mở đầu xâm lược Việt Nam. Năm 1867 đơn phương tuyên bố toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ là lãnh địa của Pháp. Từ đó, Nam Kỳ hưởng quy chế thuộc địa với chính quyền thực dân. Tháng 3 năm 1945, Thống sứ Nhật Nashimura đổi Nam kỳ thành Nam Bộ.
Có thể nhìn nhận từ khởi điểm lịch sử vùng văn hóa Nam Bộ được tính từ mốc 1623 khi vua Chân Lạp cho chúa Nguyễn di dân Việt đến định cư ở Prey Koorr. Cuối TK XVII, chúa Nguyễn tiếp nhận một đoàn người Hoa đến quy thuận và cho họ khai phá và định cư ở Biên Hòa- Đồng Nai. tiếp đó mộ dân từ Quảng Bình vào chia đặt doanh, huyện, lập hộ tịch.Như vậy phải gan sau 1 Thé ky Nam Bộ mới bước đầu định hình một vùng văn hóa. Một nền văn hóa vùng miền hình thành qua thời gian một thế kỷ và khi người Việt đến vùng đất mới mang theo hành trang với vốn văn hóa đúc kết hàng ngàn năm dân tộc đã tạo nên nên tảng của hệ giá trị văn hóa Nam Bộ.
Những giá tri trải qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội trong lịch sử, dần tạo nên những giá tri của nên văn hóa Nam Bộ như hiện nay. Từ vị thế địa lý, văn hóa của Nam Bộ đã và đang giúp trở thành trung tâm của quá trình tiếp biến văn hóa, phần nào tạo cho vùng đất có những nét đặc thù riêng so với các vùng văn hóa khác. Tính mở của vùng đất làm nên tính năng động, nhạy bén, dám nghĩ dám làm của người dân Nam Bộ. Tính mở là cơ sở cho việc tiếp nhận và tiếp biến thành công nhiều giá trị văn hóa cao.
Tính cách con người được hình thành, ảnh hưởng và bị chi phối nhiều từ điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội. Hai điều kiện này tạo nên 4 hang SỐ: Một, Nam Bộ nói chung hay khu vực Tây nam Bộ nói riêng là nơi gặp gỡ của những điều kiện tự nhiên thuận lợi mà cũng có phần khắc nghiệt. Về điều kiện khí hậu ôn hòa, tài nguyên sản vật tự nhiên phong phú, đất đai màu mỡ. Hai, là nơi gặp gỡ các tuyến đường giao thông bằng đường thủy quốc tế, 21 thuận tiện cho giao thương trau đổi mua bán.
Ba, có nhiều tộc người cùng sinh sống. Bốn, là vùng đất chứa những con người mang cả hai đặc điểm âm tính và dương tính nên trong tính cách chung có những đặc điểm đặc biệt chứa cả hai yếu tổ trên. Vì đặc trưng tính trọng âm theo văn hóa lúa nước, văn hóa trọng tình được hình thành từ môi trường làng xã khép kín với những con người sống ổn định, quen biết nhau và hỗ trợ giúp nhau đã phát triển thêm một bước là văn hóa trọng nghĩa. Từ ảnh hưởng của quá trình dương hóa mà con người miền Nam mang đậm tính bộc trực.
Hệ quả của tính bộc trực là các biểu hiện như thật thà chất phác, dẫn dã, độc lập cá nhân, rach roi. Có thể nói, Nam Bộ là vùng đất rất thuận lợi về mặc địa lý, giao thương, giao lưu văn hóa các khu vực diễn biến rất sôi nồi, được thiên nhiên ưu đãi ban tặng, vừa kế thừa những nét văn hóa các thế hệ qua các giai đoạn lịch sử. Vừa là mảnh đất mới của những con người đi tìm cuộc sống mới nên sức trẻ lẫn bề dày truyền thống đã hòa quyện vào nhau tạo ra nhiều nét văn hóa đặc trưng và độc đáo, tạo nên tính cách rất đặc biệt trong mỗi con người với môi trường, cảnh sắcđặc trưng của vùng đất phương Nam. Chính vì thế, nghệ thuật mang một dấu ấn miền sông nước: Nhiều loại hình nghệ thuật được xây dựng phù hợp với đặc trưng vùng miền như các câu hò, điệu ly được ca, ngâm trên những đồng nước mênh mông trong các budi lao động.Vùng văn hóa Nam Bộ nằm trong lưu vực sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long, với khí hậu hai mùa mưa nắng, sông ngòi chang chit.
Các cư dân Việt, Chăm, Hoa đã tới khai phá và đã nhanh chóng hòa nhập với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân bản địa (Khmer, Xtiêng, Chơ ro, Mnông. Nhà ở trãi dài ven kênh, lộ, bữa ăn gắn với thủy hải sản; tính người phóng khoáng, nghĩa tình; tín ngưỡng phong phú; đi đầu trong giao lưu và hội nhập các nên văn hóa, đặc biệt là văn hóa phương Tây. Chính mối liên hệ mật thiết với Đông Nam Á và tính chất thong nhat trong su da dang do tuyét dai 22 bộ phận cư dân đều bắt nguồn cùng một gốc nhân chủng, ngon ngữ và văn hóa.trở thành cơ sở làm nên sự khu biệt cơ bản giữa văn hóa Việt Nam với Trung Hoa. (Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục) Cư dân Nam Bộ gồm đa dạng các dân tộc: Việt, Khmer, Hoa, Chăm.Họ có điểm chung là đều là dân từ nơi khác về đây lập nghiệp sinh sống, giao thương, đã cùng nhau chinh phục thiên nhiên, khai làng lập ấp, mang theo những đặc trưng văn hóa, tôn giáo và cùng nhau giao lưu, tiếp biến, hòa quyện tạo nên sự đa dạng, phong phú cho văn hóa nghệ thuật vùng đất Nam Bộ.
Người Việt đến lập nghiệp, chủ yếu là người ban cùng lưu tán hoặc một số người có tiền, người dân nghèo đi khan đắt, lính tráng, tội đồ bi day di bao vệ biên cương, khân hoang.Những người dân này đến vùng đất mới trù phú nhưng cũng day rẫy nguy hiểm phía trước. Trong hành trình đó họ luôn mang một nỗi buồn nhớ quê hương xứ sở nên mọi công việc đều có chất hoài vọng có hương. Y thức giữ gìn những phong tục, tập quán cũ, văn hóa quê hương, họ đã hội họp nhau lại và tìm mọi cách để làm sống lại những nét văn hóa, nghệ thuật xưa tại những noi di qua theo thời gian mới, không gian mới. Dòng nhạc cô đã hồi sinh, biến đổi trên mảnh đất Nam Bộ, đáp ứng nhu cầu hoàn cảnh mới rồi từng bước biến đổi, đây là yêu tố quan trọng thúc day cho sự ra đời của Đờn ca tài tử và nghệ thuật sân khấu cải lương Nam Bộ.
Sự kiện 100 năm nghệ thuật sân khấu cải lương Nam Bộ 1. Cai lương Theo chiết tự Hán Việt: cải là cải cách, cách tân, cai tiến.Lương là làm đẹp. Như vậy ý nghĩa chung của hai tiếng cải lương là cải tiến mới và làm cho đẹp hơn. Đây là một loại hình ca kịch Nam Bộ, bắt nguồn từ nhạc tài tử dân ca Nam Bộ.
Loại hình này từng được gọi là nghệ thuật tân thời, kim thời và chữ cải lương chỉ xuất hiện vào cuối thập niên 20 của TK XX, từ bảng hiệu gánh cải lương Tân Thinh của ông bầu Trương Văn Thông với hai câu liễng: 23 “Cải cách hát ca theo tiếng bộ Lương truyền tuông tích sánh văn minh.” nên nghệ thuật này đã được gọi là cải lương (Ital). Nghệ thuật sân khấu Cải lương Nam Bộ là một hình thức sân khấu kịch hát dân tộc. Hình thức này, tích hợp nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như: Văn thơ, nghệ thuật sân khấu (gồm đạo diễn, diễn viên), âm nhạc, mỹ thuật.và những yếu tố khác: âm thanh, tiếng động, ánh sáng.“Nghệ thuật sân khấu cải lương là một sự điều hợp nghệ thuật rất hài hòa mà Nam Bộ là một mảnh đất lành ươm giống cho bộ môn nghệ thuật này nảy sinh và phát triển. Day là một loại hình nghệ thuật tổng hợp khởi di từ các loại văn nghệ dân gian và cung đình gồm: Hành vân, nói lối, thơ, ca, nhạc, vũ.
Tác giả là người khai sơn phá thạch, bằng ngôn ngữ văn học xây dựng câu chuyện kịch bằng kết cau các lớp trò dé tạo xung đột, tạo hành động thông qua lời thoại của các nhân vật. Đạo diễn là nhà tô chức, sắp xếp lại hành động của các nhân vật, làm rõ ý đồ, chủ dé của tác phẩm mà tác giả đã đặt ra (là tác giả thứ 2 của tác phẩm), đạo diễn tô chức đường dây kịch bản và làm việc trực tiếp với diễn viên; với âm nhạc, hội họa và các bộ phận như âm thanh, ánh sáng .để hình thành tác phẩm. Diễn viên là người trực tiếp thể hiện hình tượng nhân vật thông qua nghệ thuật biểu diễn (thanh sắc — thục — tỉnh — khí thần) dé sang tao va thé hiện các nhân vat một cách sông động trên sân khâu. Với chức năng nay, người diễn viên được coi là trung tâm của nghệ thuật sân khâu.
Bên cạnh 3 yêu tô cơ bản nêu trên, sân khâu không thê thiêu đôi tượng khán giả. Có thê nói khán giả là yêu tố hợp thành dé làm nên tác phẩm sân khấu. 100 năm nghệ thuật sân khẩu cải lương Trong bài “Cải lương và sự chuyên dịch địa văn hóa: Cội Nam - Cành Bắc” của PGS. TS Nguyễn Thị Minh Thái: “Với cái nhìn tổng thể về văn hóa, so với các loại hình: Rối, Chéo.
Tuông đã có tuổi hàng nghìn năm thì tuổi đời của loại hình cải lương Nam Bộ còn rát trẻ, song, cái gốc văn hóa của nó trong yếu tố tiền sân khấu là đờn ca tài tử Nam Bộ vốn sâu rễ bền gốc trong âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam, đã khiến cải lương hoàn toàn là một đặc sản nghệ thuật dân gian Nam Bộ và không chỉ của vùng văn hóa Nam Bộ. Vì thế, dù sinh sau đẻ muộn, song, với tư cách một loại hình sân khấu trình diễn băng vở diễn ở thập niên thứ hai của thế kỷ XX, cải lương được khẳng định là đặc sản sân khấu dân tộc, sản sinh từ bối cảnh vùng văn hóa Nam Bộ, với lịch sử khan hoang của những người Việt từ châu thé Bắc Bộ “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” (câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ). Vi thế, xét về cội nguôn, cải lương Nam Bộ phải đặt vào lòng văn hóa bản địa Nam Bộ, trong sự thong nhất toàn cảnh với 5 vùng văn hóa trên dải đất Việt Nam. Xét về nghệ thuật trình diễn, không thé không chỉ rõ xuất xứ của cải lương Nam Bộ về loại hình, vốn bắt nguồn từ đờn ca tài tử, nghệ thuật thính phòng đặc biệt phát triển mạnh mẽ ở Đồng bằng Sông Cửu Long đầu thế kỷ XX.
Và đương nhiên, phải nhìn cải lương Nam Bộ trong quá trình vận hành thâm mỹ “sân khấu hóa” đề trở thành một nghệ thuật sân khấu chuyên nghiệp với những vở diễn kinh điển của chính mình trên con đường tiễn hóa đặc thù.” Nghệ thuật sân khấu cải lương hình thành trong bối cảnh Vùng văn hóa Nam Bộ.