phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được thực hiện bởi những người tham gia. Tổ chức hoạt động sân khấu tương tác trong nhà trường sẽ thu hút được đông đảo HS tham gia. Có thể tổ chức trong không gian lớp học hoặc không gian mở trước toàn trường. - Các HS sẽ lựa chọn những tác phẩm ngữ văn có chủ đề, nội dung liên quan tới VHDT để diễn kịch, ví dụ như tác phẩm Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái, khán giả là các HS khác sẽ phải tương tác thông qua trả lời câu hỏi, hay thực hiện tiếp nội dung như các em đã được học qua tác phẩm hoặc sáng tạo mới từ đó.
Điều này vừa giúp các em nhớ lại được những bài học ngữ văn, vừa giúp các em tìm hiểu sâu hơn về ý nghĩa của các giá trị VHDT thông qua các các tác phẩm, và tạo sự hứng thú đối với việc học ngữ văn. Tổ chức tham quan, dã ngoại - Tham quan, dã ngoại là một trong những hình thức học tập trải nghiệm thú vị, thu hút được sự quan tâm của các em HS và mang đến những hiệu quả đáng ghi nhận. Các em HS không chỉ ngồi gò bó trong lớp học để nghe giảng mà sẽ có cơ hội được tham quan danh lam thắng cảnh của địa phương gắn với văn hoá lịch sử như thành Trà Lân trong Bình Ngô đại cáo,…Đặc biệt sẽ được trải nghiệm các phong tục, tập quán mang đậm BSVHDT của đồng bào thiểu số tưởng như chỉ được nghe qua lời giảng của GV, ví dụ như lễ tết của đồng bào Mông, chợ phiên miền núi, v. - Mỗi nội dung tham quan, dã ngoại sẽ gắn với chủ đề BSVHDT để bổ sung thêm kiến thức thực tiễn cho các em HS, để các em thấy rằng VHDT cũng thật gần gũi, sinh động và gắn liền với cuộc sống, đồng thời nâng cao ý thức bảo tồn, giữ gìn và phát huy.
- Việc tổ chức hoạt động trải nghiệm tham quan, dã ngoại đang ngày càng được các nhà trường và phụ huynh chú trọng, tuy nhiên hoạt động này cần được chuẩn bị, tổ chức kỹ lưỡng, an toàn và phù hợp với điều kiện về thời gian, kinh phí của nhà trường cũng như HS. Tổ chức các cuộc thi - Các cuộc thi trong phạm vi lớp học, toàn trường sẽ là hoạt động đòi hỏi các em HS dành thời gian tìm hiều, nghiên cứu thông tin, kiến thức đã được học trong các tác phẩm cũng như ngoài cuộc sống. Độ tuổi HS phổ thông là thời kỳ thích được thể hiện bản thân, thích được khẳng định khả năng của mình. Vì vậy các cuộc thi sẽ giúp các em vừa nâng cao được kiến thức, bổ trợ hiểu biết và rèn luyện được kỹ năng mềm như kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp.
- Hoạt động trải nghiệm qua các cuộc thi có thể lồng ghép, đan xen được các hình 12 skkn thức trải nghiệm khác như diễn kịch các tác phẩm, giao lưu, thuyết minh kể chuyện lại chuyến tham quan, dã ngoại, v. Có thể đưa một tác phẩm ngữ văn yêu cầu các HS tìm hiểu và trả lời các câu hỏi mở rộng, hoặc yêu cầu các em tìm hiểu một nét văn hoá của dân tộc thông qua nhiều tác phẩm ngữ văn trong nhà trường cũng như ngoài sách giáo khoa. - Tính chất cuộc thi sẽ tạo nên tâm lý và nhu cầu tìm hiểu sâu của HS, từ đó các bài học sẽ được khắc ghi hiệu quả hơn, mong muốn khám phá các kiến thức cũng sẽ được thôi thúc. Tuy nhiên cần nghiên cứu tổ chức các cuộc thi với những nội dung phù hợp, cách thức hấp dẫn, thú vị và tạo hiệu quả cũng như truyền tải được tinh thần cầu thị, đoàn kết của HS.
Tổ chức thảo luận - Đây có lẽ là hình thức tổ chức dạy học trải nghiệm phổ biến và đơn giản nhất trong nhà trường. HS sẽ cùng thảo luận, trao đổi về một nội dung liên quan tới BSVHDT, từ đó hiểu kỹ hơn về tác phẩm và tạo hứng thú mỗi khi học các tác phẩm về văn hoá, dân tộc. Ví dụ có thể yêu cầu các em thảo luận tục bắt vợ, cúng trình ma trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ. - Thực tế hoạt động này hiện nay vẫn chưa tạo được sự thú vị và thu hút sự tham gia của HS.
Tuy nhiên nếu GV biết cách tổ chức, dẫn dắt, tạo tâm lý tò mò, tạo sự chủ động cho HS thì có thể đạt hiệu quả cao. GV mang tính chất định hướng, còn HS sẽ chủ động lựa chọn nội dung, hình thức thảo luận, cách tạo hứng thú cho các bạn như tặng quà, phần thưởng, v. Ngoài ra, GV cần giải thích và truyền động lực cho HS để HS thấy rằng hoạt động thảo luận sẽ giúp các em nâng cao kỹ năng thảo luận, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng tổ chức, chủ trì, v. Từ đó, các em sẽ thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của hoạt động thảo luận.
Giáo dục HS thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo Giáo dục HS thông qua hoạt động TNST được thể hiện trên 2 phương diện: a. Về năng lực Giúp HS củng cố và hiểu sâu hơn những kiến thức đã học, kiến thức liên quan đến đời sống KTXH của địa phương - nơi các em sinh sống. Thông qua hoạt động TNST, HS được quan sát, tìm hiểu, trải nghiệm dưới sự hướng dẫn, tổ chức của GV. Qua đó, không chỉ làm phong phú kiến thức thực tiễn cho HS mà còn là cơ sở để đạt được các mục tiêu giáo dục khác.
Ưu điểm của HĐTN chính là phát triển cho HS các năng lực học tập. Thông qua các hoạt động được tổ chức có mục tiêu, kế hoạch, H S được tham gia trực tiếp vào hoạt động thực tiễn; từng bước hình thành năng lực tham gia và tổ chức hoạt động, quan sát, làm việc độc lập, nhóm, trình bày vấn đề,. năng khiếu của HS cũng được phát triển mạnh mẽ. Về phẩm chất: Bồi dưỡng cho các HS tình yêu quê hương đất nước, sống tình nghĩa, nhân ái, yêu thương, có trách nhiệm trong công việc, biết trân trọng, tự hào về các giá trị di sản văn hóa của địa phương.
Từ đó, có ý thức trách nhiệm đóng góp cho việc bảo tồn và phát huy BSVH của dân tộc. Thực tiễn dạy học cho thấy, nhiều GV chưa chú trọng đúng mức đến ý nghĩa giáo dục của hoạt động TNST. Do vậy, yếu tố này bị xem nhẹ từ khâu xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, hình thức đến phương pháp tổ chức hoạt động TNST. Điều này sẽ làm giảm đi hiệu quả của hoạt động TNST, nhất là trong việc giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy BSVHDT, hình thành phẩm chất cho người học.
Một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo - Cần phải lựa chọn hình thức phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng đối tượng HS, đặc trưng nội dung môn học, nhà trường và địa phương. - Khi tổ chức hoạt động TNST cần lưu ý thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GV chủ nhiệm, GV bộ môn, cán bộ Đoàn, BGH nhà trường, cha mẹ HS, chính quyền địa phương, những nghệ nhân, những người lao động tiêu biểu ở địa phương,… - Phạm vi các chủ đề/ nội dung hoạt động và kết quả đầu ra của TNST là năng lực thực tiễn, phẩm chất và năng lực sáng tạo đa dạng, khác nhau của các em HS. Vì vậy, GV không làm thay, không tổ chức, không phân công HS một cách trực tiếp mà chỉ hướng dẫn, hỗ trợ, giám sát cho tập thể hoặc cá nhân HS tham gia trực tiếp; hoặc GV đứng ở vai trò tổ chức hoạt động, giúp HS chủ động, tích cực trong càng nhiều hoạt động càng tốt. - Phải có các biện pháp đảm bảo sức khỏe, an toàn cho HS trong quá trình tổ chức các hoạt động.
- Tổ chức hoạt động phải gắn liền với các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp, đảm bảo đánh giá được sự tiến bộ của HS (bài thu hoạch, sản phẩm cụ thể…). Lí luận về giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc 2. Giáo dục văn hóa dân tộc Giáo dục văn hóa dân tộc là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho HS phẩm chất, năng lực, tri thức cần thiết về giá trị vật chất và tinh thần, các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, kinh nghiệm ứng xử, lối sống, ngôn ngữ, phong tục, tập quán… của các dân tộc được lưu truyền, tồn tích, vận hành nối liền các thế hệ. Giáo dục giúp cho HS 14 skkn hiểu biết về truyền thống, BSVHDT, tôn trọng, giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc mình, tôn trọng văn hóa của các dân tộc anh em.
Chính vì vậy, quan tâm đến việc giáo dục văn hóa dân tộc là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong thời gian qua. Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc Giáo dục BSVHDT là hoạt động có định hướng, có tổ chức nhằm hình thành năng lực nhận thức, ý thức ứng xử đúng đắn với các giá trị VHDT và hoàn thiện phẩm chất, đức tính tốt đẹp cho HS trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Để HS biết bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống một cách tự giác, trước hết cần làm cho các em thấy được mối liên hệ cụ thể giữa yếu tố văn hóa truyền thống với sự phát triển hiện nay, tức là hiểu được sự cần thiết và lợi ích của BSVHDT xuất phát từ nhu cầu phát triển của HS. Từ đó, hình thành thái độ tôn trọng và định hướng các hành vi cá nhân trong đời sống hàng ngày.
Giáo dục BSVHDT không chỉ đơn thuần là phổ biến tri thức về những giá trị BSVH mà cần xem xét BSVHDT trong mối quan hệ với đối tượng bảo tồn và phát huy nó - đó chính là HS. Như vậy, giáo dục BSVHDT chính là giáo dục ý thức công dân, giáo dục con người một cách toàn diện. Trong nhà trường, hoạt động này có thể đánh giá tổng thể trên một số lĩnh vực cơ bản như: đạo đức, lối sống, học vấn, trí tuệ. thông qua quá trình tác động có định hướng, có mục đích và GV là người tổ chức, hướng dẫn.
Tầm quan trọng của việc giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường phổ thông Nhiệm vụ vận dụng các giá trị văn hóa để giáo dục HS là mục tiêu lớn của ngành giáo dục.