Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục tới lĩnh vực giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV" được tác giả Phạm Thị Quỳnh Anh thực hiện tại Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2014), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Nguyên Việt và TS. Nguyễn Thanh Bình. Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Mã số: 62.05).
+-----------------------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN TỔNG QUAN VỀ LUẬN ÁN |
+------------------------+----------------------------------------------------------------------+
| Tên đề tài | Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục tới lĩnh vực |
| | giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV |
+------------------------+----------------------------------------------------------------------+
| Tác giả | Phạm Thị Quỳnh Anh |
+------------------------+----------------------------------------------------------------------+
| Cơ sở đào tạo | Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG Hà Nội |
+------------------------+----------------------------------------------------------------------+
| Chuyên ngành & Mã số | Chủ nghĩa duy vật biện chứng và CNDVLS (Mã số: 62.05) |
+------------------------+----------------------------------------------------------------------+
| Cán bộ hướng dẫn | PGS. Trần Nguyên Việt, TS. Nguyễn Thanh Bình |
+------------------------+----------------------------------------------------------------------+
| Thời gian hoàn thành | Năm 2014 |
+------------------------+----------------------------------------------------------------------+
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong lịch sử tư tưởng triết học, vấn đề con người và giáo dục, đào tạo con người luôn giữ vị trí trung tâm nhằm hình thành thế giới quan, phương pháp luận giúp con người nhận thức và cải tạo hiện thực. Nho giáo từ thời Tiên Tần tại Trung Quốc đã xây dựng một học thuyết chính trị - xã hội lấy giáo hóa đạo đức làm phương thức căn bản để quản trị xã hội. Khi du nhập vào Việt Nam, học thuyết này dần trở thành cơ sở lý luận cho hệ thống giáo dục - khoa cử của các triều đại phong kiến suốt gần mười thế kỷ (từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX).
Giai đoạn từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV (từ thời Lý, Trần, Hồ đến thời Lê sơ) là thời kỳ khởi đầu, định hình và phát triển đến đỉnh cao của nền giáo dục - khoa cử truyền thống Đại Việt, gắn liền với tiến trình xác lập và củng cố nhà nước phong kiến trung ương tập quyền. Tuy nhiên, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề này dưới góc độ sử học thuần túy hoặc văn học, điểm xuyết các sự kiện lịch sử mà chưa có một công trình nào phân tích có hệ thống, toàn diện dưới góc độ triết học duy vật lịch sử về sự tác động, quá trình chuyển hóa và quy luật phát triển của tư tưởng giáo dục Nho giáo trong hệ thống giáo dục - khoa cử giai đoạn bản lề này. Bên cạnh đó, việc nhận diện khách quan cả giá trị tích cực lẫn di hại lịch sử của giáo dục Nho học là yêu cầu cấp thiết nhằm phục vụ sự nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trình bày có hệ thống tư tưởng Nho giáo về giáo dục và ảnh hưởng của nó đến lĩnh vực giáo dục - khoa cử ở Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV, từ đó làm rõ ý nghĩa và bài học lịch sử đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trình bày khái quát sự ra đời và những nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo Trung Quốc về giáo dục.
- Phân tích quá trình ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đến lĩnh vực giáo dục - khoa cử ở Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV.
- Phân tích một số đóng góp chủ yếu của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với xã hội Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV và rút ra bài học lịch sử cho sự nghiệp đổi mới và phát triển nền giáo dục nước ta hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Nho giáo về giáo dục và ảnh hưởng của nó tới lĩnh vực giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào các quan niệm về mục đích, đối tượng, nội dung, phương pháp giáo dục của Nho giáo và sự thâm nhập của các yếu tố này vào quy chế giáo dục - khoa cử Đại Việt; đồng thời liên hệ với thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay.
- Về thời gian - không gian lịch sử: Khảo cứu từ thế kỷ XI (bắt đầu từ triều Lý khi nhà nước độc lập bắt đầu xây dựng thiết chế giáo dục Nho học) đến cuối thế kỷ XV (thời kỳ cực thịnh của nhà nước phong kiến thời Lê sơ dưới triều vua Lê Thánh Tông).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành phân loại và tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài qua ba nhóm công trình chính:
1. Các công trình về Nho giáo và tư tưởng Nho giáo về giáo dục
- Phan Bội Châu với Khổng học đăng (1973): Khẳng định Nho giáo là hệ thống triết học nhân bản sâu sắc, góp phần hình thành truyền thống tinh thần Việt Nam; tuy nhiên luận án chỉ ra rằng nhân cách đạo đức Nho giáo chưa đủ điều kiện để phát triển toàn diện trong xã hội hiện đại.
- Trần Trọng Kim với Nho giáo (2001): Trình bày có hệ thống các phạm trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo nhưng có xu hướng quá ngợi ca học thuyết này do bối cảnh văn hóa - lịch sử khi Pháp bãi bỏ khoa cử năm 1919.
- Đào Duy Anh với Khổng giáo phê bình tiểu luận (1938): Đánh giá khách quan, biện chứng về công dụng và sự nghiệp lịch sử không thể phủ nhận của Nho giáo đối với dân tộc.
- Nguyễn Khắc Viện với Bàn về đạo Nho (2003): Phân tích quan điểm con người, xã hội qua các phạm trù Nhân, Lễ, Nghĩa và ảnh hưởng của Nho giáo trong văn hóa Việt Nam.
- Quang Đạm với Nho giáo xưa và nay (1994): Phân tích hai mặt tích cực và tiêu cực của Nho giáo nhưng chưa dành dung lượng thích đáng cho mảng giáo dục - đào tạo con người.
2. Các công trình về ảnh hưởng của Nho giáo tới giáo dục - khoa cử Đại Việt từ thế kỷ XI đến XV
- Vũ Khiêu trong Những vấn đề Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam (1991) và Bàn về văn hiến Việt Nam (1996): Luận giải tiến trình tiếp biến Nho giáo, khẳng định thời Bắc thuộc Nho giáo chưa có vai trò đáng kể, bắt đầu phát triển từ thời Lý - Trần và đạt vị trí độc tôn thời Lê sơ.
- Trần Nghĩa (1995) và Nguyễn Thanh Bình (1999, 2007): Xác định thời điểm du nhập Nho giáo từ đầu Công nguyên qua con đường xâm lược phong kiến và giao lưu văn hóa, trong đó thời Bắc thuộc Nho học chỉ đóng vai trò phụ trợ cho Phật giáo.
- Nguyễn Đăng Thục trong Lịch sử tư tưởng Việt Nam (Tập 5, 1992): Phác họa quá trình tiếp nhận Nho học qua các mốc dựng Văn Miếu (1070), mở Quốc Tử Giám (1076), tổ chức thi Nho học và thi Tam giáo thời Lý - Trần.
- Trần Văn Giàu trong Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám (1993): Nhận định triều Lý dù sùng Phật nhưng để củng cố chế độ phong kiến đã từng bước dựa vào Nho giáo thông qua khoa cử tuyển chọn quan lại.
- Các nghiên cứu chuyên khảo về lịch sử giáo dục và khoa cử của Nguyễn Đăng Tiến (1996), Nguyễn Tiến Cường (1998), Bùi Xuân Đính (2010), Vũ Ngọc Khánh (2001), Nguyễn Đức Sự (2011), Phan Trọng Báu (1994) và Trần Đình Hượu (1995): Cung cấp các tư liệu lịch sử về thể chế trường lớp, quy chế thi Hương, thi Hội, thi Đình và tác động của văn chương khoa cử đối với tâm lý xã hội.
3. Các công trình về ý nghĩa lịch sử và bài học đối với giáo dục hiện nay
- Các bài viết của Trần Văn Giàu (1991), Nguyễn Đức Sự (1991), Lê Văn Giang (2003), Nguyễn Thị Nga và Hồ Trọng Hoài (2003), Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng (2004), Hoàng Thu Trang (2008): Phân tích các mặt hạn chế lịch sử cần loại bỏ như lối học tầm chương trích cú, bệnh thành tích, tâm lý trọng bằng cấp, chủ nghĩa gia đình, tư tưởng trọng nam khinh nữ; đồng thời chỉ ra các giá trị cần kế thừa về truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần tu dưỡng đạo đức.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Luận án chỉ ra rằng các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận theo hướng liệt kê sự kiện sử học, phân tích văn học hoặc khảo cứu tôn giáo đơn lẻ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Phân tích một cách hệ thống dưới góc độ triết học duy vật lịch sử về bản chất, cơ chế thâm nhập và sự chuyển biến về chất của hệ thống giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV dưới tác động của tư tưởng Nho giáo; luận chứng sự lựa chọn khách quan của lịch sử xuất phát từ nhu cầu củng cố nhà nước phong kiến tập quyền, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc cho công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và hệ thống thuật ngữ
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người và phát triển giáo dục - đào tạo.
- Khung khái niệm và thuật ngữ then chốt:
- Nho giáo: Được hiểu từ mệnh đề "dĩ Nho học giáo dân", nhấn mạnh phương diện ứng dụng, chức năng giáo hóa và quản lý xã hội của học thuyết Nho gia.
- Nho học: Chỉ toàn bộ hệ thống tư tưởng, tri thức và nền học thuật của trường phái Nho gia.
- Nho thuật: Chỉ phương thức, nghệ thuật và cách thức vận dụng Nho giáo, Nho học vào hoạt động trị nước, an dân và điều hành chính sự.
- Khổng giáo / Khổng học: Nhấn mạnh vai trò của người sáng lập là Khổng Tử.
- Hán học: Chỉ nền học thuật thời Hán và hệ thống văn tự chữ Hán.
- Tư tưởng Nho giáo về giáo dục: Hệ thống các quan điểm, nguyên tắc về mục đích, đối tượng, nội dung và phương pháp giáo dục con người.
- Hệ thống giáo dục - khoa cử và Lĩnh vực giáo dục - khoa cử: Luận án phân định hệ thống giáo dục - khoa cử gồm cả mặt hệ thống vật chất (trường lớp, cấp bậc đào tạo, quy chế thi cử) và hệ thống ý niệm (tư tưởng, đường lối chỉ đạo); còn lĩnh vực giáo dục - khoa cử mang nội hàm rộng hơn, bao gồm cả các hình thức giáo huấn đạo đức xã hội ngoài trường quy.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng xuyên suốt, kết hợp với các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp logic kết hợp với lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động của giáo dục Nho học từ thời Tiên Tần qua thời Bắc thuộc, Lý - Trần đến đỉnh cao thời Lê sơ.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các nội dung giáo dục Nho gia và tổng hợp thành bức tranh toàn diện về hệ thống giáo dục Đại Việt.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy chế giáo dục - khoa cử giữa các triều đại Lý - Trần và Lê sơ, giữa nền giáo dục phong kiến và yêu cầu giáo dục hiện đại.
- Phương pháp hệ thống hóa: Phân loại, liên kết các dữ liệu lịch sử thành hệ thống luận điểm triết học chặt chẽ.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Các văn bản kinh điển Nho gia: Tứ Thư (Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử), Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu) và trước tác của Tuân Tử.
- Các bộ chính sử và thư tịch cổ của Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Kiến văn tiểu lục, Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), các văn bia tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
- Các công trình nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo khoa học trong và ngoài nước về Nho giáo và lịch sử giáo dục Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Sự ra đời tư tưởng Nho giáo về giáo dục và một số nội dung cơ bản của nó
Chương 1 gồm 2 tiết, tập trung luận giải nguồn gốc xuất hiện và các yếu tố cấu thành tư tưởng giáo dục Nho giáo tại Trung Quốc:
- Điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề tư tưởng: Nho giáo hình thành trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc (thế kỷ VIII - III tr.CN), giai đoạn quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ Tây Chu sang chế độ phong kiến. Sự xuất hiện của công cụ sản xuất bằng sắt thúc đẩy nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển, làm nảy sinh tầng lớp địa chủ mới và phá vỡ trật tự quý tộc thị tộc cũ. Hiện tượng "vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con" diễn ra phổ biến. Trong bối cảnh khủng hoảng xã hội đó, Khổng Tử (551-479 tr.CN) đã sáng lập Nho giáo nhằm lập lại trật tự xã hội bằng con đường giáo hóa đạo đức. Về sau, Mạnh Tử (372-289 tr.CN) phát triển học thuyết theo khuynh hướng duy tâm với thuyết "tính thiện", còn Tuân Tử (313-238 tr.CN) phát triển theo hướng duy vật hơn với thuyết "tính ác", đề cao vai trò của "Lễ" trong việc cải biến bản tính con người.
- Các nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo dục Nho giáo:
- Mục đích giáo dục: Đào tạo mẫu người lý tưởng – người "quân tử" có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực để thực hiện sứ mệnh "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ", đưa xã hội từ "vô đạo" trở lại "hữu đạo".
- Nguyên tắc giáo dục: Thực hiện "hữu giáo vô loại" (dạy học không phân biệt đẳng cấp xuất thân), "tiên học lễ, hậu học văn" (đặt giáo dục đạo đức lên trước giáo dục tri thức), kết hợp học với hành và tu dưỡng suốt đời.
- Nội dung giáo dục: Đạo đức là trọng tâm với các chuẩn mực Tam cương (Quân - Thần, Phụ - Tử, Phu - Phụ), Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín); tri thức dựa trên hệ thống kinh điển Tứ Thư, Ngũ Kinh và kỹ năng Lục nghệ (Lễ, Nhạc, Xạ, Ngự, Thư, Số).
- Phương pháp giáo dục: Coi trọng sự tự giác, suy ngẫm ("học nhi thời tập chi", "học tư kết hợp"); phương pháp nêu gương của người thầy ("thân giáo"); phương pháp gợi mở phát vấn ("khai vật thành vụ", không giảng giải khi học trò chưa cố gắng suy nghĩ); phương pháp phân loại đối tượng để dạy ("nhân tài thi giáo").
+-----------------------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC NỘI DUNG CỐT LÕI CỦA TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC NHO GIÁO |
+----------------------+------------------------------------------------------------------------+
| Thành tố | Nội dung biểu hiện theo học thuyết Khổng - Mạnh |
+----------------------+------------------------------------------------------------------------+
| Mục đích | Đào tạo người quân tử; thực hiện "Tu thân - Tề gia - Trị quốc - |
| | Bình thiên hạ"; chuyển hóa xã hội từ "vô đạo" thành "hữu đạo". |
+----------------------+------------------------------------------------------------------------+
| Nguyên tắc | "Hữu giáo vô loại" (không phân biệt đẳng cấp); "Tiên học lễ, |
| | hậu học văn" (đức dục đi trước trí dục); gắn học tập với tu dưỡng. |
+----------------------+------------------------------------------------------------------------+
| Nội dung | Chuẩn mực đạo đức (Tam cương, Ngũ thường); kinh điển Tứ Thư, Ngũ |
| | Kinh; rèn luyện kỹ năng Lục nghệ (Lễ, Nhạc, Xạ, Ngự, Thư, Số). |
+----------------------+------------------------------------------------------------------------+
| Phương pháp | Học đi đôi với suy ngẫm; gợi mở; dạy học tùy theo căn cơ đối tượng |
| | ("nhân tài thi giáo"); giáo dục bằng sự nêu gương của người thầy. |
+----------------------+------------------------------------------------------------------------+
Chương 2: Hệ thống giáo dục - khoa cử Đại Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục
Chương 2 gồm 4 tiết, phân tích quá trình thâm nhập và chuyển biến của giáo dục Nho học qua từng giai đoạn lịch sử:
- Nho giáo ở Việt Nam trước thế kỷ XI: Thời Bắc thuộc (hơn 1000 năm), Nho giáo được chính quyền phong kiến phương Bắc đưa vào nhưng chưa có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng nhân dân mà chủ yếu giữ vai trò phụ trợ cho Phật giáo. Đến thế kỷ X, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê do hoàn cảnh chiến tranh liên miên và tâm thế muốn bảo vệ nền độc lập tự chủ, thoát khỏi ảnh hưởng của hệ tư tưởng phong kiến phương Bắc, nên giáo dục Nho học chưa có điều kiện phát triển; tầng lớp trí thức nắm giữ vai trò cố vấn triều chính lúc này chủ yếu là các thiền sư am hiểu cả Tam giáo.
- Thời kỳ Lý - Trần - Hồ (thế kỷ XI - XIV):
- Nhà Lý đặt nền móng cho nền giáo dục Nho học chính thống với các sự kiện: lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử (năm 1070), mở Quốc Tử Giám (năm 1076) và mở khoa thi Nho học đầu tiên (khoa thi Tam trường năm 1075).
- Nhà Trần tiếp tục củng cố: Định rõ học vị Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa vào năm 1247), phân biệt Kinh Trạng nguyên và Trại Trạng nguyên, mở rộng trường học tại các lộ, phủ.
- Đặc điểm: Giáo dục Nho học giai đoạn này tồn tại trong bối cảnh "Tam giáo đồng nguyên", Phật giáo giữ vị trí quốc giáo nhưng Nho học ngày càng được triều đình trọng dụng để phục vụ quản lý hành chính và xây dựng luật pháp.
- Thời kỳ Lê Sơ thế kỷ XV (Nho giáo độc tôn):
- Sau khi đánh đuổi quân Minh, nhà Lê sơ lựa chọn Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống duy nhất. Dưới triều vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Quang Thuận và Hồng Đức), giáo dục - khoa cử Nho học đạt đến quy củ hoàn thiện.
- Mục đích giáo dục: Đào tạo đội ngũ quan lại tuyệt đối trung thành với vương quyền phong kiến tập quyền, thấm nhuần đạo đức Nho gia.
- Quy chế giáo dục - khoa cử: Định kỳ tổ chức thi Hương ở địa phương và thi Hội, thi Đình ở kinh đô 3 năm một lần (bắt đầu định lệ lệ thi ba năm một kỳ từ năm 1464); dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu Thăng Long (bắt đầu từ năm 1484) để vinh danh trí thức đỗ đại khoa; quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn dự thi (người dự thi phải có hạnh kiểm tốt, con em nhà lương thiện; nghiêm cấm con em phường chèo, xướng ca, kẻ bất hiếu, can phạm tham ô dự thi).
- Phương pháp và nội dung: Nội dung học tập hoàn toàn loại bỏ Phật, Lão, lấy Tứ Thư, Ngũ Kinh làm giáo trình chuẩn mực; phương pháp thi cử tập trung vào văn chương cử tử, kinh nghĩa, thơ phú, chiếu chế biểu và văn sách đối sách bàn việc trị quốc.
+-----------------------------------------------------------------------------------------------+
| SO SÁNH HỆ THỐNG GIÁO DỤC - KHOA CỬ THỜI LÝ - TRẦN VÀ THỜI LÊ SƠ |
+---------------------+-----------------------------------+-------------------------------------+
| Tiêu chí | Thời Lý - Trần (Thế kỷ XI - XIV) | Thời Lê Sơ (Thế kỷ XV) |
+---------------------+-----------------------------------+-------------------------------------+
| Bối cảnh tư tưởng | Tam giáo đồng nguyên (Nho, Phật, | Nho giáo chiếm địa vị độc tôn tuyệt |
| | Đạo); Phật giáo giữ ưu thế lớn. | đối trên mọi lĩnh vực. |
+---------------------+-----------------------------------+-------------------------------------+
| Mục đích đào tạo | Tuyển chọn quan lại hành chính | Đào tạo đội ngũ quan liêu trung |
| | song song với tầng lớp quý tộc. | thành, phụng sự nhà nước tập quyền. |
+---------------------+-----------------------------------+-------------------------------------+
| Quy chế thi cử | Đã định hình nhưng chưa tổ chức | Định lệ thi 3 năm một kỳ; tổ chức |
| | thành định kỳ đều đặn. | chặt chẽ: thi Hương, Hội, Đình. |
+---------------------+-----------------------------------+-------------------------------------+
| Tôn vinh khoa bảng | Bắt đầu định danh hiệu Tam khôi | Khắc bia Tiến sĩ tại Văn Miếu |
| | (Trạng nguyên, Bảng nhãn...). | Thăng Long (từ năm 1484). |
+---------------------+-----------------------------------+-------------------------------------+
| Nội dung học tập | Kinh điển Nho gia kết hợp thi | Thuần nhất Tứ Thư, Ngũ Kinh, lịch |
| | Tam giáo, thơ phú. | sử, văn sách đối sách trị quốc. |
+---------------------+-----------------------------------+-------------------------------------+
Chương 3: Đóng góp của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với xã hội Đại Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV và bài học lịch sử đối với sự nghiệp giáo dục nước ta hiện nay
Chương 3 gồm 2 tiết, đánh giá toàn diện giá trị lịch sử và liên hệ thực tiễn giáo dục:
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt lý luận:
- Luận án đã trình bày một cách có hệ thống, khách quan các nội dung căn bản trong tư tưởng giáo dục Nho giáo nguyên thủy và phân tích cơ chế tiếp biến của nó vào hoàn cảnh lịch sử Đại Việt.
- Dưới lăng kính của chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án đã làm sáng tỏ tính quy định của điều kiện kinh tế - xã hội đối với sự biến đổi của hệ thống giáo dục - khoa cử từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV; khẳng định sự xác lập vị thế độc tôn của Nho giáo thời Lê sơ là kết quả tất yếu của nhu cầu xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền cao độ.
- Về mặt thực tiễn:
- Luận án đánh giá toàn diện đóng góp của giáo dục Nho học đối với sự phát triển văn hóa, đào tạo nhân tài và ổn định trật tự xã hội Đại Việt thời phong kiến cực thịnh.
- Rút ra hệ thống bài học lịch sử có giá trị thực tiễn đối với công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay: chỉ rõ nguồn gốc lịch sử của "căn bệnh bằng cấp", "bệnh thành tích", lối học từ chương xa rời thực tiễn để kiên quyết loại bỏ; đồng thời định hướng kế thừa biện chứng truyền thống hiếu học, đề cao đạo đức và chính sách coi trọng hiền tài.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nguồn sử liệu: Do bối cảnh lịch sử thời Lý - Trần trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn phá, các nguồn chính sử thành văn ghi chép chi tiết về cơ cấu tổ chức bên trong của Quốc Tử Giám, chương trình sách giáo khoa cụ thể của từng cấp học và số lượng trường lớp địa phương còn nhiều mảng khuyết thiếu. Nhiều nhận định trong luận án buộc phải dựa trên sự đối sánh logic - lịch sử từ các di tích vật thể còn lại (như bia đá, Văn Miếu).
- Giới hạn phạm vi thời gian: Luận án dừng lại ở mốc cuối thế kỷ XV (thời Lê sơ). Do đó, sự biến đổi của giáo dục Nho học trong giai đoạn thoái trào ở các thế kỷ sau (thời Lê - Trịnh, Tây Sơn và triều Nguyễn) chưa được khảo cứu trực tiếp.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục mở rộng nghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Nho giáo ở các giai đoạn lịch sử tiếp nối (từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX khi khoa cử Nho học chấm dứt tại Việt Nam).
- Nghiên cứu so sánh đối chiếu hệ thống giáo dục - khoa cử Nho học Đại Việt với các quốc gia đồng văn trong khu vực Đông Á (như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) từ giác độ triết học văn hóa liên ngành.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Thuộc các chuyên ngành Triết học (đặc biệt là Lịch sử Triết học, Triết học phương Đông), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Lịch sử giáo dục Việt Nam, Văn hóa học và Hán Nôm học.
- Các nhà hoạch định chính sách giáo dục: Cung cấp cứ liệu lịch sử và bài học kinh nghiệm về phương thức quản lý thi cử, cách thức đào tạo, tuyển chọn và đãi ngộ nhân tài, cũng như các giải pháp khắc phục căn bệnh hư danh, chuộng bằng cấp trong xã hội hiện đại.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
- Tiết 2.3 và 2.4 (Chương 2) về sự chuyển hóa quy chế giáo dục - khoa cử từ thời Lý - Trần sang thời Lê sơ.
- Tiết 3.2 (Chương 3) về việc nhận diện nguồn gốc lịch sử của các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục Việt Nam hiện nay dưới lăng kính triết học.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao thời Lý - Trần hệ thống giáo dục Nho học đã hình thành nhưng chưa chiếm vị trí độc tôn?
Dưới thời Lý - Trần, bối cảnh tư tưởng xã hội mang đặc điểm "Tam giáo đồng nguyên", trong đó Phật giáo giữ vị trí quốc giáo và có thế lực rất mạnh trong đời sống tâm linh lẫn chính trị. Triều đình Lý - Trần vẫn áp dụng các khoa thi Tam giáo để tuyển chọn người tài. Chỉ đến khi yêu cầu củng cố nhà nước quân chủ trung ương tập quyền cao độ trở nên cấp thiết, hệ tư tưởng Nho giáo với tính chất chặt chẽ về tôn ti trật tự mới dần thay thế vị trí của Phật giáo và vươn lên độc tôn ở thời Lê sơ.
2. Các mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời của nền giáo dục - khoa cử Nho học Đại Việt thời Lý là gì?
Nhà Lý đã xác lập nền móng giáo dục Nho học qua ba mốc chính:
- Năm 1070: Vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu để thờ Chu Công, Khổng Tử và bốn vị phối thờ (Tứ phối).
- Năm 1075: Mở khoa thi Nho học đầu tiên trong lịch sử (khoa thi Tam trường) để tuyển chọn nhân tài.
- Năm 1076: Thành lập Quốc Tử Giám để làm nơi học tập kinh điển Nho gia cho con em hoàng tộc và những người tuấn tú trong nước.
3. Vua Lê Thánh Tông đã có những cải cách giáo dục - khoa cử mang tính bước ngoặt nào trong thế kỷ XV?
Dưới triều Lê Thánh Tông, Nho giáo đạt vị thế độc tôn với các cải cách lớn:
- Hoàn thiện và định lệ tổ chức thi Hương, thi Hội, thi Đình đều đặn 3 năm một kỳ (bắt đầu từ năm 1464).
- Khởi xướng việc dựng bia đá đề danh Tiến sĩ tại Văn Miếu Thăng Long (bắt đầu từ năm 1484) nhằm vinh danh người đỗ đại khoa và răn dạy trách nhiệm của kẻ sĩ đối với đất nước.
- Ban hành quy chế dự thi nghiêm ngặt, chỉ cho phép con em nhà lương thiện tham gia, loại trừ những người có lý lịch vi phạm đạo đức.
4. Luận án phân biệt khái niệm "Hệ thống giáo dục - khoa cử" và "Lĩnh vực giáo dục - khoa cử" như thế nào?
- Hệ thống giáo dục - khoa cử: Bao gồm cả hệ thống vật chất (mạng lưới trường lớp, cấp học, các kỳ thi Hương - Hội - Đình) và hệ thống ý niệm (đường lối, quan điểm, lý luận giáo dục).
- Lĩnh vực giáo dục - khoa cử: Mang nội hàm rộng hơn, bao hàm toàn bộ hệ thống giáo dục - khoa cử chính thống kết hợp với các hình thức giáo huấn, chuẩn mực đạo đức và phong hóa xã hội do nhà nước phong kiến ban hành ngoài trường quy.
5. Những di hại lịch sử nào của nền giáo dục Nho học được luận án chỉ ra là nguyên nhân của tiêu cực giáo dục hiện nay?