CHƯƠNG 1 DAC DIEM TỰ NHIEN VA LICH SU, TRUYEN THONG DỤC - KHOA CỬ NHO HỌC Ở NGHỆ AN TRƯỚC NĂM 1802 VÀ GIÁO DỤC - KHOA CU NHO HQC O VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU NGUYÊN 1. Đặc điểm tự nhiên và lịch sử tỉnh Nghệ An 1. Đặc điểm tự nhiên tỉnh Nghệ An Nghệ An là tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, cùng với các tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị làm thành “chiếc đòn gánh, gánh hai đâu đất nước Lãnh thổ Nghệ An (phần đất liền) nằm trong tọa độ địa lý từ 18°33"22” đến 19° 5958” độ vĩ Bắc và từ 10352°15° đến 105°48*17° độ kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa với đ-ờng biên đài 196,13km; phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh với d-ờng biên dài 92,6km; phia Tây giáp ba tỉnh Xiêng Khoảng, Hủa Phãn và Bôlikhamxây của Lào với đ-ờng biên giới dài 419km; phía Đông tiếp giáp với biển Đông và có đ- ờng bờ biển dai 82km.
Toàn tỉnh có diện tích đất tự nhiên 16487,39 km2 và là một trong những tỉnh có diện tích đất tự nhiên lớn nhất n- ớc ta. Địa hình Nghệ An t- ơng đối đa dạng, phức tạp và bị chia cắt mạnh thành nhiều kiểu hình; vừa có núi cao và núi trung bình, vừa có đồng bằng và vùng ven biển, trong đó phản đổi núi bao trầm 83% diện tích của tỉnh. Độ đốc địa hình của Nghệ An thoải dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Trong đó cao nhất là đỉnh núi Phuxailaileng (2711m) thuộc huyện Kỳ Sơn và thấp nhất là vùng đồng bằng các huyện Diễn Chau, Yen Thanh, Quynh L-u.
Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên chịu ảnh h-ởng mạnh của nhiều hệ thống thời tiết. Hàng năm từ tháng 4 đến tháng 8 d- ơng lịch, Nghệ An chịu ảnh h- ởng mạnh của gió mùa Tây Nam khô và nóng; từ tháng 11 đến tháng 3 năm có gió mùa Đông Bắc nh và ẩm - ớt. Khí hậu chia thành bốn mùa rõ rệt : mùa. Xuan th- ng Cnghéo màu sắc, hiếm âm thanh”; mùa Hè đến nắng nóng làm đất đồi nứt nẻ, bụi tỏa mù trời; mùa Thu vào khoảng tháng 7, tháng 8 âm lịch hay có bão và lũ lụt; mùa Đông thì rả rích m-a ngâu (m- a phùn) làm cho thời tiết lạnh lẽo, ủ đột.
Thiên nhiên Nghệ An tạo nên một cảnh t-ởng đẹp song cũng khắc nghiệt với con ng-ời nơi đây. Đó là khi hạn đến thì nắng “icháy đồng nung đá khiến —rưộng nẻ, bàu khi còn khi m-a xuống thì lại =zhối đất, thối cát. Có thể nói thiên tai không chỉ riêng Nghệ An nh-ng đi dọc chiều dai đất n-ớc không có nơi nào mà thời tiết lại khắc nghiệt nh- vùng đất này. Về tài nguyên.
khi x-a các nhà viết phong thổ ký cho rằng Nghệ An không đ- ợc tạo hóa c-u mang nh- ng đó là một số mặt về nông nghiệp và là cách nhìn của tiền nhân khi khoa học kỹ thuật ch a phát triển. Đứng vẻ nhiều mặt mà nói, thiên nhiên đã không chỉ hoàn toàn bạc bẽo với Nghệ _ An. Nơi đây vẫn có nguồn tài nguyên đất, rừng, biển, sông ngồi, khoáng s có giá trị phục vụ cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp. Đánh giá chung vẻ điều kiện tự nhiên Nghệ An, Phan Huy Chú cho rằng Nghệ An là nơi núi cao, sông sâu, cảnh vật †-ơi sáng.
Gọi là đất có danh tiếng hơn cả ở Nam ChâuC; còn CNghệ An sứ Nghệ An gần núi giáp biển, đất đai sỏi sạn, cần cỗi lại không có mấy nơi bằng phẳng rộng rãi— [20:219J. Có thể nói thiên nhiên vừa khắc nghiệt vừa -u đãi đã tạo nên nét riêng của con ng-ời xứ Nghệ. Cuộc sống khó khăn, vất vả buộc họ phải v-ơn lên và điều đó cũng ảnh h-ởng lớn đến việc học hành, thì cử trên mảnh đất này. Khái quát lịch sử tỉnh Nghệ An Nghệ An là mảnh đất có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời song song với chiều da 'h sử đất n- ớc.
liên nhiên khắc nghiệt, không thực sự -u đãi đã rèn luyện cho con ng-ời xứ Nghệ đức tính bền bỉ, gan góc, sức chịu đựng với nghị lực cao, sự cần kiệm trong cuộc sống, không thích xa hoa, th-ơng yêu đùm bọc lẫn nhau khi khó khăn, hoạn nạn. Các tác giả =Đại nam nhất thống chí~ nhận xét = dân nghèo, tập tục cắn kiệm, nhà nông chăm chỉ ruộng n- ơng, học trò ưa chuộng học hành” [26;168]. Cuộc sống nhiều khó khăn, thử thách đã góp phần tạo nên tính cách và nghị lực của con ng-ời xứ Nghệ. Thiên nhiên xinh đẹp nh- ng dữ dần đã tạo nên ở con ng-ời Nghệ An sự kiên c-ờng trong cuộc sống m-u sinh và bảo vệ đất n-ớc nơi mảnh đất *viễn trấn” này.
Sách “Lịch triéu hiến ch- ong logi chí” chép: Nơi đây. phong rực trọng hậu, cảnh t-ợng t-ơi sáng gọi là đất có danh tiếng hơn cả ở Nam Châu. Nẹ-ời thì hiển hòa mà chăm học, sản vật thì nhiều thức quý của lạ. Những vị thân ở nái, ở biển có tiếng linh thiêng.
Đ-ợc khí tốt của sông núi nên sinh ra nhiều bậc danh hiển” = thực là nơi hiểm yếu như thành đồng ao nóng của nước nhà và là then khóa của các triểu đại— [6;63]. Trên lãnh thổ Nghệ An từ ng-ời v-ơn ghè đá ở hang Thẩm 6m, ng-di Quynh 'Văn sống bằng sò điệp và biết làm đồ gốm rồi ng-ời Làng Vạc biết chế tạo đồ đồng, ng- ời Nho Lâm rèn sắt, hơn 20 vạn năm đã trôi qua. Khoảng thời gian đó tổ tiên ta trên đất Nghệ An đã bền bỉ, gian khổ vật lộn với thiên nhiên để tồn tại và bản thân con ng- ời cũng phát triển, trí tuệ đ-ợc mở mang, tổ tiên ta đã xây dựng một nền văn hóa đa. dạng, rất đổi tự hào.
Mảnh đất Nghệ An từ thời Bắc thuộc đến nay cũng đã chứng kiến bao đổi thay, thang trầm ct ich sit. D-ới thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, ở Nghệ An đã bùng nổ cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan lãnh đạo (713 - 722) làm rung chuyển cả An Nam đô hộ phủ của nhà Ð- ờng. Trong 10 thế kỷ độc lập tự chủ tiếp theo, Nghệ An là nơi diễn ra nhiều trận đánh tiêu biểu trong lịch sử dân tộc : Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai (1285) khi đại quân và triều đình phải rút khỏi Thang Long, vua Trần Nhân Tông đã đặt cả niềm tin vào đội quân hậu bị hùng hậu của Nghệ An khi viết lên thuyền hai câu thơ : Cối Kê cựu sự quân tụ Hoan Diễn do tồn thập vạn bình. (Chuyện cũ Cối Kê ng-ời hing nhớ.
Hoan Diễn còn kia m- ời vạn quân). Đâu thế kỷ XV, Nghệ An là căn cứ địa trong khởi nghĩa của Trân Ngồi (1407 - 1427), Trân Quý Khoáng (1409 - 1413) và là đất đứng chân của khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427). 10 Vào thế kỷ XIX, các tác giả sách Đại Nam nhất thống chí” có nhận xét vẻ Nghệ An Bia thế rộng rãi, chính là đất xung yếu giña Nam và Bắc— [26;144]. Nita sau thế kỷ XIX, nhân dân Nghệ An liên tục nổi dậy chống triều đình đầu hàng và thực dân Pháp xâm 1- ge d-ới ngọn cờ của Trân Tấn, Đặng Nh- Mai, Nguyễn Xuân Ôn.
và gi- ong cao khẩu hiệu: “phen này quyết đánh cả triều lẫn Tây”. Trong phong trào vận động giải phóng dân tộc (1930 - 1945) nhân dân Nghệ An và Hà Tĩnh đã làm nên một * Nghệ Tĩnh đỏ” trong trang sử vàng của dân tộc. Từ 1945 đến nay, nhân dân Nghệ An đã có những đóng góp to lớn vẻ sức ng- ời, sức của đối với sự nghiệp cách mạng chung của cả dân tộc. Nghệ An là vùng đất cổ, vùng đất sớm có sự giao l-u văn hóa Bắc - Nam.
C- dân Nghệ An là c- dân bản địa đã từng tổn tại và phát triển qua một thời gian dài hàng chục vạn năm. Địa bàn c- trú ban đầu la ng-ời Nghệ cổ x- ở miền núi (hang “Thẩm ồm).Dần dần cùng với sự phát triển của công cụ sản xuất và quá trình chỉnh phục tự nhiên mà họ đã mở rộng địa bàn sinh sống xuống các vùng trung du, đồng bằng, miền biển. Trong quá trình phát triển của mình, ngoài c- dân bản địa, Nghệ An còn có sự nhập c- của nhiều nơi khác nh- từ Bắc vào, từ Nam ra, từ Trung Quốc sang. Chính điều đó đã làm cho Nghệ An trở thành nơi hội tụ của nhiều dòng họ và văn hóa dòng họ khác nhau.
Theo tài liệu “Dán c- và xã hội Nghệ An thì Tnăm 1990, Nghệ An có 341 họ kể cả các họ của các dân tộc ít người ở miền m 116;17]. Nghệ An có các dòng họ lâu đời nh- họ Hồ, họ Ngô, họ Trân, họ Nguyễn. Các dòng họ đã cùng nhau chung l-ng đấu cật trong cuộc đấu tranh chống chọi lại với thiên tai cũng nh- giạ giả ngoài mặt trận, viết lên những trang sử đẹp cho Nghệ An nói riêng và đất n-ớc Việt Nam nói chung. Môi tr- ờng tự nhiên và xã hội Nghệ An vừa - u đãi vừa thử thách,đã hun đúc cho.
truyền thống cần cù, chăm chỉ, hiếu học và đức tính thông minh,sáng tạo của con ng- di xứ Nghệ. C- dân Nghệ An, Hà Tĩnh chủ nhân của nền văn hóa dân gian phát triển rực rỡ với nhiều thể loại nh- ca dao, c ngữ, hát ví, hát đặm, truyện c- ời, truyện cổ tích. " Nghệ An cũng là đất văn vật. Con ng- ời nơi đây đã bao đời nổi tiếng thông minh, hiếu học và khổ học, có trí tuệ trong sáng, trọng đạo lý làm ng-ời, gần gũi với nhân dan, đám chống lại những điều sai trái chốn quan tr- ờng.
Đó là tính cách của nhà Nho. xứ Nghệ mà nhiều bà con xứ khác phải khâm phục. Sác TiĐại Nam nhất thống c nhận định: học trò Nghệ An chuộng khí tiết, nhiều ng- ời hào mại ó chí chăm học, văn. ch-ơng thì đùng lời lẽ cứng cáp, không cần đẹp lời.
Chính những điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử văn hóa trên đã tạo nên nét riêng của con ng-ời xứ Nghệ. Điều đó cũng góp phần giúp cho học trò và Nho sĩ Nghệ An tạo dựng cho mình truyền thống khoa bảng rục rỡ, vẻ vang. Truyền thống giáo dục và khoa cử Nho học ở Nghệ An trước năm 1802 Năm 1070, Lý Thánh Tông đã cho lập văn miếu; đắp t-ơng Khổng Tử, Chu Công và 72 vị tiên hiển để thờ. Năm 1075, Lý Nhân Tông mở khoa thỉ Tam Tr- ờng đầu tiên gọi là Minh kinh bác học để tuyển chọn nhân tài cho hệ thống quan lại.