Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỂ LOẠI CỦA VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ CÁC CHỨC NĂNG CỦA NÓ 1. Một số đặc điểm về chức năng của văn học trung đại Việt Nam 1. Văn học trung đại Việt Nam Văn học trung đại Việt Nam chỉ một loại hình văn học tồn tại và phát triển trong thời trung đại ở Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX). Đây là văn học của thời kì gắn với chế độ phong kiến.
Tuy nhiên chú ý thời trung đại của từng thời kì, từng khu vực, từng quốc gia có sự khác nhau. Rip tin: văn học trung đại nhiều điều chưa xác định. Tuy nhiên những cơ sở vững chắc của khái niệm này không thể phủ nhận vì tính chất loại hình. Văn học trung đại Việt Nam chịu sự chi phối sâu sắc của ý thức hệ tư tưởng, của mĩ học phong kiến, tiếp thu tinh hoa của văn học dân gian.
Điều này là tất yếu bởi vì văn học luôn vận động, theo sát, phục vụ cuộc sống. Các nhà văn trung đại trong quá trình sáng tác thường chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng “trung quân ái quốc”. Quan niệm phong kiến chính thống cho rằng: nước với vua là một. Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu…đã trực tiếp hoặc gián tiếp bày tỏ quan niệm này.
Là một người có tri thức uyên thâm, từng đỗ đầu ba kì thi, luôn cháy bỏng một khát vọng “trí quân trạch dân”, từng làm quan nhưng do hoàn cảnh đất nước ta bị thực dân Pháp xâm lược nên Nguyễn Khuyến đã cáo quan về ở ẩn. Ông từng dặn con cháu: “Trầm tư ty lạp quân ân trọng” (Suy nghĩ cho kĩ thì ơn của vua dù bé nhỏ như sợi tơ hạt tóc vẫn là nặng; ông tự nói về mình: “Quân ân vị báo đầu tiên bạch” (ơn vua chưa trả được mà đầu đã bạc). Đến cuối đời, nhà nho Yên Đổ vẫn canh cánh trong lòng tâm sự u uất, day dứt, thẹn thùng, ân hận : Ơn vua chưa chút báo đền Cúi trông thẹn đất, ngửa lên thẹn trời. 8 Nguyễn Đình Chiểu thì từng ước có một vị vua anh minh, tập hợp sức mạnh nhân dân đánh tan, quét sạch quân xâm lược: Chừng nào thánh đế ân soi thấu Một trận mưa nhuần rửa núi sông (Xúc cảnh) Khi đất nước có ngoại xâm thì văn học là một vũ khí sắc bén, vô cùng lợi hại, cổ vũ động viên tinh thần quân dân vùng lên giết giặc lập công.
Trong thi phẩm Bảo kính cảnh giới (số 5), Nguyễn Trãi viết: Văn chương chép lấy đôi câu thánh Sự nghiệp tua gìn phải đạo trung. Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược, Có nhân, có trí, có anh hùng. Văn chương phải gắn với sự nghiệp, gắn nhiệm vụ làm văn với bổn phận làm người. Văn chương phải gắn với hành động “Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược”, phải gắn với phẩm chất “Có nhân, có trí, có anh hùng”.
Muốn bảo vệ cuộc sống và khẳng định giá trị con người thì trước hết phải bảo vệ Tổ quốc, khẳng định dân tộc, bởi “nước mất thì nhà tan”. Văn chương phải chuyển tải được thông điệp thiêng liêng, cao quý đó. Lí Thường Kiệt từng dõng dạc khẳng định chủ quyền: Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời Nghe thật hào sảng nhưng không kém phần xúc động, tự hào! Và tác giả đã nêu cao quyết tâm, ý chí của cả toàn thể dân tộc, của con cháu Lạc Hồng: Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời. (Bài thơ thần- Lí Thường Kiệt) 9 Quân địch khi nghe xong phải run sợ, mất tinh thần chiến đấu.
Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn…là một trong những áng văn có tính luận chiến rất rõ, có giá trị muôn đời bởi tư tưởng nhân văn sâu sắc. Khi đất nước sạch bóng quân thù thì yêu nước là dốc toàn trí, toàn lực để xây dựng đất nước hùng cường, no ấm, mấu mực theo xã hội Nghiêu, Thuấn ở Trung Quốc. Yêu nước còn là phê phán những hủ lậu, những điều trái tai gai mắt, đi ngược lại với đạo đức, lợi ích, truyền thống dân tộc. Đó là phê phán cảnh ăn chơi sa đoạ trong phủ chúa Trịnh (trong tác phẩm Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác và nhiều tác phẩm khác), là bọn quan lại “rỗng tuếch về trí tuệ”, “hữu danh vô thực”, trong thời buổi hỗn loạn không làm được việc gì cho dân cho nước.
Nguyễn Khuyến gọi chúng là những ông “Phỗng đá”: Đêm ngày gìn giữ cho ai đó, Non nước đầy vơi có biết không? (Ông Phỗng đá- Nguyễn Khuyến) Văn học trung đại Việt Nam còn kế thừa truyền thống nhân đạo. Đó sự đồng cảm, sẻ chia trong hoạn nạn cuộc đời, thông cảm cho những số phận bất hạnh, đặc biệt là nhũng người phụ nữ phải sống trong xã hội nam quyền độc đoán, đầy rẫy những hủ tục, bất công, những định kiến hẹp hòi, phi lí. Vũ Nương trong Người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, Thuý Kiều, Đạm Tiên trong Truyện Kiều, những người vợ có chồng đi chinh chiến biền biệt trong “ Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn, những người phụ nữ sống trong u sầu, tủi nhục trong cung Tần, phủ Chúa “giết nhau bằng cái u sầu độc chưa?”, là số phận của những người vợ lẽ, những người phụ nữ không chồng mà chửa trong thơ Hồ Xuân Hương…Mỗi người có nỗi niềm tâm sự riêng, nỗi khổ riêng nhưng trong tận cùng oan trái, khổ đau, họ vẫn ngời lên vẻ đẹp nhân cách của lòng vị tha, hiếu thảo, đức hi sinh…Và qua đó, 10 các tác giả trung đại bày tỏ những khát vọng giải phóng con người khỏi áp bức đau khổ. Đó là khát vọng về tình yêu tự do như qua câu chuyện tình yêu giữa Thuý Kiều và Kim Trọng trong truyện Kiều; Phạm Kim và Quỳnh Thư trong Sơ kính tân trang của Phạm Thái.
Như chúng ta biết, sống trong xã hội phong kiến, hôn nhân xuất phát từ tình yêu tự do là điều không tưởng. Hôn nhân phải môn đăng hộ đối, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, người phụ nữ luôn bị động, phải lệ thuộc, không có quyền quyết định hạnh phúc đời người. Nguyễn Du đã gióng lên tiếng nói nhân bản, đầy ý nghĩa, phải trả lại đúng nghĩa, đích thực của những cuộc hôn nhân: sự đam mê mãnh liệt, có sự bí ẩn, đầy sáng tạo, hôn nhân phải xuất phát từ tình yêu tự do…Bên cạnh đó, Nguyễn Du qua nhân vật Từ Hải còn bày tỏ về khát vọng công lí. Đây là vấn đề muôn thuở mà xã hội nào cũng hướng tới.
Văn học trung đại Việt Nam cũng dành một phần lớn để tố cáo những thế lực hắc ám đã chà đạp con người, gieo rắc nhiều đau khổ, đẩy họ vào bước đường cùng. Thế lực này khá đông đảo từ tầng lớp vua quan như Hồ Tôn Hiến đến bọn lưu manh như tên sở Khanh, bọn đầu trâu, mặt ngựa ào ào như sôi, những tên buôn thịt bán người sống bằng nghề nhơ nhớp như Bạc Bà, Bạc Hạnh trong truyện Kiều. Chà đạp Thuý Kiều là cả một xã hội. Cũng chính chế độ nam quyền độc đoán đã giết chết người vợ hiện thục, nết na có “tư dung tốt đẹp” Vũ Thị Nương trong Người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.
Bất nhân, vô liêm sỉ như Trọng Quỳ thua bạc, gán vợ, khiến vợ tự tử gây ra bao xót xa, bức xúc cho người đọc mọi thế hệ …Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng từ bi bác ái của đạo Phật, tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo. Văn học trung đại Việt Nam đã kế thừa sự thông minh dí dỏm, sự lạc quan, luôn tin tưởng vào tương lai dù trong sự khốn khó nhất, bi đát nhất của văn học dân gian. Xã hội còn nhiều điều bất cập, chà đạp nhân phẩm con người, gây cho họ bao đau khổ. Trong thơ văn của các tác giả trung đại, đặc biệt là trong thơ Hồ Xuân 11 Hương, chúng ta vẫn thấy những nụ cười tươi rói nhưng không kém phần cay độc, sự quấy đạp, muốn bứt tung, muốn vươn mình ra khỏi ao đời mờ nhạt, để khẳng định mình, khẳng định bản ngã.
Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Viết về chiếc bánh trôi nước nhưng thực ra là tác giả đang viết về giới mình. Người phụ nữ vừa đẹp người lại đẹp nết, đáng lẽ phải được trân trọng, thương yêu hết mực nhưng sống trong xã hội phong kiến, họ bị xúc phạm thậm tệ, họ chịu “kiếp ốc nhồi”. Dù trải qua phong ba bão táp cuộc đời, họ vẫn luôn “giữ tấm lòng son”, chung thuỷ, đằm thắm trong tình cảm.
Lí Thông trong truyện thơ Thạch Sanh, gian ác thâm hiểm nên bị trừng trị đích đáng, ngược lại Chàng Thạch Sanh dũng cảm, hào hiệp, nhân hậu, cuối cùng có cuộc sống hạnh phúc được làm vua, lấy công chúa. Từ Thức trong Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên, trích Truyền kì mạn lục “cao nghĩa sẵn lòng cứu giúp sự nguy khốn cho người”, cởi tấm áo cừu gấm trắng, đưa vào tăng phòng để chuộc lỗi cho Giáng Hương vì làm cành hoa bị gãy. Chàng vốn thích cuộc sống tự do, hoà hợp với thiên nhiên, coi thường danh lợi: “ta không thể vì số lượng năm đấu gạo đỏ mà buộc mình trong áng lợi danh. Âu là một mái chèo về, nước biếc non xanh vốn chẳng phải phụ ta vậy”.
Có âm đức tất có dương báo, chàng lấy vợ tiên và sống trong tột đỉnh của giàu sang. Nhưng chàng vốn là người rất nặng lòng với quê hương nên đã từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý, thần tiên về với cuộc sống đời thường… Chắc chắn khi sáng tác, các tác giả trung đại đã chịu ảnh hưởng từ văn học dân gian, cụ thể là từ truyện cổ tích: ở hiền gặp lành, ác giả ác báo… 12 Đặc điểm thứ hai của văn học trung đại Việt Nam, đó là thời kì dài văn học được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Lúc đầu do chưa có chữ viết, lại chịu ách đô hộ, thống trị, đồng hoá rất thâm độc của bọn phong kiến phương Bắc nên cha ông chúng ta phải mượn văn tự Hán để gửi gắm tiếng lòng cũng như chuyển tải những thông điệp, những chân lí cuộc sống qua thơ văn. Nhưng với tinh thần dân tộc, với truyền thống kế thừa nhưng có chọn lọc và không ngừng sáng tạo cho phù hợp với tâm hồn, tính cách dân tộc, hiện thực Việt Nam, cha ông ta đã sáng tạo chữ Nôm trên cơ sở chữ Hán để ghi âm tiếng Việt.