Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THONG DIEP TRUYEN THONG BINH DANG GIỚI TREN BAO CHÍ 1. Một số khái niệm 1. Thông điệp truyền thông * Khái niệm truyền thông Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn: "Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau"[20]. Theo tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đôi hoặc chia sẻ thông tin, tinh cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau dé dẫn đến sự thay đổi trong nhận thức và hành vi” [18].
Còn theo tác giả Nguyễn Văn Dững:"Truyền thông ở bình diện tổng quát được hiểu là quá trình liên tục trao đôi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm góp phần nâng cao thay đôi nhận thức, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đổi thái độ và hành vi của công chúng - nhóm đối tượng phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững"[7]. Từ các định nghĩa nêu trên, có thé thay, các tác giả déu thông nhất khái niệm về truyền thông ở các ý: Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi thông tin. Hoạt động truyền thông diễn ra ở nhiều cấp độ: cá nhân, nhóm, đại chúng. Mục dich truyền thông là đạt được sự hiểu biết lẫn nhau, nhờ đó đem lại sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi cua cá nhân, nhóm xã hội.
Các phương tiện truyền thông này có sức lan tỏa rộng, phạm vi ảnh hưởng và tác động lớn, thường xuyên đem đến cho công chúng những thông tin mới, có tính hấp dẫn, thu hút sự chú ý, quan tâm của công chúng, từ đó có khả năng tạo ra những tác động, ảnh hưởng nhất định đến thái độ 13 của công chúng. Mặt khác, sự đa chiều ở đây thể hiện qua tính hiện đại của phương tiện truyền thông hoạt động trên nhiều nên tảng ứng dụng công nghệ hiện đại giúp công chúng có thể tương tác với tổ chức hoặc cá nhân mà họ muốn đề cập. * Khái niệm Truyền thông đại chúng Truyền thông đại chúng được hiểu chung là phương pháp truyền thông, chuyên tải thông điệp đến những nhóm đông người. Tác giả Đặng Thị Thu Hương cho rằng: Truyền thông đại chúng ra đời và phát triển gắn liền gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người, bị chi phối trực tiếp bởi hai yếu tố là nhu cầu thông tin giao tiếp và kỹ thuật, công nghệ thông tin.
Để thực hiện được các hoạt động truyền thông trên phạm vi và quy mô rộng lớn cần có các phương tiện kỹ thuật tương ứng [12]. Tác giả Ta Ngọc Tan co quan điểm: Truyền thông đại chúng là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng [20]. Thực chất truyền thông đại chúng là phương pháp biểu hiện mới của hoạt động truyền thông trong xã hội với đối tượng tham gia là các nhóm, cộng đồng xã hội, đáp ứng nhu cầu giao tiếp phổ biến, tạo ra hiệu quả ở quy mô, phạm vi xã hội rộng lớn. Tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng: Truyền thông đại chúng được hiểu là hệ thống các phương tiện truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội nhằm thông tin, chia sẻ, lôi kéo, tập hợp, giáo dục, thuyết phục và tổ chức đông đảo Nhân dân tham gia, giải quyết các vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội đã và đang đặt ra [6].
Như vậy, có thê hiểu “Truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt - thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng”. Hay nói cách khác, truyền thông đại 14 chúng là quá trình xã hội đặc thù, gồm 3 thành tố: Hoạt động truyền thông, các nhà truyền thông và công chúng, độc giả và khán, thính giả. * Khải niệm thông điệp Thông điệp: là một trong các yếu tố cơ bản trong quá trình truyền thông. Thông điệp là nội dung thông tin được trao đôi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.
Theo The Missouri Group, tác gia của cuốn sách “Nhà báo hiện đại”: “Với mỗi thông điệp bạn viết, trước hết bạn hy vọng đạt được điều gi, ngay cả khi mục đích của bạn chỉ là thông tin"[25]. Tác giả Dương Xuân Sơn - Đinh Văn Hường - Trần Quang cho rằng: “Thông điệp có thể bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng trên không trung hoặc bằng bat cứ tín hiệu nào mà người ta có thé hiểu va được trình bay ra một cách có ý nghĩa” [18]. Nhà nghiên cứu Stuart Hall đề xuất cách hiểu thông điệp truyền thông theo cơ chế mã hóa và giải mã (Hall,1997). Stuart Hall chỉ ra: Thông điệp truyền thông mang tính đa nghĩa và có rất nhiều cách hiểu.
Công chúng thường giải mã thông điệp theo quan điểm riêng của họ. Giai đoạn này các nhà nghiên cứu chú ý tới tính tự do trong truyền thông đại chúng. Theo tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hăng: "Thông điệp là một hệ thống ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cu thé. Hệ thống ký hiệu nay là quy ước giữa đầu phát và đầu nhận.
Hệ thống ký hiệu ấy có thé nói là lời nói (tiếng động và âm nhạc), chữ viết, đường nét, màu sắc, cử chỉ, thái độ" [7]. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kĩ thuật. được mã hóa theo một hệ thống kí hiệu nào đó. Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có cùng cách hiểu - tức là có khả năng giải mã.
Tiêng nói, chữ việt, hệ thông biên báo, hình ảnh, cử chỉ biêu đạt của 15 con người được sử dụng dé truyền tải thông điệp. Có thể khái quát: Thông điệp là thông tin cốt lõi, có mục đích, được biéu đạt bằng thứ ngôn ngữ quy ước đê người cung câp và người tiêp nhận có thê hiêu được nhau. Thông điệp cân thê hiện một cách cô đọng, đơn giản, bât ngờ, gây được cảm xúc cho người nhận. * Khái niệm thông điệp truyền thông Trong cuốn "Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản" của tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, Nxb Thông tin và Truyền thông, năm 2018, đã đưa ra khái niệm "thông điệp truyền thông là tập hợp ký hiệu có câu trúc chặt chẽ, có nghĩa, được dùng đê trao đôi giữa chủ thê và công chúng/ nhóm đối tượng truyền thông"[7].
Hành vi Thông xã hội, Nguồn | điệp Thái độ xã + hội | Nhiễu Hiệu lực Hiệu quả Hình ảnh 1. Mô hình truyền thông của tác giả Nguyễn Van Dững, Do Thị Thu Hang Trong do: + Nguồn: La yếu tố đưa thông tin đến và khởi họa quá trình truyền thông. Nguồn phát là một người hay một nhóm người có nội dung thông tin chia sẻ với người hoặc nhóm người kia. 16 + Thông điệp: Như khái niệm đã nêu ở trên thì hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung một cách hiểu - tức có khả năng mã hóa.
Tiếng nói, chữ viết, hệ thống âm thanh, điệu bộ, cử chỉ thé hiện của người được nhận và truyền tải thông điệp. + Kênh truyền thông: Là những phương tiện, con đường và hình thức chuyên tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng nhân. Căn cứ theo tính chất và đặc thức cụ thẻ, người ta phân chia truyền thông thành nhiều loại khác nhau như: truyền thống cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đa phương tiện, truyền thông đại chúng, truyền thông xã hội. + Người nhận: Là những đối tượng hoặc nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông.
Hiệu quả của truyền thông được đánh giá trên cơ sở sự thay đôi trong nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận cùng hiệu ứng xã hội mà truyền thông mang lại. Trong quá trình truyền thông, nguồn phát cùng đối tượng tiếp nhận có thê đổi chỗ cho nhau dé phối hợp và tương tác với nhau. Về mặt xã hội, nguồn phát thực hiện hành vi trong quá trình truyền thông trước. + Phan hồi/Hiệu quả: Là thông tin một chiều, là đầu ra của thông điệp và đưa người nhận trở về nguồn phat.
Mach phản hồi là do lường hiệu qua của hoạt động truyền thông. + Nhiễu: Là yếu tố tạo ra sự thay đôi không được dự đoán trước trong quá trình truyền thông (tiếng ồn, âm thanh, các yếu tố tâm lý, kĩ thuật.) dẫn đến việc thông điệp, thông tin bị bóp méo. + Hiệu lực: Có thé hiểu là yếu tố tạo ra được sự quan tâm cho công chúng - nhóm đối tượng truyền thông. + Hiệu quả: Là các tác động tích cực trong nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng — nhóm do truyền thông gây ra, phù hợp với mong muốn của nhà truyền thông.
Hiệu lực và hiệu quả có mối liên hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau. 17 Trong bối cảnh bùng nổ thông tin như hiện nay, thông điệp truyền thông không chỉ cần đơn giản, dé hiểu, chính xác mà còn phải hấp dẫn. Tình trạng tràn ngập thông tin khiến công chúng bị quá tải trong khi khả năng sự chú ý của con người lại có hạn. Tình trạng quá tải thông tin chính là một loại nhiễu môi trường khiến thông điệp có thé không đến được với công chúng mục tiêu.
* Đơn giản, dễ hiểu Thông điệp truyền thông trước hết cần đơn giản, dé hiểu, phù hop với năng lực tiếp nhận của công chúng. Muốn vậy, nhà truyền thông cần đặt mình vào vị trí của công chúng và trả lời được một số câu hỏi như: Công chúng cua minh là ai? Họ có trình độ học vấn như thế nào? Năng lực tiếp nhận của họ ra sao? Họ có đặc điểm gì về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin? Họ có mối quan tâm gi đối với chính sách? Việc trả lời đầy đủ các câu hỏi trên đây sẽ giúp cho nhà truyền thông đưa ra thông điệp phù hợp với công chúng mục tiêu. Thông điệp đưa ra phải căn cứ vào năng lực tiếp nhận của công chúng, chứ không phải từ vị trí của nhà truyền thông. Nếu công chúng có trình độ học vấn thấp, nhà truyền thông phải sử dụng ngôn ngữ dé họ có thé hiểu được.
Điều này đặc biệt quan trọng, nhất là đối với công chúng tại các vùng dân tộc thiểu số hoặc các nhóm công chúng có điều kiện học tập khó khăn. * Chính xác Thông điệp truyền thông phải trung thực với nội dung cốt lõi của vấn đề. Việc xây dựng thông điệp truyền thông đơn giản, dễ hiểu không có nghĩa là cung cấp thông tin một chiều, hoi hot, phiến diện.