Chương 1: Tổng quan về tỉnh Kiên Giang và giáo dục tỉnh Kiên Giang trước năm 1945. Chương 2: Giáo dục cách mạng tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Chương 3: Giáo dục cách mạng tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). 10 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH KIÊN GIANG VÀ GIÁO DỤC TỈNH KIÊN GIANG TRƢỚC NĂM 1945 1.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Kiên Giang 1. Điều kiện tự nhiên Kiên Giang là một tỉnh có địa hình đa dạng và phong phú, có cả đồi núi, đồng bằng; rừng rậm và biển đảo. - Đồi núi: Hệ thống núi đồi trong tỉnh Kiên Giang tập trung ở thị xã Hà Tiên, huyện Hà Tiên và xã Thổ Sơn huyện Hòn Đất, Phú Quốc và Kiên Hải. Có thể nhận thấy nó được chia ra thành từng cụm tương đối rõ như sau: Khu vực Hà Tiên gồm có các núi Đá Dựng, Thị Vạn, Thạch Động, Địa Tạng, Đại Táo, Núi Nai, Sa Kỳ, cụm núi Giếng Tượng, Núi Đề Liêm (Bát giác Sơn), dãy núi Bình Sơn kéo dài từ Pháo Đài đến Phù Dung; ngoài ra còn ngọn đồi Ngũ Hổ (Lầu Ba).
Vùng ven biển Thuận Yên, Dương Hòa: Từ Tô Châu đến Ba Hòn có các núi: Tô Châu nhỏ, Tô Châu lớn, Núi Ông Đội, Núi Lớn, Núi Nhọn, Thuận Yên (Dãy đồi nhỏ dưới 200m), núi Ông Cọp, Núi Xoa Ảo, Núi Đại, dãy Núi Hòn Heo, Bãi Ớt, Núi Ba Hòn; phía trong có Núi Trầu, Núi đồng, Núi Còm, Núi Xà Ngác, Núi Ong. Bán đảo Hòn Chông gồm cụm núi Bình Trị từ Chùa Hang đến Rạch Đùng, núi Cây Xoài, Mo So, Bãi Voi, Bà Tài, Khóe Lá, Sơn Trà, Huỷnh, Tà Đuốc, Hang Tiền, Hang Cây Ớt. Vùng Thổ Sơn gồm 4 ngọn núi được nhân dân gọi là Hòn: Hòn Sóc, Hòn Me, Hòn Đất và Hòn Quéo (Riêng Hòn Quéo là một ngọn đồi đá thấp). - Đồng bằng: Ngày xưa, toàn bộ đồng bằng của tỉnh là rừng rậm, tuyệt đại đa số là rừng tràm kéo dài từ biên giới Việt Nam – Campuchia đến U 11 Minh.
Trong quá trình khai hoang, rừng đã lui dần hình thành các ruộng lúa, vườn cây trù phú. Có thể phân biệt thành các vùng sau: Vùng Tứ giá Long Xuyên bị nhiễm phèn khá nặng, bao gồm các huyện Hà Tiên, Hòn Đất, một phần huyện Tân Hiệp, Châu Thành và thị xã Rạch Giá. Ngày nay, do tiến bộ của khoa học, kỹ thuật cùng với các công tác thủy lợi, vùng Tứ giác Long Xuyên có khả năng nông nghiệp rất lớn, năng suất lúa ngày càng tăng góp phần cải thiện đời sống nhân dân. Nhưng đây cũng là vùng chịu ảnh hưởng của lũ, hàng năm, nước lũ dâng lên từ tháng 9 đến tháng 11 gây không ít khó khăn cho sinh hoạt của nhân dân.
Vùng Tây sông Hậu: Thuộc các huyện Gò Quao, Tân Hiệp, Giồng Riềng, Châu Thành, năm giữa quốc lộ 80 và sông Cái Lớn. Vùng Tây sông Hậu ít nhiễm phèn, ảnh hưởng của lũ cũng không lớn, do đó đây là vùng đất phì nhiêu, ruộng đồng, vườn cây sung túc. Vùng U Minh Thượng: Nằm về phía Nam sông Cái Lớn gồm các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận. Đây là vùng đất U Minh lịch sử, căn cứ địa cách mạng của 2 cuộc kháng chiến của Đảng bộ và nhân dân Kiên Giang.
Ngoài khu rừng U Minh Thượng, phần đất còn lại có độ phèn khá cao, phần ven biển bị nhiễm mặn. Do không chủ động được nguồn nước canh tác nên một phần khá lớn phải trồng các loại cây công nghiệp, năng suất lúa chưa cao. - Biển - Đảo: Kiên Giang có bờ biển dài 200 km, vùng biển rộng nằm trong vịnh Thái Lan có trên 140 hòn đảo lớn nhỏ thuộc 2 huyện Phú Quốc và Kiên Hải gồm các quần đảo Hải Tặc ( thuộc thành phố Hà Tiên), Bà Lụa (thuộc Kiên Lương), Nam Du (Cổ Tron), An Thới, Thổ Chu và các đảo được gọi là “Hòn” gồm Hòn Tre, Hòn Nghệ, Hòn Sơn Rái, đảo Phú Quốc. Riêng Phú quốc là hòn đảo lớn nhất nước ta, có diện tích 573,2km2.
Trên các hòn đảo có các loại gỗ quý, có cả rừng nguyên sinh ở Phú Quốc. Nhiều hòn không có dân sinh sống. 12 - Sông rạch: Hệ thống sông, kinh, rạch của Kiên Giang khá dày, thuận lợi cho việc giao thông thủy và tước tiêu phục vụ nông nghiệp. Bốn con sông lớn trong đất liền là Cái Lớn, Cái Bé, Trèm Trẹm và sông Giang Thành; đảo Phú Quốc có sông Dương Đông.
Các con kênh chính có lâu đời là kinh Vĩnh Tế được đào tạo từ năm 1819 nằm song song theo biên giới Việt Nam – Campuchia, đưa nước ngọt từ sông Hậu ra cửa biển Hà Tiên; kinh Rạch Giá – Hà Tiên, khởi công năm 1924; kinh Ông Hiển; kinh Cái Sắn từ Long Xuyên đến Rạch Sỏi, đào năm 1928. Ngoài ra, Kiên Giang còn có rất nhiều kinh rạch được đào để phục vụ giao thông và sản xuất trong kháng chiến như kinh Tám Thước (Hà Tiên), Kinh Chống Mỹ, Kinh Dân Quân (An Biên,Vĩnh Thuận), Kinh Chiến Thắng (Hòn Đất)… các con kinh nhỏ đào từ trước năm 1939 như kinh Mốp Giăng, Tri Tôn, Tám Ngàn, kinh Làng (gọi là kinh chống Mĩ qua địa bàn An Biên và An Minh). Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, rất nhiều con kinh thủy lợi được thực hiện như kinh Hà Giang, kinh Nông Trường, kinh T3, T5, T6 các con kinh thuộc các huyện Tân Hiệp, Châu Thành, An Biên, Vĩnh Thuận, Giồng Riềng, Gò Quao… -Thắng cảnh: Từ vị trí địa lí khá đặc biệt, núi đồi, bờ biển và hải đảo Kiên Giang đã tạo nên một cảnh quan sinh động, hữu tình với một quần thể thắng cảnh ít nơi nào có được. Ngoài thập cảnh đã được Mạc Thiên Tích chọn từ xưa là Kim Dự Lan Đào, Bình Sơn Điệp Thúy, Thạch Động Thôn Vân, Đông Hồ Ấn Nguyệt, Tiêu Tự Thần Chung, Giang Thành Dạ Cổ, Lộc Trỉ Thôn cư, Châu nham Lạc Lộ, Nam Phố Trừng Ba, Lư Khê Ngàn Điếu; bờ biển Hà Tiên với những bãi cát vàng, cát trắng và các hang động thu hút khách tham quan như bãi Hòn Heo, Bãi Giếng, Bãi Dương, Chùa Hang, Hòn Phụ Tử, Hang Tiền, Mo So…các hòn đảo như Hòn Tre, Hòn Nghệ, cổ Tron, 13 Sơn Rái, đặc biệt là đảo Phú Quốc với Suối Tranh, Suối Đá Bàn, rừng nguyên sinh phía Bắc đảo…Tiềm năng du lịch của Kiên Giang sẽ còn được mở rộng khai thác với các di tích lịch sử gắn liền với phong cảnh như rừng U Minh Thượng, Hòn Đất.
Kinh tế Với điều kiện thiên nhiên và tình hình đất đai, Kiên Giang được xác định có các thế mạnh là nông, ngư, công nghiệp và được phân thành 4 vùng kinh tế: Vùng I:Từ biên giới Hà Tiên – Cam-pot đến kênh Rạch Giá – Long Xuyên. Diện tích tự nhiên vùng này khoảng 262. Đất chủ yếu bị nhiễm phèn nặng, hàng năm bị ảnh hưởng lũ sông Cửu Long. Dân cư thưa nên mới khai thác sản xuất trên 100.000 ha về nông, lâm nghiệp.
Toàn vùng có 120 km bờ biển, tiềm năng ngư nghiệp rất lớn, tập trung nhiều núi đá vôi và đá quý, lại có nhiều thắng cảnh, có điều kiện cho công nghiệp khai khoáng và ngành du lịch phát triển. Vùng II: Từ kênh Rạch Giá – Long Xuyên đến phía Bắc sông Cái Lớn. Vùng này đồng ruộng có mặt bằng tương đối tốt, hệ thống kênh rạch khá dầy, có nguồn nước từ sông Hậu đưa về, hàng năm ít bị ảnh hưởng lũ sông Cửu Long, dân cư đông đúc nên có đủ điều kiện thâm canh tăng vụ. Với diện tích tự nhiên 175.000 ha, đã đưa vào sản xuất khoảng 100.
Đây là vùng trọng điểm về nông nghiệp của tỉnh. Sau nông nghiệp, thế mạnh thứ hai của vùng là ngư nghiệp, tuy bờ biển không dài song phương tiện khai thác lại tập trung, nhân dân có nhiều kinh nghiệm trong nghề. 14 Vùng III: Từ Nam sông Cái Lớn đến giáp tỉnh Cà Mau: Vùng này đất hoàn toàn bị nhiễm mặn, không có nguồn nước ngọt. Nước tưới cho nông nghiệp là dựa vào mưa.
Do không chịu ảnh hưởng lũ của sông Cửu Long, lại có nhiều kênh rạch thông ra biển nên khả năng tiêu nước nhanh, mức nước ngập cạn, cá biệt một số nơi bị úng do đất thấp trũng cục bộ. Diện tích tự nhiên toàn vùng là 175.000 ha, đang sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp khoảng 80. Đây là vùng trọng điểm thứ hai của tỉnh về nông nghiệp. Với 65 km bờ biển, nhiều bãi bồi lớn, nhiều cá tôm và động vật biển khác có giá trị.
Trong ruộng đồng có cá lóc, cá trê, cá sặt rằn, lươn và nhiều lâm sản như mật ong, trăn, rùa, rắn, v.v…Thế mạnh kinh tế vùng này là nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp. Vùng IV: Gồm các đảo thuộc huyện Kiên Hải và huyện Phú Quốc: Do địa bàn trải rộng trên vịnh Thái Lan, tập trung các loại hải sản, với trữ lượng lớn, có giá trị kinh tế cao, trên rừng có nhiều gỗ lại có một số dược liệu và khoáng sản có giá trị, thêm vào đó có nhiều cảnh đẹp tự nhiên, nên vùng này trở thành vùng đặc thù kinh tế biển, rừng, khoáng sản và du lịch. Đảo Phú Quốc với diện tích tự nhiên 57.300 ha, có hàng trăm ngọn núi, có gần 35.000 ha rừng, với 2 sản phẩm chủ yếu là nước mắm và hồ tiêu. Trong tương lai có thể phát triển các loại cây nông nghiệp như: Dừa, đào lộn hột, cà phê, trà…và chăn nuôi gia súc có sừng.
73 đảo thuộc huyện Kiên Hải đang được điều tra, thăm dò về tài nguyên. Khả năng khai thác và chế biến hải sản với quy mô ngày được mở rộng rõ ràng là những dự tính rất hiện thực trong những năm tới. Nông nghiệp là thế mạnh kinh tế số 1 của Kiên Giang. Điều ấy không những biểu hiện về mặt tiềm năng và khả năng khai thác mà còn biểu hiện ở vai trò, vị trí của nó đối với đồng bằng sông Cửu Long và cả nước trong những năm trước mắt cũng như về lâu dài.
15 Kiên Giang có khoảng 380.000 ha đất nông nghiệp song mới khai thác, sử dụng khoảng 260.000 ha đang canh tác, còn có khả năng nâng hệ số sử dụng ruộng đất từ 1,2 lần hiện nay lên trên 2 lần những năm tiếp theo.80] Sau ngày Kiên Giang hoàn toàn giải phóng, cây lúa từ quảng canh, vụ canh, trở thành cây lúa thâm canh, tăng vụ. Mỗi giống lúa thích hợp cho mỗi vùng đất khác nhau được tìm tòi, chọn lọc để không ngừng tăng thêm sản lượng. Đồng ruộng được sử dụng và được cải tạo bằng nhiều phương pháp khác nhau. Chính những điều đó đã đưa ngành trồng lúa ở Kiên Giang đi lên và có vị trí xứng đáng trong sản xuất nông nghiệp.