Quản lý hình ảnh dân tộc Mường trên báo chí tỉnh Hòa Bình - Trần Đức Anh

Nghiên cứu thực trạng quản lý hình ảnh dân tộc Mường trên báo chí tỉnh Hòa Bình hiện nay, đánh giá hiệu quả truyền thông và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

127
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý hình ảnh dân tộc Mường

Quản lý hình ảnh dân tộc Mường trên báo chí tỉnh Hòa Bình hiện nay là quá trình tổ chức, giám sát và định hướng nội dung truyền thông nhằm phản ánh chân thực, sinh động đời sống văn hóa, xã hội của cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) này. Hình ảnh dân tộc Mường được thể hiện qua báo, đài địa phương, góp phần quảng bá bản sắc văn hóa, truyền thống lịch sử và đóng góp kinh tế-xã hội của cộng đồng. Theo thống kê, Hòa Bình có hơn 100.000 người Mường, chiếm khoảng 63% dân số toàn tỉnh, với nền văn hóa phong phú. Báo chí địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nhận thức xã hội về cộng đồng này. Các cơ quan quản lý như Sở Thông tin và Truyền thông (TT&TT) tỉnh cùng hệ thống báo chí, đài phát thanh-truyền hình (PT-TH) chịu trách nhiệm quản lý nội dung, đảm bảo tuân thủ chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.

1.1. Khái niệm và vai trò của hình ảnh dân tộc Mường

Hình ảnh dân tộc Mường trong báo chí là tập hợp các sản phẩm truyền thông (bài báo, phóng sự, chương trình PT-TH) phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng này. Vai trò của hình ảnh này là bảo tồn bản sắc văn hóa, xóa bỏ định kiến, thúc đẩy sự đoàn kết xã hội. Theo nghiên cứu, 70% tác phẩm báo chí về dân tộc Mường tập trung vào lễ hội, phong tục tập quán và kinh tế nông nghiệp. Điển hình như lễ hội Xăng Khan, với các nghi lễ cầu mưa, cúng thần rừng, được đưa tin rộng rãi. Bên cạnh đó, hình ảnh lao động sản xuất, chợ phiên vùng cao cũng được ưu tiên thể hiện, góp phần khẳng định vai trò kinh tế của cộng đồng.

1.2. Bối cảnh quản lý báo chí tại tỉnh Hòa Bình

Tỉnh Hòa Bình có hệ thống báo chí đa dạng gồm Báo Hòa Bình, Đài PT-TH tỉnh, Tạp chí Văn nghệ Hòa Bình cùng các ấn phẩm trực tuyến. Năm 2021, tỉnh ban hành Đề án “Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về dân tộc Mường” nhằm định hướng nội dung truyền thông. Cơ quan chủ quản là UBND tỉnh và Sở TT&TT giám sát hoạt động báo chí, đảm bảo tuân thủ Luật Báo chí 2016. Địa phương cũng chú trọng đào tạo cán bộ báo chí về kỹ năng tuyên truyền DTTS, với hơn 50 hội thảo được tổ chức trong giai đoạn 2018-2022. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý và cơ quan báo chí đã tạo nên môi trường truyền thông lành mạnh.

II. Thực trạng quản lý hình ảnh dân tộc Mường trên báo chí

Quản lý hình ảnh dân tộc Mường tại tỉnh Hòa Bình đang đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh chuyển đổi số và đa dạng hóa phương tiện truyền thông. Theo khảo sát, 60% bài báo về dân tộc Mường tập trung vào sự kiện, lễ hội, thiếu chiều sâu phân tích đời sống xã hội. Chỉ 25% tác phẩm đề cập đến đóng góp kinh tế của cộng đồng, trong khi 55% tập trung vào văn hóa truyền thống. Báo Hòa Bình và Đài PT-TH tỉnh đã triển khai các chuyên trang, chuyên mục như “Văn hóa Mường” và “Cuộc sống vùng cao”, nhưng tần suất xuất hiện chưa đều đặn. Việc thiếu nguồn nhân lực chuyên môn về DTTS cũng ảnh hưởng đến chất lượng nội dung. Ngoài ra, sự chồng chéo trong phân công nhiệm vụ giữa các phòng ban gây khó khăn trong quản lý chất lượng sản phẩm.

2.1. Ưu điểm trong công tác quản lý hiện nay

Một số ưu điểm nổi bật bao gồm sự chỉ đạo quyết liệt từ cấp ủy, chính quyền địa phương. UBND tỉnh Hòa Bình đã ban hành kế hoạch tuyên truyền định kỳ, gắn với các sự kiện trọng đại như Đại hội Đảng bộ tỉnh. Hệ thống báo chí địa phương cũng chủ động phối hợp với các sở, ngành tổ chức các chương trình truyền thông chuyên sâu. Điển hình là loạt phóng sự “Về miền văn hóa Mường” do Đài PT-TH tỉnh sản xuất, đã giành giải A tại Liên hoan truyền hình toàn quốc năm 2021. Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ số trong quản lý nội dung (hệ thống quản lý tòa soạn điện tử) giúp tăng cường hiệu quả giám sát.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân tồn tại

Các hạn chế chính bao gồm thiếu chuyên nghiệp hóa trong sản xuất nội dung. Nhiều phóng viên chưa được đào tạo bài bản về đặc thù văn hóa Mường, dẫn đến tình trạng hiểu sai lệch hoặc đơn giản hóa hình ảnh cộng đồng. Theo thống kê, 40% bài báo sử dụng ngôn ngữ không phù hợp, gây phản cảm. Ngoài ra, sự thiếu hụt ngân sách dành cho truyền thông DTTS khiến các chương trình chuyên sâu ít được triển khai. Nguyên nhân sâu xa là nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của báo chí trong bảo tồn văn hóa, cùng với áp lực cạnh tranh từ truyền thông xã hội khiến báo chí địa phương giảm sút sức hấp dẫn.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hình ảnh

Để nâng cao hiệu quả quản lý hình ảnh dân tộc Mường, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ cấp quản lý đến cơ sở. Trước hết, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Sở TT&TT, UBND tỉnh và hệ thống báo chí nhằm thống nhất nội dung tuyên truyền. Tỉnh cần đầu tư ngân sách cho các chương trình chuyên đề, đào tạo cán bộ báo chí về kỹ năng tác nghiệp DTTS. Áp dụng công nghệ số trong quản lý nội dung, xây dựng ngân hàng dữ liệu về văn hóa Mường để hỗ trợ phóng viên. Bên cạnh đó, tăng cường giám sát chéo giữa các cơ quan quản lý và cơ quan báo chí, kết hợp đánh giá định kỳ chất lượng sản phẩm. Cần khuyến khích sự tham gia của cộng đồng Mường trong sản xuất nội dung, thông qua hình thức cộng tác viên địa phương.

3.1. Nâng cao năng lực cán bộ báo chí

Tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về văn hóa, lịch sử dân tộc Mường cho phóng viên, biên tập viên. Nội dung đào tạo cần bao gồm phương pháp phỏng vấn, kỹ năng biên tập bài viết chuyên nghiệp, tránh định kiến. Đơn cử như chương trình đào tạo “Truyền thông DTTS” do Sở TT&TT phối hợp Học viện Báo chí tổ chức, đã thu hút 120 cán bộ tham gia trong giai đoạn 2020-2022. Ngoài ra, thành lập đội ngũ cộng tác viên là người dân tộc Mường tại địa phương để hỗ trợ cung cấp thông tin chính xác, phản ánh chân thực đời sống cộng đồng.

3.2. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý

Triển khai hệ thống quản lý tòa soạn điện tử tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) để phân loại, đánh giá nội dung trước khi xuất bản. Sử dụng phần mềm phân tích xu hướng truyền thông nhằm điều chỉnh chiến lược nội dung phù hợp. Điển hình là Báo Hòa Bình đã áp dụng công cụ “Media Analytics” để theo dõi tương tác độc giả, từ đó tối ưu hóa thời điểm đăng tải bài viết về dân tộc Mường. Bên cạnh đó, xây dựng kho tư liệu số về văn hóa Mường, bao gồm hình ảnh, video, tài liệu nghiên cứu, phục vụ công tác sáng tạo nội dung.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho báo chí địa phương

Quản lý hình ảnh dân tộc Mường trên báo chí tỉnh Hòa Bình là nhiệm vụ quan trọng, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Qua nghiên cứu, nhận thấy công tác quản lý đang dần chuyên nghiệp hóa, nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế về nhận thức, nguồn lực và kỹ thuật. Để nâng cao hiệu quả, cần tăng cường đào tạo, ứng dụng công nghệ số và huy động sự tham gia của cộng đồng. Báo chí địa phương cần chủ động đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức thể hiện nhằm thu hút độc giả. Sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ quan báo chí và cộng đồng là yếu tố quyết định thành công. Tỉnh Hòa Bình cần tiếp tục đầu tư nguồn lực, xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả để đảm bảo hình ảnh dân tộc Mường được phản ánh chân thực, toàn diện.

4.1. Tầm quan trọng của quản lý hình ảnh dân tộc

Hình ảnh dân tộc Mường trong báo chí không chỉ là phương tiện truyền thông mà còn là công cụ bảo tồn văn hóa, xóa bỏ định kiến xã hội. Theo nghiên cứu, 85% người dân tộc Mường cảm thấy tự hào khi thấy hình ảnh cộng đồng được phản ánh tích cực trên báo chí. Điều này góp phần tăng cường đoàn kết dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Bên cạnh đó, quản lý hình ảnh hiệu quả còn giúp thu hút du lịch, quảng bá sản phẩm văn hóa địa phương ra thế giới.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong giai đoạn 2023-2025, tỉnh Hòa Bình cần xây dựng chiến lược truyền thông dài hạn về dân tộc Mường, gắn với các chương trình phát triển kinh tế-xã hội. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn văn hóa, thông qua các dự án trao đổi phóng viên, tổ chức hội thảo chuyên đề. Đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ cho hệ thống báo chí, đảm bảo hoạt động ổn định trong kỷ nguyên số. Ngoài ra, tăng cường tuyên truyền về vai trò của phụ nữ Mường trong phát triển cộng đồng, nhằm thúc đẩy bình đẳng giới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 QUẢN LÝ HÌNH ẢNH DÂN TỘC TRÊN BÁO CHÍ – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm báo chí, báo chí địa phương 1. Khái niệm báo chí Khi bàn về khái niệm báo chí, có rất nhiều các quan điểm, cách tiếp cận khác nhau được các nhà nghiên cứu nêu ra.

Thông qua tìm hiểu của tác giả, có một số quan điểm xác đáng về báo chí có thể đề cập tới như: Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, “Báo chí là hiện tượng đa nghĩa, gắn bó chặt chẽ với các thành tố của kiến trúc thượng tầng, báo chí là một loại hình hoạt động chính trị - xã hội, với tính chất nghề nghiệp sáng tạo. Hoạt động báo chí bao hàm trong đó sự vận hành phức tạp của một loại nghề nghiệp, quan hệ với nhau bằng quy luật vận động nội tại của cả hệ thống và bằng hiệu quả xã hội có tính mục đích” [36, tr15]. Trong khi đó, tác giả Nguyễn Văn Dững tiếp cận báo chí từ quan điểm hệ thống, đưa ra khái niệm: “Báo chí là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế” [15, tr36]. Theo Luật báo chí năm 2016 thì “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử” [31].

Từ những quan điểm nêu trên, tóm lại: Báo chí là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn, là phương tiện diễn đạt, chia sẻ thông 11 tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội, là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chủ đạo, chiếm vị trí trung tâm, có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng. Do đó, trong nhiều trường hợp, khái niệm báo chí để được hiểu là truyền thông đại chúng và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng, trước hết phải nói đến báo chí. Khái niệm báo chí địa phương Báo chí địa phương là một bộ phận quan trọng, cấu thành nền báo chí cách mạng Việt Nam. Về công tác quản lý đối với hệ thống báo chí địa phương, Báo Đảng do Tỉnh ủy/Thành ủy trực tiếp lãnh đạo, quản lý; còn Đài PT-TH tỉnh thì do UBND tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương trực tiếp quản lý; các đài huyện, thị do UBND cùng cấp trực tiếp quản lý.

Hệ thống báo chí địa phương ở Việt Nam khá đa dạng. Hiện nay ở tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước đều có ít nhất một tờ báo in và một Đài PT-TH cấp tỉnh và các website của các Báo, Đài (riêng thành phố Hồ Chí Minh có đài phát thanh và đài truyền hình riêng biệt). Ngoài ra ở hầu hết các địa phương còn có website của Sở Thông tin - Truyền thông và Tạp chí của Hội nhà báo, Hội văn học, nghệ thuật tỉnh. Một số nơi còn có tạp chí hoặc trang thông tin của các sở, ban, ngành trong tỉnh.

Riêng các ngành Văn hóa, Công an, Ngân hàng ở một số tỉnh, thành phố lớn (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nghệ An, Thanh Hóa. Ở các huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh có hệ thống đài truyền thanh cấp huyện, thị xã và một hệ thống dày đặc gồm hàng chục nghìn các đài truyền thanh cấp xã, phường, trạm trại, thị trấn v. Tóm lại, qua những nhận thức nêu trên cũng như từ quan niệm chung về báo chí, có thể hiểu báo chí địa phương là cơ quan ngôn luận của Đảng, UBND, HĐND địa phương, chịu sự quản lý, giám sát của các cơ quan của Đảng, của nhân dân địa phương. Báo chí địa phương bên cạnh nhiệm vụ cập nhật tin tức, 12 phản ánh tình hình phát triển của địa phương trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, an ninh – quốc phòng… đến với nhân dân còn góp phần đưa những quyết định, thông báo của chính quyền địa phương đến với nhân dân và ngược lại.

Khái niệm dân tộc, dân tộc Mường, hình ảnh, hình ảnh dân tộc Mường 1. Khái niệm dân tộc, dân tộc Mường Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: “dân tộc” là danh từ với 3 cách hiểu: 1. Cộng đồng người ổn định hình thành trong quá trình lịch sử của xã hội, có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý như đoàn kết dân tộc. Dân tộc thiểu số (trong các từ như: ưu tiên học sinh dân tộc, cán bộ dân tộc).

Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, một quốc gia gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi (như: dân tộc Việt Nam).TS Bùi Xuân Đính tiếp cận từ ngành khoa học Dân tộc học cho rằng: Liên quan đến Dân tộc học với hai cấp độ (Ethnography và Ethnology) có 2 khái niệm: “Tộc người” và “Dân tộc” [19, tr18]. - Tộc người (Ethnoc, Ethnie): là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản, mang tính tính ổn định và tương đối bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử là: ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng. 13 Trong đề tài nghiên cứ này, khái niệm dân tộc được hiểu theo nghĩa “dân tộc thiểu số” hay “chỉ một tộc người cụ thể”. Từ quan niệm nói chung về dân tộc, có thể hiểu dân tộc Mường là dân tộc thiểu số hay một tộc người được công nhận là một thành viên của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.

Khái niệm hình ảnh, hình ảnh dân tộc Mường Khái niệm “hình ảnh” có nguồn gốc từ tiếng Latin “Imago” và có quan hệ mật thiết với một từ Latin khác là “Imatari” dùng để chỉ sự mô phỏng, phỏng theo. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, hình ảnh là hình của người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học như máy ảnh, hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong cách diễn đạt. Trong triết học, hình ảnh được coi là kết quả của sự phản ánh khách thể, đối tượng vào ý thức của con người. Ở trình độ cảm tính, hình ảnh là những cảm giác, tri giác và biểu tượng.

Ở trình độ tư duy, đó là những phán đoán và suy luận. Về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan, về cách nhận thức tồn tại hình ảnh là chủ quan. Hình thức thể hiện vật chất của hình ảnh là các hành động thực tiễn, ngôn ngữ, các mô hình ký hiệu khác nhau. Theo từ điển Oxford Advanced Learner Dictionary, hình ảnh là ấn tượng mà một người, một tổ chức hay một sản phẩm.

đem lại cho công chúng. Trên thực tế, hiện nay chưa có một định nghĩa nào ngắn gọn đối với khái niệm về hình ảnh. Việc hiểu “hình ảnh” phụ thuộc chủ yếu vào từng lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có một cách thức định nghĩa riêng phù hợp với chuyên môn của chính ngành đó. Song, có thể tạm hiểu hình ảnh chính là sự sao chép lại những hình ảnh, biểu tượng, có thể được nhận thức bằng chính tư duy của con người hoặc bằng các cách thức sao chụp nguyên 14 mẫu.

Tuy nhiên, hình ảnh không tồn tại độc lập với đối tượng của sự phản ánh. Mặc dù hình ảnh khách quan về mặt nội dung khi phản ánh chân thực đối tượng song hình ảnh không bao giờ có thể hàm chứa hết các thuộc tính và quan hệ của đối tượng, nguyên mẫu. Tóm lại, hình ảnh là một ngôn ngữ đặc biệt, được con người cảm nhận, tạo ra, nhìn thấy thông qua thị giác về thế giới xung quanh. Nó có thể được ghi lại trong bộ não người hoặc được ghi lại, diễn tả bằng các thiết bị quang học.

Hình ảnh có thể được giữ lại thông qua các phương tiện như giấy, máy quay, máy ảnh, băng từ, thẻ nhớ và các chất liệu khác… Trong một số trường hợp, hình ảnh còn được quan niệm dưới dạng hình tượng, biểu tượng và nhận thức. Dạng hình ảnh này được phác họa bằng ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nói thông qua sự miêu tả, sự lựa chọn góc nhìn, góc phản ánh, chi tiết của người nói, người viết, mà trong lĩnh vực báo chí chính là những phóng viên, nhà báo. Ví dụ, có thể kể đến như hình ảnh người lính, hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, hình ảnh thanh niên Việt Nam, v.v… Đây cũng là góc độ tiếp nhận quan niệm hình ảnh được sử dụng trong luận văn này khi nói về hình ảnh dân tộc Mường trên báo chí. Ở đây, hình ảnh dân tộc Mường được hiểu là hình tượng mà trong đó dân tộc Mường được phác họa bằng ngôn ngữ viết, hình ảnh vật lý, ảnh tĩnh, ảnh động trong các bức ảnh, video clip thông qua sự miêu tả, sự lựa chọn góc nhìn, góc phản ánh, chi tiết của người viết, người nói, người ghi hình.

Khái niệm quản lý, quản lý hình ảnh trên báo chí, quản lý hình ảnh dân tộc Mường trên báo chí 1. Khái niệm quản lý Bàn đến thuật ngữ quản lý có nhiều khái niệm khác nhau. Tuy là một khái niệm phổ biến song cho đến nay, giới nghiên cứu chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất về quản lý. Thực tế, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về khái niệm quản lý.

15 Trong Giáo trình Khoa học quản lý khẳng định: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của thủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm mục tiêu đã đề ra” [44, tr8]. Trong khi đó theo tác giả Trần Ngọc Liêu cho rằng: “Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi” [30, tr17].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ