Chương 1: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh lên án nền giáo dục thực dân. - Chương 2: Hồ Chí Minh với việc tổ chức xây dựng nền giáo dục phổ thông mới (1945 - 1954). - Chương 3: Giáo dục phổ thông dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh thần cải cách giáo dục (1950 - 1954). Phần Phụ lục và Tài liệu tham khảo.
7 z Hồ Chí Minh với sự phát triển giáo dục phổ thông (1945 - 1954) Lê Thùy Linh CHƢƠNG 1 NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH LÊN ÁN NỀN GIÁO DỤC THỰC DÂN 1. Thực trạng giáo dục phổ thông dƣới ách thống trị của Pháp, Nhật “Làm cho dân ngu để dễ trị”, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất. - Hồ Chí Minh - “Pháp luật chỉ đàn áp được một thời gian, chỉ có giáo dục mới chinh phục được con người mãi mãi”. Đuymuchiê - một tổng sứ dưới quyền của Pôn Be (Paul Bert) đầy ẩn ý khi trích dẫn câu nói nổi tiếng của Khang Hi, bổ sung vào đó tinh thần của chủ nghĩa thực dân trong bối cảnh mới.
Dưới mỗi thời Toàn quyền, dù thành văn hay không thành văn, dù được phát biểu thành lời hay ẩn sau những hành động, tư tưởng đồng hóa của thực dân Pháp cũng đã thể hiện rõ ngay từ khi Pháp xâm lược và đặt ách thống trị lên đất nước ta. Giáo dục trở thành một trong những lợi khí để thực dân Pháp chinh phục thuộc địa. Chỉ thị của Bộ Thuộc địa Pháp ngày 10 - 10 - 1920 chỉ rõ: “Học chính bản xứ trước hết phải có tính chất thực nghiệm và thực tế. Trước hết cần phải nghĩ đến lợi ích kinh tế của việc giáo dục quần chúng, và để đạt mục đích ấy, những cố gắng của chính phủ bảo hộ trước hết phải nhắm vào sự phát triển ngành sơ học, kỹ thuật và chuyên môn”[32, 168].
Chính sách giáo dục thực dân Pháp thực thi trên đất nước ta không nằm ngoài mục đích: - Đào tạo những người bản xứ phục vụ cho bộ máy cai trị. - Đồng hóa nhân dân Việt Nam nhằm biến họ thành người ngoan ngoãn, phục tùng sự thống trị của Pháp. 8 z Hồ Chí Minh với sự phát triển giáo dục phổ thông (1945 - 1954) Lê Thùy Linh - Truyền bá tư tưởng nô dịch trong nhân dân. Thực dân Pháp chinh phục đất đai còn chưa đủ mà còn muốn chinh phục tâm hồn nữa.
Chúng muốn nhân dân Việt Nam phải hoàn toàn quy phục nước Pháp, muốn đất và người Việt Nam là đứa con dưới quyền của “nước mẹ” Pháp. Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào Pháp cả về vật chất và tinh thần. Trong một bức thư mật đề ngày 1 - 3 - 1899 của một thống sứ gửi cho viên Toàn quyền Đông Dương thể hiện rõ tư tưởng nô dịch của chúng trong giáo dục: “thật không thể nào để cho người An Nam được học lịch sử và đọc sách của chúng ta mà không gây cho họ lòng yêu nước, yêu tự do.Kinh nghiệm của các dân tộc Châu Âu khác cũng đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột”[62, 17]. Những lời trắng trợn của thực dân Pháp đầy rẫy trên các ấn phẩm sách báo thời bấy giờ, ví như: “Đối với cái giống nòi Annamít ấy, chỉ có một cách tốt để cai trị nó - đó là ách thống trị bằng sức mạnh.Truyền học vấn cho bọn Annamít hoặc cho phép chúng tự chúng có học vấn, tức là một mặt cung cấp cho chúng những súng bắn nhanh để chống chúng ta, và mặt khác đào tạo những con chó thông thái gây rắc rối hơn là có ích.
“Cái giống người An Nam” vốn đã bị thực dân Pháp coi là hạ đẳng. Dưới chế độ cai trị của chúng, chúng tìm mọi cách, kể cả những cách đê tiện nhất để dìm những con người đáng thương này vào vũng bùn khổ hạnh hơn nữa, ngu dốt, tối tăm và hạ đẳng hơn nữa. Thực dân Pháp thừa khôn ngoan để nhận thấy sự nguy hại khi cung cấp một nền học vấn đầy đủ cho các dân tộc thuộc địa. Xâm lược Việt Nam, vấp phải những cuộc đấu tranh quyết liệt của cả một dân tộc, thực dân Pháp hiểu rằng không dễ dàng quy phục ngay được những con người bề ngoài có vẻ cam chịu nhưng bên trong lại tiềm tàng một sức mạnh có thể chống lại chúng bất cứ lúc nào.
Vì vậy, sau khi chiếm được Việt Nam một cách căn bản, thực dân Pháp đã nhanh chóng thực hiện tư tưởng: sau khi người lính đã hoàn thành sự 9 z Hồ Chí Minh với sự phát triển giáo dục phổ thông (1945 - 1954) Lê Thùy Linh nghiệp của mình thì đến lượt người giáo viên thực hiện sự nghiệp của họ. Tư tưởng xuyên suốt trong chính sách giáo dục thực dân Pháp là “Nếu chúng ta muốn đặt được vĩnh viễn ảnh hưởng của nước Pháp lên phần đất này (Việt Nam) của thế giới, thì phải làm cho họ (người Việt Nam) tiêm nhiễm tư tưởng của chúng ta (Pháp), dạy cho họ tiếng nói của chúng ta và do đó phải bắt đầu từ nhà trường và trước tiên chú ý đến trẻ em”[47, 180 - 181]. Trong quá trình xâm lăng và bình định, thực dân Pháp đã tìm cách loại bỏ dần dần nền giáo dục truyền thống của người Việt Nam. Từ năm 1867, ở Nam Bộ đã bãi bỏ các khoa thi chữ Nho.
Năm 1915, bãi bỏ thi Hương ở Bắc Bộ và năm 1918 là ở Trung Bộ. Phép học cũ và chế độ khoa cử cáo chung: “Thi tàn học cũng tàn theo”. Người Pháp không chỉ thành công trong việc chia cắt nước Việt Nam thành các xứ Bắc, Trung, Nam mà còn thay đổi lối học tập của người Việt. Luật học mới được thay thế, chính thức ban hành ngày 21 - 12 - 1917 đặt ra nền học Pháp Việt thay cho nền học cũ*1.
Thực tế, bản chất của nền giáo dục này không hoàn hảo, đẹp đẽ như cái tên “Pháp Việt” bình đẳng, thân thiện và đầy thiện chí các nhà cầm quyền đưa ra. Một nền giáo dục không ra Pháp, không ra Việt bởi tính chất của nó thấm đẫm màu thực dân, suy cho cùng vì mục đích kinh tế hơn vì giáo dục và sự phát triển con người Việt Nam. *1 Thực tế cho thấy dưới sự chỉ đạo của người Pháp, một số điểm của Luật học mới đã được đưa ra sớm hơn. Từ năm 1908, dưới thời vua Duy Tân (1907-1916), Hội đồng cải lương học vụ đã sửa đổi lại chương trình học và thi cho phù hợp với chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương.
Hội đồng cải lương học vụ còn gọi là Cải cách học vụ hội đồng, do Pháp đề nghị và chuẩn y. Nội dung đạo Dụ ngày 31-5-1906 quy định phép học thi chia làm 3 bậc như sau: - Ấu học: dạy ở các trường Tổng sư và lấy bằng Tuyển sinh làm bằng tốt nghiệp. - Tiểu học: dạy ở các trường phủ huyện (Giáo thọ, Huấn đạo) và các trường quy thức ở tỉnh lỵ, tốt nghiệp với bằng Khoá sinh. - Trung học: dạy ở các trường tỉnh (trường Đốc) để luyện học trò đi thi Hương.
Chương trình học vần lấy chữ Hán làm chuyển ngữ, nhưng có học thêm các môn cách trí (khoa học thường thức) sử kí, địa dư, toán pháp bằng chữ Quốc ngữ và một ít tiếng Pháp. Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1993, tr. 10 z Hồ Chí Minh với sự phát triển giáo dục phổ thông (1945 - 1954) Lê Thùy Linh Đào tạo một số người bản xứ phục vụ trực tiếp cho công cuộc thống trị là một trong những động lực thúc đẩy thực dân Pháp thực hiện nhanh những chính sách giáo dục thực dân.
Những cuộc xâm lược và cai trị trên nhiều miền đất, nhiều châu lục khác nhau đã cho kẻ thực dân già giàu kinh nghiệm những bài học quý giá về sự thống trị. Không thể nắm được một thuộc địa nếu không hiểu về lãnh thổ cũng như tâm tính con người của chính thuộc địa đó. Không thể cai trị một quốc gia nếu lòng người không quy thuận, nhất là những người nắm quyền lại là kẻ lạ mặt ở miền đất xa xôi nào tới. “Thay thế một cách đột ngột tận gốc rễ bộ máy cai trị An Nam bằng một số lớn sĩ quan (người Pháp) mà phần lớn không biết đến cả tiếng nói và phong tục tập quán của xứ này thì người ta chỉ gây ra một sự hỗn loạn.Việc cai trị bằng người bản xứ đặt dưới sự kiểm soát của chúng ta là cách tốt nhất để giải quyết vấn đề”[47, 183 - 184].
Người Pháp nhận thức được những khó khăn khi tự mình cai trị xứ sở thuộc địa đầy nóng bỏng này cũng như những thuận lợi khi đào tạo ra một số người bản xứ thừa hành ngoan ngoãn. Hơn nữa, việc cai trị bằng những người địa phương giúp thực dân Pháp tiết kiệm được ngân sách thuộc địa vì phải trả lương ít hơn. Toàn quyền Đông Dương Anbe Xarô nhấn mạnh: “Sự khôn ngoan của một sự minh mẫn sơ đẳng về chính trị đặt cho chúng ta nhiệm vụ phải duy trì (những người bản xứ) làm những kẻ trung gian giữa chúng ta (thực dân Pháp) và dân chúng”[62, 15 - 16]. Với thực dân Pháp, việc mở rộng nền giáo dục của Pháp trở thành một nhu cầu cấp thiết nhất để có thể đào tạo được những người giúp việc có khả năng như lời của tướng Bôna nhận định.
Trong báo cáo đề ngày 18 - 4 - 1912, Pêran (Peralle) - giám đốc Học chính Bắc Kỳ - gửi cho Toàn quyền Đông Dương đã nói rõ việc tổ chức giáo dục ở thuộc địa là: “đào tạo những công chức bản xứ hạ đẳng, những giáo viên sơ cấp, những thông ngôn và thư ký để làm cho các bộ máy cai trị, cho 11 z Hồ Chí Minh với sự phát triển giáo dục phổ thông (1945 - 1954) Lê Thùy Linh các nhà buôn”[54, 10]. Đào tạo nên những nhân viên phục vụ trực tiếp cho công cuộc khai thác thuộc địa đã được thực dân Pháp đặt thành một nhiệm vụ trong việc thực hiện chính sách giáo dục trên đất nước ta. Trong tay những kẻ đi xâm lược, giáo dục không nhằm phục vụ quần chúng nhân dân đông đảo mà là công cụ phục vụ cho một số ít người. Thực dân Pháp bóp méo tính chất cao quý và chân thực của giáo dục, sử dụng giáo dục vào mục đích thực dụng xấu xa là thực hiện từng bước chính sách đồng hoá thâm độc và khai thác tối đa những nguồn lợi tài nguyên, nhân lực trên những phần thuộc địa.