Chương 1: SỰ VẬN ĐỘNG QUAN NIỆM VỀ VẤN ĐỀ BẢN CHẤT XÃ HỘI CỦA VĂN HỌC Hơn nửa thế kỷ qua, vấn đề bản chất xã hội của văn học trong lịch sử lý luận văn học Việt Nam nói chung, giáo trình lý luận nói riêng luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu. Không kể đến các chuyên luận, các bài báo lẻ, chỉ nhìn vào bố cục chương mục của các giáo trình lý luận văn học Việt Nam cũng có thể nhận diện sự ưu tiên, thậm chí tôn xưng bản chất xã hội trong khi trình bày những vấn đề nguyên lý chung của văn học. Những vấn đề mang tính chất xã hội chứ không phải những vấn đề mang tính thẩm mỹ nghệ thuật hay ngôn ngữ luôn được đặt ra và giải quyết trước hết. Ở góc độ tổng quát, có thể phác thảo một bộ khung vấn đề bản chất xã hội của văn học được triển khai gần như đồng bộ trong hầu hết giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay, gồm các luận điểm: nguồn gốc, đối tượng của văn học; văn học với hiện thực đời sống xã hội; văn học với các hình thái ý thức xã hội khác; tính khuynh hướng; chức năng của văn học.
Mặc dù vậy, quan niệm, cách kiến giải vấn đề bản chất xã hội trong giáo trình lý luận không phải luôn bị đóng khung một chỗ, mà có những bước vận động đáng ghi nhận trên cả hai mạch kế thừa và đổi mới. Vận động kế thừa Không có gì khởi đi bằng con số không. Sự hình thành và phát triển của giáo trình lý luận văn học Việt Nam cũng vậy, là sự kết hợp và tác động qua lại giữa nhiều yếu tố khách quan, chủ quan trong đó có sự kế thừa những luồng tư tưởng, tri thức trước nó. Phần này, từ góc nhìn lịch đại, chúng tôi chú ý những điểm tương đồng trong quan điểm và cách giải quyết vấn đề bản chất xã hội của văn học giữa các giáo trình, điều mà nhiều người cực đoan gọi là sự “rập khuôn” của hệ 16 thống giáo trình lý luận văn học Việt Nam.
Nhưng theo ý chúng tôi, đấy là một trong hai mạch vận động đồng hành trong lịch sử biên soạn giáo trình lý luận ở nước ta: vận động kế thừa. Gọi là vận động kế thừa, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự chuyển biến nhất định trong những quan điểm tưởng như ổn định. Hay nói cách khác, kế thừa ở đây không có nghĩa là lặp lại giản đơn, rập khuôn máy móc như nhiều người nhận xét, mà là sử dụng và cắt nghĩa lại vấn đề đã được nêu ra. Trước khi trình bày những vấn đề về bản chất xã hội của văn học trong mạch vận động kế thừa, chúng tôi muốn nói đến vai trò của giáo trình Sơ thảo nguyên lý văn học do Nguyễn Lương Ngọc biên soạn, năm 1961, với tư cách là cuốn giáo trình lý luận văn học đầu tiên ở nước ta.
Ngay trong lời tựa, tác giả đã thông báo với người đọc rằng đây là “cuốn sách nhỏ” chỉ đề cập đến “một số vấn đề chính yếu của văn học”, mà trọng tâm là vấn đề bản chất xã hội của loại hình nghệ thuật này. Cuốn sách tuy ngắn gọn, sơ lược nhưng đã trình bày được những vấn đề cơ bản nhất của lý luận văn học theo tinh thần mỹ học mác xít và có ảnh hưởng không nhỏ đến quan điểm của các giáo trình khác. Vì vậy, có người đã ví vai trò của nó như là “khai sơn phá thạch, xây nền đắp móng” cho việc biên soạn giáo trình lý luận văn học ở nước ta, mà những người đồng nghiệp và học trò của ông đã thực hiện trong các giai đoạn sau. Kể từ Sơ thảo nguyên lý văn học năm 1961 cho đến nay (2012), việc triển khai vấn đề bản chất xã hội của văn học trong hầu hết giáo trình lý luận ở nước ta đều lấy triết học, mỹ học mác xít làm nền tảng.
Dĩ nhiên, tùy theo biên độ cho phép của điều kiện chính trị, lịch sử xã hội và mức độ thẩm thấu tư tưởng mà có sự khác nhau nhất định trong cách diễn giải vấn đề ở mỗi giáo trình. Trên cơ sở triết học Marx –Lenin, các giáo trình thống nhất quan điểm coi lao động là nguồn gốc của văn học và văn học là một hình thái ý thức xã 17 hội thuộc kiến trúc thượng tầng. Từ đó, văn học được nhìn nhận như là một lĩnh vực ý thức có khả năng “cải tạo hiện thực xã hội”. Những vấn đề khác của văn học như đối tượng phản ánh, quan hệ giữa văn học với hiện thực, văn học các hình thái ý thức xã hội khác, tính khuynh hướng, chức năng của văn học,…đều được triển khai xoay quanh trục mỹ học xã hội học mác xít.
Riêng giáo trình Lý luận văn học (nhập môn) của tác giả Huỳnh Như Phương, xuất bản năm 2010, được viết ở góc nhìn khác – góc nhìn của nguyên lý mỹ học sự sáng tạo. Dù vậy, ông vẫn khẳng định bản chất xã hội của văn học với sự tương tác của những yếu tố thiết thân, như: nguồn gốc phát sinh, nhà văn – chủ thể sáng tạo, độc giả - chủ thể tiếp nhận, điều kiện kinh tế xã hội,… 1. Đối tượng của văn học Vấn đề văn học phản ánh cái gì luôn được các tác giả quan tâm trình bày trước hết. Nói đối tượng văn học, tức là nói đến cái mà văn học quan tâm phản ánh và chiếm lĩnh.
Trên lập trường mỹ học mác xít, giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay luôn khẳng định: con người cùng các mối quan hệ phức tạp của nó là đối tượng phản ánh chủ yếu của văn học. Tác giả Nguyễn Lương Ngọc viết trong giáo trình lý luận Sơ thảo nguyên lý văn học (1961): “Đối tượng chủ yếu của văn học là con người. Văn học miêu tả chủ yếu con người, hoàn cảnh của con người và thái độ của con người đối với hoàn cảnh… Cũng có thể có những tác giả không trực tiếp biểu hiện và miêu tả con người; song, nói chung, tác phẩm của họ vẫn nói đến con người, đến sự liên hệ và quan hệ giữa người với sinh hoạt xã hội” [51, tr. Tác giả Nguyễn Vịnh trong giáo trình Cơ sở lý luận văn học (1976), tức Nguyên lý văn học, 1965) khẳng định: “Hình ảnh con người luôn luôn là trung 18 tâm chú ý của văn học nghệ thuật… Con người được phản ánh trong văn học nghệ thuật là con người toàn vẹn, sinh động, với mọi đặc tính và quan hệ phức tạp của nó như chính trong đời sống thực” [82, tr.
Ông cũng nhấn mạnh: “Văn học là một ngành nghệ thuật, và các ngành nghệ thuật có chung một bản chất, một đối tượng” [82, tr. Năm 1980, giáo trình Cơ sở lý luận văn học (tập 1), do Nguyễn Lương Ngọc chủ biên, được xuất bản, vẫn tiếp tục đặt ra và phát triển vấn đề này đi xa hơn. Đối tượng trung tâm của văn học vẫn là con người, nhưng, tác giả Bùi Ngọc Trác nhấn mạnh, đấy là “con người xã hội” chứ không phải con người sinh lý như là đối tượng tiếp cận của các hình thái ý thức khác. Ông lập luận: “Tất cả các hình thái ý thức xã hội đều có một nguồn gốc chung là thực tại” [52, tr.
Nhưng, “do phương tiện phản ánh cuộc sống riêng biệt” nên mỗi hình thái “đều có một lĩnh vực hiện thực đặc biệt làm đối tượng ưu tiên của nó”. Trong thế giới hiện thực muôn màu muôn vẻ ấy, văn học quan tâm trước hết đến “những số phận con người, những thách thức và những mối quan hệ của con người. Những cái đó tạo thành đối tượng chủ yếu của văn học nghệ thuật” [52, tr. Nói như vậy, không có nghĩa là văn học tự hạn chế mình trong một phạm vi nhất định.
Ông nhấn mạnh: “Đối tượng của văn học không chịu sự ràng buộc về không gian và thời gian của thế giới tự nhiên và đời sống xã hội”; “văn học nhận thức và phản ánh hiện thực trong tính tổng thể, toàn vẹn, phong phú và phức tạp của nó” [52, tr. Trong đó, con người, với vị thế trung tâm, xuất hiện trong văn học với tư cách là đối tượng phản ánh cơ bản và có tính chất quyết định của sự phản ánh chứ không phải ở chỗ văn học miêu tả một cách trực tiếp cuộc sống con người” [52, tr. Còn thiên nhiên, theo ông: “Thiên nhiên được miêu tả trong văn học nghệ thuật là thiên nhiên đã được khúc xạ qua tấm lăng kính cảm thụ của nghệ sĩ giữ một vai trò không nhỏ trong việc làm phong phú thêm thế giới tinh thần, đời sống tâm hồn của con người, giúp con người phát 19 huy thêm cảm xúc thẩm mỹ, biết trân trọng và yêu quý thêm mọi vẻ đẹp trên đời” [52, tr. Cuộc sống xã hội, mà trong đó con người là trung tâm, là nguồn nuôi dưỡng của văn học nghệ thuật nói chung.
Nhưng đối tượng của văn học nghệ thuật, theo ông, “cũng không phải là cái vĩnh hằng, bất biến, mà luôn luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của thực tại xã hội” [52, tr. Luận điểm con người là đối tượng phản ánh trung tâm của văn học tiếp tục được các tác giả giáo trình lý luận văn học thời đổi mới khẳng định và phát triển lập luận. Tác giả Trần Đình Sử, trong giáo trình Lý luận văn học, năm 1986, cũng khẳng định con người là đối tượng phản ánh chủ yếu của văn nghệ. Bên cạnh đó, ông còn cho rằng trong muôn mặt vấn đề của con người thì tính cách của con người là trung tâm của đối tượng của văn nghệ.
Ông viết: “Văn nghệ phản ánh các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xã hội. Văn nghệ không miêu tả thế giới như khách thể tự nó, mà tái hiện chúng trong tương quan với lý tưởng, khát vọng, tình cảm của con người. Văn nghệ không phải ánh hiện thực dưới dạng những bản chất trừu tượng, mà tái hiện nó trong tính toàn vẹn, cảm tính sinh động. Khái niệm trung tâm của đối tượng của văn nghệ là các tính cách của con người, những con người sống, suy nghĩ, cảm xúc, hành động mang bản chất xã hội, lịch sử” [41, tr.
Phần biên soạn này được tiếp tục sử dụng trong giáo trình Văn học, nhà văn, bạn đọc, do Phương Lựu chủ biên, nhà xuất bản Đại học Sư phạm ấn hành năm 2002.