Chương I: Vai trò của báo chí trong quá trình hiện đại hóa văn học hiện đại Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX. “TT Chương II: Đông Dương tạp chi trong tiễn trình hiện đại hoá văn học Việt Nam. Chương III: Những đóng góp của chủ bút Đồng Dương tap chí - Nguyễn Văn Vĩnh Phần Kết luận Và thư mục tham khảo. PHAN NOI DUNG Chuong I VAI TRO CUA BAO CHi TRONG QUA TRINH HIEN DAI HOA VAN HOC VIỆT NAM BA MƯƠI NAM DAU THE KY XX SE EEE Liên tục gần mười thế kỷ, từ thế kỷ thứ X đến nửa đầu thế kỷ XIX, sự phát triển của nền Văn học Việt Nam diễn ra tương đối bình lặng, thế nhưng bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ XIX một cơn chấn động mạnh đã làm cho nền văn học nước nhà bị lung lay tới tận gốc TẾ, sup dé, đồng thời kiến tạo nên một diện mạo văn học hoàn toàn mới khác với nền văn học cũ, và được định danh là văn học hiện đại.
Về nguyên nhân và những tác động dẫn tới quá trình kiến tạo cho nền văn học mới này được các nhà nghiên cứu văn học sử phân tích khá nhiều và kỹ trên cơ sở những tiên đê sau: Một là, sự xâm lược và tiếp theo đó là chính sách khai thác thuộc địa của Pháp đối với Việt Nam đã tác động sâu sắc tới điện mạo bên ngoài cũng như cau trúc bên trong của xã hội Việt Nam. Quá trình đô thị hóa theo hướng phương Tây hóa diễn ra nhanh chóng, xuất hiện tầng lớp công chúng mới với những nhu cầu mới, trong đó không thé thiếu nhu cầu về món ăn tinh thần như báo chí, văn học nghệ thuật. Hai là, các lực lượng yêu nước và tiến bộ ở Việt Nam ngày càng ý thức sâu sắc về sự khủng hoảng, bất lực của chế độ phong kiến và xã hội truyền thống kiểu châu Á ở nước ta, đồng thời cũng thấy rõ không thể cứu nước nếu không canh tân đất nước. Trong khi hệ thống giáo dục Hán học dần bị thu hẹp, hệ thống nhà trường Pháp Việt và luồn văn hóa, tư tưởng phương Tây ngày càng lan rộng, hình thành tầng lớp trí thức mới, trí thức Tây học.
Tầng lớp này hào hứng với tiếp nhận và truyền bá những ludng tư tưởng mới, đặc biệt là văn học phương tây, xuất hiện một lớp nhà văn mới, dần đi vào con đường chuyên nghiệp. Ba là, phải nói đên sự phô biên mạnh mẽ của chữ quôc ngữ từ nửa sau thê kỷ XIX đã chắp cánh cho nền văn học Việt Nam. “8E Bon là, trong phạm vi văn hóa văn học, thông qua các trường hoc, nhà xuât bản, các cơ quan báo chí, việc giới thiệu, dịch thuật, truyên bá khoa học, tư tưởng, văn hóa văn học của các nước phát triên, đặc biệt là của Pháp, đã có đóng góp rất lớn vào quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam. Báo chí được xem là một trong những tiền đề tác động đến quá trình hình thành và hiện đại hóa nền văn học Việt Nam.
Thực tế cũng cho thấy, trong rất nhiều các công trình biên khảo, nghiên cứu văn học sử của Dương Quảng Hàm, Bùi Đức Tịnh, Lê Trí Viễn, Trần Đình Hượu, Nguyễn Đình Chú, Lê Chí Dũng, Bằng Giang. đều không thể bỏ qua mảng báo chí quan trọng này. Song việc đề cập đến vai trò của báo chi cũng chỉ dừng lại trong những đề mục hoặc “gạch đầu dòng”. Ở luận văn này, chúng tôi muốn nhắc đến vai trò báo chí theo hướng nghiên cứu từ vĩ mô đến vi mô, từ tổng quan đến cụ thé.
Nghia là từ vai trò của báo chí nói chung, sau đó cụ thé hóa trong một tờ báo “cột mốc”, có tính chất “chuyên ngành”, cuối cùng là hoạt động của chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh, để Là) hướng độc giả hiểu sâu hơn về vai trò của báo chí trong quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc. Nhưng trước hết, chúng tôi sẽ tổng quan lại điện mạo văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX giúp người đọc năm được một cách sơ bộ về giai đoạn giao thời này. Diện mạo nền văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX Từ những năm 40 của thê kỷ XX, đã có rât nhiêu công trình, biên khảo nghiên cứu về vân đê chọn thời điêm đánh dâu cho sự xuât hiện của văn học hiện đại, đên nay vẫn chưa hoàn toàn đi đên thông nhât. Vệ vân dé lựa chon đâu là “cột môc” đánh dau cho bước ngoặt của nên văn học Việt Nam chuyên từ văn học trung đại sang văn học hiện đại, các nhóm nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiêu ý kiên lựa chọn khác nhau.
Nhóm nhà nghiên cứu cho răng “cột môc” chính là xuât hiện của những tác phâm băng chữ quôc <3 ngữ, có nhóm nhà nghiên cứu lại đồng hóa việc ra đời của văn học hiện đại với báo chí theo góc độ chuyền đổi loại hình, hay có nhóm nhà nghiên cứu thì dựa trên góc độ thê loại, sự ra đời của tác phẩm mang những yếu tố khác biệt với nền văn học trung đại (trường hợp Thầy Lazaro Phién). Các nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đăng Mạnh chọn năm 1920 hoặc những năm 20 làm “cột mốc” đánh dấu cho bước ngoặt của văn học hiện đại. Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu thì chọn năm 1930 làm “cột mốc”. Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương, Mã Giang Lân và một số nhà nghiên cứu khác xác định thời điểm cho quá trình hiện đại hóa Văn học Việt Nam là 1900 hoặc những năm đầu thé ky XX.
Còn trong nghiên cứu của mình, Nguyễn Văn Xuân quả quyết, văn học mới, văn học hiện đại bắt đầu từ 1928. Như vậy, các nhóm nhà nghiên cứu đã đưa ra lựa chọn riêng dựa trên những tiêu chí, góc độ kiến giải khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu văn học sử ít nhiều cũng đều công nhận, việc phân biệt chính xác, rạch ròi về mặt thời gian cho sự ra đời của văn học hiện dai là rất khó. Như vậy chỉ có thé nói, những mam mống của chat hiện đại, sự manh nha cho một nền văn học mới được bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ XIX, thậm chí có thé là trước đó.
Nha nghiên cứu văn học sử Phạm Thế Ngũ trong “Việt Nam văn học sử giản ước tân biên” cho rằng “Từ thời Trịnh - Nguyễn, cuối thế kỷ XVIII đã có một số người Việt công giáo dùng tiếng tiếng Việt dé sáng tác thơ văn (theo đường lối văn Nôm nho gia)”. Bắt đầu từ đầu thé kỷ XX, cùng với những luéng tư tưởng mới (từ tân thư, tân văn, tri thức có nguồn gốc phương Tây); với phong trào vận động cải cách, duy tân (Duy Tân, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục); cùng với sự ra đời của nhiều tờ báo trên cả ba miền Bắc - Trung - Nam có nội dung phong phú, văn học và các nhà hoạt động, sáng tác văn học dần phát triển và ngày càng rầm rộ, bức tranh văn học hiện đại Việt Nam theo đó cũng dễ dàng được nhận diện rõ ràng hơn và bao quát hơn “Những dấu hiệu bdo trước sự ra đời của một thứ văn học mới tuy đã a dễ H tự rệt Bốn it xuất hiện từ những năm tam mươi của thé kỷ XIX, chủ yếu bộc lộ qua những hoạt động van học của Trương Vinh Ký và những người xa gan chịu ảnh hưởng từ ông, nhưng chi tới dau thé kỷ XX, sự biến động đông bộ, cũng xét theo những tiêu chí loại hình, mới thực sự rõ nét”. Dưới đây, chúng tôi phác họa những nét chính của bức tranh văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX dựa trên những phân tích sơ bộ về sự chuyển đổi của các tiêu chí hệ hình văn học, ngôn ngữ văn học, quan niệm thâm mỹ, các dòng văn học và đội ngũ tác giả, hệ thống thể loại. Sự chuyên đôi hệ hình văn học từ trung đại sang hiện đại là bước ngoặt lịch sử sau một chặng đường dai gần mười thé kỷ, ké từ khi nền văn học viết chính thức ra đời (thế kỷ X).
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương, khi nghiên cứu về sự chuyên đôi của nền văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thé kỷ XX, đã nhắn mạnh tới sự chuyên đôi quỹ đạo và hệ hình văn học, đó là, văn học Việt Nam từ “Một nên văn hoc mang tính quốc gia — dân tộc, vận động trong quỹ đạo của vùng văn học châu A, lấy văn học Trung Quốc làm “cổ mẫu”, làm nên văn học kiến tạo vùng”, đang dần bị phân rã dé kiến tạo một hệ thống thi pháp mới theo mô hình văn học châu Âu và hòa nhập vào quỹ đạo văn học thế giới, mà chặng đường văn học ba mươi năm đầu thế kỷ XX là giai đoạn giao thời, ở đó chúng ta được “chứng kiến một tình trạng hỗn dung của ít nhất hai hệ hình văn hoc”. Không quá khó khăn dé chúng ta nhận thấy, trong giai đoạn này, tồn tại song song hai nền văn học cũ và mới với hai lực lượng sáng tác, hai ngôn ngữ khác nhau. Và cũng đồng thời nhận thấy nền văn học cũ, văn học Hán Nom dần bị thất sung, suy yếu, trong khi nền văn học mới, văn hoc quốc ngữ ngày một chiếm ưu thế, đúng như nhận xét “chi trong khoảng ba mươi năm dau thé ky XX, hàng loạt những yếu to năm trong thành phan “tiêu chí hệ hình ” của nên văn học mới cũng đã được xác lập ”. “SE Bước sang đầu thé ky XX, những quan điểm tư tưởng thẩm mỹ, quan niệm mới về văn chương và sáng tác trong văn chương đã dần được hình thành.
Mặc dù các nhà nho, khoa bảng vẫn còn nặng về “văn dĩ tải đạo”, “thi ngôn chí” như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh. nhưng ít nhiều đã bị chi phối bởi ý thực hệ tư sản và ý thức đem văn chương phục vụ mục đích chính trị, đấu tranh, tuyên truyền. Họ được xem là các tác giả “quá độ” thành một “lớp người cẦm bút” để lại dấu ấn rất rõ. Bản thân họ là “sản phẩm của giao thoa, xung đột va tiếp biến” của hai nền văn hóa, văn học Đông - Tây.
Đề có thể thực hiện tôn chỉ “khai dân trí, chan dân khí, hậu dân sinh”, bên cạnh lối tho, văn biền ngẫu truyền thông, họ bắt đầu tìm kiếm, lựa chọn những hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ dé biểu hiện, dẫn tới những lý tưởng, quan niệm cũ tưởng như đã ăn sâu vào tiềm thức đã có những biến đôi “điêu đó đã khiến cho văn học dưới tay của các nhà nho yêu nước dau thé ky trở thành một thực thể đặc biệt”.