất nước. Đây là nguồn tư liệu khoa học có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu khoa cử và giảng dạy lịch sử địa phương.