mở đầu của cuốn sách này, trên cơ sở nghiên cứu, tác giả đã khái quát nền giáo dục - khoa cử Việt Nam từ khởi thủy đến triều Nguyễn dé đưa ra nhận xét: “khi chế độ phong kiến đang thịnh thì nền giáo dục khoa cử có thé đào tạo được những người có năng lực dé giúp vua trị nước. Còn khi chế độ phong kiến suy yếu, kỷ cương lỏng lẻo thì nền giáo dục đó cũng không 16 đáp ứng được ý muốn của giai cấp thống trị là tạo nên một tầng lớp nho sĩ có thực tài dé duy tri mọi giuong mỗi của xã hội phục vụ cho chế độ phong kiến đang trên bước đường tan rã” [7; tr. Quan điểm này của tác giả, theo chúng tôi là một sự khái quát và đánh giá chưa thực sự khách quan, toàn diện; và vì vậy, cần phải nghiên cứu thêm, đánh giá đầy đủ hơn. Bởi vì, sản phẩm của nền giáo dục - khoa cử Nho học ngay cả khi chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng, suy yếu, song trên thực tế đã góp phần tạo ra những nhà tư tưởng, văn hóa lớn của dân tộc.
Tác giả Trần Dinh Hượu , trong cuốn Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, đã khái quát lịch sử phát triển của Nho giáo Trung Quốc và phân tích sự ảnh hưởng nhiều mặt của Nho giáo tới văn học Việt Nam giai đoạn từ thế ky XV đến thé ky XIX. Từ góc độ tiếp cận văn học, trong hai bai dau của cuốn sách, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa Nho giáo và văn học với nhận định: “Nho giáo hy vọng dùng văn chương dé giáo hóa_, động viên, tổ chức, hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội” [60; tr. Đồng thời, ông cũng chỉ ra một thực tế là , Nho giáo dan được nha nước chuyên chế phong kiến dùng làm hệ tư tưởng chính thống và dùng chế độ khoa cử chọn người có học cho đội ngũ quan liêu , cho nên thanh niên muốn có cuộc số ng nhàn hạ, danh gia va sung sướng chi có con đường lựa chon: đi học, đi thi và làm quan. Vi thế, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực cũng ton tại những ảnh hưởng tiêu cực như tâm lý chạy theo danh vị , sự ganh đua rèn luyện kỹ xảo viết văn, sự gọt rũa khuôn sáo của thứ văn chương cử tử.
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về ý nghĩa của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với xã hội Việt Nam trong lịch sử và sự nghiệp phát triển giáo dục nước ta hiện nay Ý nghĩa của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với xã hội Việt Nam trong lịch sử và đối với việc phát triển giáo dục Việt Nam hiện nay, cũng được nhiêu tác gia nghiên cứu. 17 Cuốn sách Nho giáo tại Việt Nam là tập hợp những bài vié t trong Hội thảo Vi trí, vai tro và anh hương của Nho giao trong lịch su tư tương Việt Nam Trong bài viết Những van đề Nho giáo trong lich sử tư tương Việt Nam, tac giả Vũ Khiêu cũng thừa nhận Nho giáo đã giữ một vi trí đặc biệt, dong một vai tro quan trong trong đời sống tinh thần của nhân dân ta qua các thời kỳ lịch sử “Nếu trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc và một thế kỷ sau ngày đất nước ta giành được độc lập Nho giáo vẫn chưa có vai trò gì đáng ké trong xã hội Việt Nam, thì đột nhiên từ thời Lý - Trần, Nho giao được coi trong và có điều kiện phát triển mạnh mẽ cho đến thời Lê sơ thì giành được di avi độc tôn” [109; tr. Nhưng sang thé ky XVI, XVII trở đi, nhất là ở thé ky XVIII, Nho giáo đã bộc lộ những yếu tố hết sức tiêu cực ““việc học tập, thi cử trở thành một chỗ mua quan bán chức, <.> Nho giáo quán triệt trong toàn bộ nội dung kiến thức của các tang lớp sĩ phu. Nho giáo phát triển trong mối quan hệ xoắn xuyt với Phật giáo và Lão giáo <.> nó thâm nhập vào đời sống của nhân dân và ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý của dân tộc.
Nó dé lại những tàn dư dai dang ngay cả trong xã hộ ¡ ta ngày nay”. Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng , nghiên cứu Nho giáo là nhằm “triệt để thanh toán những tàn dư hủ bại của Nho giáo , chúng ta nhất định tiếp thu những nhân tổ tích cực, hợp lý của Nho giáo” [109; tr.21] và dé “cai tạo hiện tại và xây dựng tương lai [109 tr. Tác giả Trần Văn Giàu trong bài viết Đạo đức Nho giáo và đạo đức truyền thống Việt Nam đã phân tích sự liên quan của đạo đức truyền thống Việt Nam với đạo đức Nho giá o và phân biệt sự giống và khác nhau giữa hai nền đạo đức này. Tác giả khang định, Nho giáo thịnh đạt ở nước ta trên dưới 500 năm (tuy nó không độc chiếm trong đời sống tinh thần của người Việt ), đó là thời gian Nhà nước có ý thức mở mang giáo dục, thi cử trên căn bản Nho giáo.
“Nhà nước Lê, Nguyễn ra sức cải tạo phong hóa nhân dân trên cơ sở Nho giáo Bởi vậy ảnh hưởng Nho giáo rất lớn, nhất là trong các tầng lớp trên của xã hội, 18 qua đó thấm vào dan” [109; tr. Kết thúc bài viết, tác giả đã chỉ ra một số tan dư của Nho giáo cần phải quét sạch để xây dựng xã hội mới, đó là: “Thứ nhất: tư tưởng đức trị, nhân trị, điều này trở ngại cho đường lối pháp trị xã hội chủ nghĩa; thứ nhì: chủ nghĩa gia đình , chủ nghĩa đồng tộc, phương châm tri đạo thân thân, điều này trở ngại cho sự thực hiện dân chủ , động viên tài năng; thứ ba: tư tưởng trọng quan khinh dan , nó làm nền cho th ứ chủ nghĩa quan liêu, thơ lại mới” [109; tr. Theo chúng tôi, những nhận định trên của tác giả về những tàn dư của Nho giáo cần phải được xem xét lại và nghiên cứu thêm. Đặc biệt, tư tưởng đức trị , nhân trị, theo chúng tôi không chỉ gây trở ngại mà góp phần bổ sung (trên cơ sở cải tạo , phát triển) cho đường lối pháp trị xã hội chủ nghĩa.
Trong bài viết Vi tri và vai trò của Nho giáo ở thời kỳ cực thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam, tác giả Nguyễn Đức Sự đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử đã lý giải những nhu cầu xã hội giúp cho Nho giáo chiếm được địa vị độc tôn ở thời Lê sơ , nhất là giai đoạn vua Lê Thánh Tông trị vì. Những nhu cầu đó là: nhu cầu xây dựng và tô chức bộ máy nha nước phong kiến trung ương tập quyên lớn mạnh và nhu cau củng có trậttự và ôn định xã hội phong kiến ; nhu câu phát triển văn hóa và giáo dục khi chế độ phong kiến tập quyền đã bắt đầu ồn định và triển khai theo quy mô lớn từ triều Lý. Đồng thời, tác giả cũng khang định, Nho giáo được độc tôn ở thé kỷ XV nhất là ở thời Hồng Đức gắn với những hoạt động của tầng lớp nho sĩ từ thời Trần cho đến thời Lê sơ , và “sự rực rỡ , huy hoàng” của Nho giáo được thê hiện trong lĩnh vực giáo dục và thi cử [109; tr. Nhận định trên đây của tác giả đã gợi ý cho chúng tôi đi sâu tìm hiểu quá trình ảnh hưởng của Nho giáo trong lĩnh vực giáo dục - khoa cử từ thời Lý - Trần cho đến thời Lê sơ.
Ngoai ra, trong bai viết này, tác giả cũng chỉ ra một số tác động tích cực và tiêu cực của Nho giáo trong buổi thịnh thời nhất của nó. Theo tác giả, 19 những tác dụng tích cực của Nho giáo là : góp phần củng cô và phát triển chế độ quân chủ tập trung ở nước ta ; góp phần làm cho sản xuất nông nghiệp và trao đôi hàng hóa được day mạnh hơn trước; làm cho nền giáo dục và lĩnh vực văn hóa tinh thần phát triển hết sức mạnh mẽ nhất là đưới triều Lê Thanh Tông; đồng thời góp phan thúc day lịch sử tư tưởng nước nhà tiến lên một bước mới. Bên cạnh đó, theo tác giả, Nho giáo cũng thê hiện những mặt tiêu cực ngay trong buôi thịnh thời của nó như : làm cho chủ nghĩa giáo điều và bệnh khuôn sáo phát trién mạnh trong lĩnh vực tư tưởng và ý thức hệ _, trong địa hạt giáo dục và khoa cử; Nho giáo làm cho những người gia nhập tầng lớp nho sĩ chỉ biết đề cao đạo tu thân và trị nước chứ không hè đếm xia đến những tri thức về khoa học tự nhiên cũng như về các ngành sản xuất và lưu thông _„, ngày càng xa rời sinh hoạt kinh tế và 1 inh vực sản xuất của xã hội ; khi chiếm được địa vị thống trị trên vũ dai tư tưởng , Nho giáo thời Lê sơ đã không tiếp tục đi sâu khám phá những van dé về bản chất của đời sống và của vũ trụ, về mối quan hệ giữa tinh t han và thé xác mà Phật giáo thời Ly - Tran đã dé cập đến; lễ chế của Nho giáo ngày càng khắt khe và đẻ nặng lên con người. Tác giả Vũ Khiéu trong bài viết Nhân dân Việt Nam dưởi tác động cua Khổng giáo, khi bàn về những di hại của Khong giáo trong đời sống của nhân dân Việt Nam, đã đưa ra những ý kiến như : giam con người vào một trật tự phong kiến chặt chẽ từ trên xuống dưới; gieo rắc vào trong đầu óc người ta tư tưởng khinh rẻ lao động chân tay; tư tưởng khinh thường phụ nữ của Không giáo cũng khuyến khích những thói tệ khinh vợ , đánh vợ, bạc đãi vợ.
; chế độ khoa cử của Không giáo khuyến khích sự truy cầu công danh , địa vi: “người ta muốn đi hoc dé là m quan. Không làm quan thi cũng làm ông khóa , ông đồ hoặc kiếm lay một chức tước địa vị gì đó trong làng xã <.> thái độ quan liêu cũng như tư tưởng địa vị là sản phâm của chế độ phong kiến và được Không giáo khuyến khíc h, đã trở thành hiện tượng khá phổ biến trong xã hội ta và kéo dai trong lịch sử” [109; tr. 20 Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Nho giáo Việt Nam và văn hóa Đông Á (2009) là tập hợp những bài viết của các học giả Việt Nam , Dai Loan, Trung Quốc. về Nho giáo và ảnh hưởng của nó tới Việt Nam và các nước Đông Á khác như: Nhật Bản, Triều Tiên.