ĐẶT VẤN ĐỀ Từ sau 1975 cho đến nay, hệ thống giáo dục Việt Nam luôn được gắn danh hiệu “cải cách” và “đang phát triển”, nhưng thực tế lại là sự tụt hậu và thậm chí “lạc hướng”.1 Đối với tất cả những ai có và còn tâm huyết với giáo dục con người thì không thể phủ nhận rằng nền giáo dục Việt Nam đang gặp khủng hoảng lớn. Có nhiều khuynh hướng giải thích vấn đề. Những năm gần đây, có một cách giải thích nguyên nhân do giáo dục Việt Nam sau 1975 thiếu một nguyên lý nền tảng. Nói tắt là không có một triết lý giáo dục.
Nhiều người lạc quan (phần lớn là các nhà chính trị) cho rằng chúng ta có triết lý giáo dục nhưng đang thực hiện; những người còn lại thì cho rằng chúng ta chưa có hoặc có cũng như không một triết lý giáo dục phù hợp. Từ nền tảng triết học về triết lý giáo dục, luận văn này muốn đi đến trả lời câu hỏi: nền giáo dục Việt Nam sau 30.1975 có triết lý giáo dục hay không? Và nếu có, triết lý ấy còn phù hợp không? Luận văn này nhằm mục đích góp phần vào việc định hướng đào tạo con người Việt Nam xứng hợp với hoàn cảnh hiện nay. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Trong phạm vi triết học, luận văn này tập trung vào triết học giáo dục. Sau đó, dựa vào triết học giáo dục, luận văn triển khai trọng tâm về triết lý giáo dục cho một hệ thống giáo dục đặc thù của một quốc gia.
Do đó, dựa vào triết sử, luận văn chỉ chọn lựa và khái quát những triết lý có ảnh hướng đến đào tạo con người. Luận văn cũng liên quan đến nhân triết và các thuyết nhân bản. Thêm vào đó, vì đề tài có liên quan đến Việt Nam, một nước Á Đông, nên luận văn cũng dàn trải phạm vi tới triết học Đông phương, đặc biệt là Nho giáo. Nguyên Ngọc, trích bởi (Hợp 2014, 33) 3 Trong phạm vi sử học, luận văn không chú trọng đến trình bày sự kiện, niên đại và ý nghĩa chung, nhưng giới hạn trong lịch sử giáo dục của Việt Nam.
Nói cách khác, lịch sử Việt Nam được chắt lọc từ cái nhìn giáo dục và liên quan đến những sự kiện giáo dục. Cuối cùng, trong phạm vi giáo dục học, luận văn chỉ chú trọng đến những phạm vi liên quan đến triết lý giáo dục, dưới cái nhìn của triết học giáo dục, tức là hệ thống giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đặc biệt là mục tiêu giáo dục: nhằm đào tạo ra con người nào? III. GIỚI HẠN CỦA LUẬN VĂN Đầu tiên là nguồn tài liệu và nguồn thông tin. Đến nay, vẫn chỉ có vài đầu sách nói về triết học giáo dục và triết lý giáo dục.
Vì triết học giáo dục là ngành triết khá mới chỉ từ đầu thế kỷ XX nên có ít tác phẩm trọn vẹn về triết học giáo dục. Hay ngay cả lý thuyết giáo dục về triết lý giáo dục trình bày cách có hệ thống cũng chưa có. Điều này cũng thể hiện tính cách mới mẻ của chủ đề này. Bên cạnh đó, nguồn sách lịch sử giáo dục Việt Nam cũng trình bày rất chủ quan, lạc hậu theo phong cách chính trị hóa và tránh tối đa những vấn đề tế nhị (chủ yếu là khen ngợi và nhắm mắt trước lỗi lầm).
Do đó, luận văn buộc phải sử dụng một nguồn thông tin thứ hai là các bài viết học thuật trên internet. Nhưng bởi rộng lớn và quá phong phú, nên việc gạn lọc thông tin đáng tin cậy luôn là điều khó khăn. Thứ hai là thời lượng. Luận văn này gặp giới hạn rất lớn về thời gian nghiên cứu và mức độ tập trung thời gian cho chọn lọc thông tin, cho việc đọc nhiều nguồn số liệu, cho việc đánh giá… gặp giới hạn do nếp sống.
Cuối cùng là giới hạn về thực tế xã hội. Vì luận văn này bàn về đề tài khá nóng bỏng và đôi khi đụng chạm đến nhiều điều rất tế nhị, thậm chí “tối kị”, “cấm kị”, nên dù sao vẫn phải gắng đạt tới một sự công tâm và sự thật. BỐ CỤC VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA LUẬN VĂN Luận văn này sử dụng phương pháp nghiên cứu như sau trong phần NỘI DUNG Phần I. Triết lý giáo dục - Vấn đề: Triết lý giáo dục là gì? Phân biệt giữa Triết học giáo dục và triết lý giáo dục thế nào? Tại sao nền giáo dục của một quốc gia cần triết lý giáo dục? - Phương pháp: Trích lục, quy nạp, so sánh.
- Nguồn: Triết sử. Lịch sử Triết lý giáo dục tại Việt Nam - Vấn đề: Qua từng giai đoạn lịch sử trước 30.1975, giáo dục Việt Nam có triết lý giáo dục thế nào? - Phương pháp: Trích lục, chú giải và diễn dịch. - Nguồn: Lịch sử giáo dục Phần III. Triết lý giáo dục sau 1975 - Vấn đề: Sau 1975, giáo dục Việt Nam có triết lý giáo dục không? - Phương pháp: xem – xét – làm, trích lục, chú giải và quy nạp.
- Nguồn: Triết sử, luật và lịch sử giáo dục. 5 PHẦN B NỘI DUNG I. TRIẾT LÝ GIÁO DỤC 1. Triết học giáo dục Để hiểu về triết lý giáo dục, ta cần biết những khái niệm cơ bản về một phân nhánh mới của triết học chính thức khẳng định sự hiện diện từ khoảng nửa đầu thế kỷ XX2, đó là triết học giáo dục.
Khái niệm Triết học giáo dục là ngành nghiên cứu kết hợp giáo dục học và triết học. Triết học giáo dục áp dụng các lĩnh vực triết học truyền thống như hữu thể học, siêu hình học, đạo đức học, tri thức luận. với các phương pháp luận triết học như diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp. để giải đáp các vấn đề liên quan đến chính sách giáo dục, các phương pháp nghiên cứu giáo dục, cách thức xây dựng chương trình lý thuyết khung, các phương pháp sư phạm, hướng nghiệp.
Một triết gia cũng có thể vừa là một nhà giáo dục và ngược lại, như Platon (428-348), Aristotle (384-322), Friedrich Fröbel (1782-1852), John Dewy (1859-1952), JJ. Mỗi triết gia có tư tưởng triết học giáo dục khác nhau dựa theo mục tiêu đào tạo con người mà họ hướng tới. Tóm lại, triết học giáo dục có thể hiểu như là một bộ môn (discipline) “nghiên cứu về bản chất và mục tiêu của giáo dục theo nhãn quan triết học”.3 Đây là sự nghiên cứu liên ngành, kết hợp vừa suy tư triết và các phân tích khoa học và xã hội khác. Phạm vi của triết học giáo dục Có thể giới hạn sự nghiên cứu của triết học giáo dục vào mục đích, bản chất và lý tưởng của một nội dung giáo dục nhằm đào tạo nên con người như triết lý giáo dục quan niệm.
Chủ điểm của triết học giáo dục rất rộng như tri thức, nhận thức, bản chất của nhận thức, tâm lý và nhận thức của chủ thể người, quản lý và thẩm quyền trong giáo dục, quan hệ giữa giáo dục và xã hội, tâm lý giáo dục. Triết học giáo dục có mục đích giúp người dạy học tiếp cận những chủ điểm và khái niệm cơ bản để đạt hiệu quả trong giáo dục con người, thường xoay quanh các câu hỏi cụ thể như: Nên dạy gì? Một cuộc sống hạnh phúc là thế nào? Kiến thức là gì? bản chất của học tập? Họ đang cần học gì và dạy gì? Niên thiếu là sao? Nếu một người trưởng thành bị xem như trẻ thơ thì sẽ bị ảnh hưởng thế nào?4 2. Triết lý giáo dục a. Thuật ngữ Cần có sự phân biệt ngắn gọn và chắc chắn hai cụm từ educational philosophy và (the) philosophy of education trong Anh ngữ và hai cụm từ triết học giáo dục và triết lý giáo dục trong Việt ngữ.
Educational philosophy và (the) philosophy of education: khi nào mang nghĩa triết học giáo dục và khi nào mang nghĩa triết lý giáo dục? Với cụm từ EDUCATIONAL PHILOSOPHY: (1) Có khi dịch nghĩa triết học giáo dục như: Tác phẩm A New History of Educational Philosophy của James S. Kaminsky, 1993 mang nghĩa là Lịch sử mới của triết học giáo dục 5 Tác phẩm Educational Philosophy của Neeta Arora mang nghĩa là Triết học giáo dục. (2) Có khi dịch nghĩa triết lý giáo dục như 4 X. (Neeta 2011, 1-30) 5 (Ích 2010) 7 Tác phẩm Educational Philosophy của Neeta Arora dùng cụm từ Educational Philosophy of Plato / of John Dewy / of John Locke thì phải được hiểu là triết lý giáo dục của… Với cụm từ PHILOSOPHY OF EDUCATION: cũng có 2 trường hợp tương tự nhưng phổ biến hơn và rắc rối hơn.
(1) Có khi dịch nghĩa triết học giáo dục như Tác phẩm Philosophy of Education: An Encyclopedia của J. Chambliss, 1996 mang nghĩa là Bách khoa thư về triết học giáo dục Tác phẩm Proto - Philosophy of Education của A. Platonov mang nghĩa là Thời sơ khởi của triết học giáo dục 6 (3) Có khi dịch nghĩa triết lý giáo dục như Tác phẩm John Dewey, Democracy and Education, an introduction to the Philosophy of Education mang nghĩa là John Dewey, Dân Chủ và Giáo Dục, một dẫn nhập vào Triết lý giáo dục7 (dịch giả Phạm Anh Tuấn) Nhưng cũng tác phẩm của John Dewey này mà tác giả Phạm Khiêm Ích dịch là “John Dewey, một dẫn nhập vào Triết học giáo dục”.8 Như thế là đã xảy ra sự bất nhất trong việc phiên dịch 2 cụm từ tiếng Anh educational philosophy và (the) philosophy of education khi nào dùng từ “triết lý giáo dục” khi nào dùng “triết học giáo dục”? Trong giới hạn bài luận này, không với mục đích đưa ra một xác chuẩn có tính quy phạm vĩ mô (xin nhường lại cho các chuyên gia), chỉ mong gắng tìm một cách hiểu đơn giản và nhất quán hai cụm từ trên dựa vào ngữ nghĩa trong Việt Ngữ, để đi đến việc sử dụng nhất quán thuật ngữ Triết lý giáo dục trong bài luận này trước đã. Vậy triết lý khác triết học ở chỗ nào? Từ điển Việt – Anh của TS.
Nguyễn Đình Hòa9 phân biệt: 6 (Ích 2010) 7 (Dewey 2008) 8 (Ích 2010) 9 (Hòa 1967, 610) 8 Philosophy mang nghĩa triết học (yêu mến sự khôn ngoan) khi ta xét như là một sự nghiên cứu (the study) một cách đặc biệt bằng kinh nghiệm và tự biện của một hệ thống tư tưởng. Ví dụ như triết học Platon, triết học Cận Đại, triết học Đông Phương, Triết học Ấn Độ… Philosophy mang nghĩa triết lý khi có động từ là to philosophize khi ta xét như là philosophy OF a man or a religion – triết lý CỦA một ai hay một tôn giáo nào đó.