Luận Văn Thạc Sĩ Về Bản Chất và Đặc Trưng Của Văn Học Trong Giáo Trình Lý Luận Văn Học Việt Nam

Chuyên đề nghiên cứu Bản Chất và Đặc Trưng Văn Học Việt Nam Từ 1960 Đến Nay, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia hóa học

Chuyên ngành

Lý luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2012

141
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về văn học Việt Nam từ 1960 đến nay

Văn học Việt Nam từ năm 1960 đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng, phản ánh sự biến đổi của xã hội và văn hóa. Văn học Việt Nam trong giai đoạn này không chỉ là sản phẩm của nghệ thuật mà còn là một hình thái ý thức xã hội, thể hiện rõ nét qua các tác phẩm và phong cách sáng tác của nhà văn Việt Nam. Đặc trưng của văn học hiện đại là sự đa dạng về thể loại và phong cách, từ văn học dân gian đến văn học cách mạngvăn học đương đại. Những tác phẩm nổi bật trong giai đoạn này đã góp phần định hình bản sắc văn học Việt Nam, đồng thời phản ánh những vấn đề xã hội, chính trị và văn hóa của đất nước.

1.1. Bản chất văn học

Bản chất của văn học Việt Nam được xác định qua mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Văn học không chỉ đơn thuần là sự phản ánh hiện thực mà còn là sự sáng tạo nghệ thuật, thể hiện cái đẹp và tư tưởng của con người. Tác phẩm văn học trong giai đoạn này thường mang tính chất phê phán xã hội, thể hiện những khát vọng và nỗi đau của con người trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Điều này cho thấy bản chất văn học không chỉ nằm ở hình thức mà còn ở nội dung và ý nghĩa sâu xa mà nó mang lại.

1.2. Đặc trưng văn học

Đặc trưng của văn học Việt Nam từ 1960 đến nay thể hiện qua sự phong phú về thể loại và phong cách. Các thể loại như thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch đã phát triển mạnh mẽ, mỗi thể loại đều có những đặc điểm riêng biệt. Phong cách văn học cũng đa dạng, từ hiện thực phê phán đến lãng mạn, từ truyền thống đến hiện đại. Sự giao thoa giữa các phong cách này đã tạo nên một bức tranh văn học đa dạng, phản ánh sâu sắc tâm tư, tình cảm và tư tưởng của con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

II. Tác động của xã hội đến văn học

Sự phát triển của văn học Việt Nam không thể tách rời khỏi bối cảnh xã hội và lịch sử. Từ năm 1960, đất nước trải qua nhiều biến động lớn, từ chiến tranh đến hòa bình, từ bao cấp đến đổi mới. Những thay đổi này đã tác động mạnh mẽ đến tác phẩm văn họcnhà văn Việt Nam. Văn học trở thành một công cụ phản ánh hiện thực xã hội, thể hiện những khát vọng và nỗi đau của con người. Văn học và xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó văn học không chỉ phản ánh mà còn góp phần định hình tư tưởng và cảm xúc của con người.

2.1. Văn học và hiện thực

Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực là một trong những vấn đề cốt lõi trong lý luận văn học. Văn học không chỉ đơn thuần là sự phản ánh hiện thực mà còn là sự sáng tạo nghệ thuật, thể hiện cái đẹp và tư tưởng của con người. Những tác phẩm nổi bật trong giai đoạn này đã góp phần định hình bản sắc văn học Việt Nam, đồng thời phản ánh những vấn đề xã hội, chính trị và văn hóa của đất nước.

2.2. Văn học và chính trị

Văn học Việt Nam từ 1960 đến nay cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ chính trị. Các tác phẩm văn học thường mang tính chất phê phán xã hội, thể hiện những khát vọng và nỗi đau của con người trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Điều này cho thấy bản chất văn học không chỉ nằm ở hình thức mà còn ở nội dung và ý nghĩa sâu xa mà nó mang lại.

III. Xu hướng phát triển của văn học

Trong những năm gần đây, văn học Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đặc biệt là sau năm 1986. Sự đổi mới trong tư duy lý luận văn học đã mở ra nhiều hướng đi mới cho các tác phẩm văn học. Các nhà văn trẻ đã mạnh dạn thử nghiệm với nhiều thể loại và phong cách khác nhau, tạo nên một bức tranh văn học đa dạng và phong phú. Xu hướng văn học hiện đại không chỉ dừng lại ở việc phản ánh hiện thực mà còn khám phá những chiều sâu tâm lý, những vấn đề nhân sinh và triết lý sống.

3.1. Đổi mới tư duy lý luận văn học

Đổi mới tư duy lý luận văn học là một trong những yếu tố quan trọng giúp văn học Việt Nam phát triển. Các nhà nghiên cứu đã có những bước tiến mới trong việc lý giải các vấn đề lý luận, từ đó tạo ra những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Sự thay đổi này không chỉ giúp văn học bắt nhịp với xu thế thế giới mà còn làm phong phú thêm nội dung và hình thức của văn học Việt Nam.

3.2. Tác phẩm văn học nổi bật

Nhiều tác phẩm văn học nổi bật đã ra đời trong giai đoạn này, phản ánh sâu sắc tâm tư, tình cảm và tư tưởng của con người Việt Nam. Những tác phẩm này không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, góp phần định hình bản sắc văn học Việt Nam trong bối cảnh hiện đại.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: SỰ VẬN ĐỘNG QUAN NIỆM VỀ VẤN ĐỀ BẢN CHẤT XÃ HỘI CỦA VĂN HỌC Hơn nửa thế kỷ qua, vấn đề bản chất xã hội của văn học trong lịch sử lý luận văn học Việt Nam nói chung, giáo trình lý luận nói riêng luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu. Không kể đến các chuyên luận, các bài báo lẻ, chỉ nhìn vào bố cục chương mục của các giáo trình lý luận văn học Việt Nam cũng có thể nhận diện sự ưu tiên, thậm chí tôn xưng bản chất xã hội trong khi trình bày những vấn đề nguyên lý chung của văn học. Những vấn đề mang tính chất xã hội chứ không phải những vấn đề mang tính thẩm mỹ nghệ thuật hay ngôn ngữ luôn được đặt ra và giải quyết trước hết. Ở góc độ tổng quát, có thể phác thảo một bộ khung vấn đề bản chất xã hội của văn học được triển khai gần như đồng bộ trong hầu hết giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay, gồm các luận điểm: nguồn gốc, đối tượng của văn học; văn học với hiện thực đời sống xã hội; văn học với các hình thái ý thức xã hội khác; tính khuynh hướng; chức năng của văn học.

Mặc dù vậy, quan niệm, cách kiến giải vấn đề bản chất xã hội trong giáo trình lý luận không phải luôn bị đóng khung một chỗ, mà có những bước vận động đáng ghi nhận trên cả hai mạch kế thừa và đổi mới. Vận động kế thừa Không có gì khởi đi bằng con số không. Sự hình thành và phát triển của giáo trình lý luận văn học Việt Nam cũng vậy, là sự kết hợp và tác động qua lại giữa nhiều yếu tố khách quan, chủ quan trong đó có sự kế thừa những luồng tư tưởng, tri thức trước nó. Phần này, từ góc nhìn lịch đại, chúng tôi chú ý những điểm tương đồng trong quan điểm và cách giải quyết vấn đề bản chất xã hội của văn học giữa các giáo trình, điều mà nhiều người cực đoan gọi là sự “rập khuôn” của hệ 16 thống giáo trình lý luận văn học Việt Nam.

Nhưng theo ý chúng tôi, đấy là một trong hai mạch vận động đồng hành trong lịch sử biên soạn giáo trình lý luận ở nước ta: vận động kế thừa. Gọi là vận động kế thừa, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự chuyển biến nhất định trong những quan điểm tưởng như ổn định. Hay nói cách khác, kế thừa ở đây không có nghĩa là lặp lại giản đơn, rập khuôn máy móc như nhiều người nhận xét, mà là sử dụng và cắt nghĩa lại vấn đề đã được nêu ra. Trước khi trình bày những vấn đề về bản chất xã hội của văn học trong mạch vận động kế thừa, chúng tôi muốn nói đến vai trò của giáo trình Sơ thảo nguyên lý văn học do Nguyễn Lương Ngọc biên soạn, năm 1961, với tư cách là cuốn giáo trình lý luận văn học đầu tiên ở nước ta.

Ngay trong lời tựa, tác giả đã thông báo với người đọc rằng đây là “cuốn sách nhỏ” chỉ đề cập đến “một số vấn đề chính yếu của văn học”, mà trọng tâm là vấn đề bản chất xã hội của loại hình nghệ thuật này. Cuốn sách tuy ngắn gọn, sơ lược nhưng đã trình bày được những vấn đề cơ bản nhất của lý luận văn học theo tinh thần mỹ học mác xít và có ảnh hưởng không nhỏ đến quan điểm của các giáo trình khác. Vì vậy, có người đã ví vai trò của nó như là “khai sơn phá thạch, xây nền đắp móng” cho việc biên soạn giáo trình lý luận văn học ở nước ta, mà những người đồng nghiệp và học trò của ông đã thực hiện trong các giai đoạn sau. Kể từ Sơ thảo nguyên lý văn học năm 1961 cho đến nay (2012), việc triển khai vấn đề bản chất xã hội của văn học trong hầu hết giáo trình lý luận ở nước ta đều lấy triết học, mỹ học mác xít làm nền tảng.

Dĩ nhiên, tùy theo biên độ cho phép của điều kiện chính trị, lịch sử xã hội và mức độ thẩm thấu tư tưởng mà có sự khác nhau nhất định trong cách diễn giải vấn đề ở mỗi giáo trình. Trên cơ sở triết học Marx –Lenin, các giáo trình thống nhất quan điểm coi lao động là nguồn gốc của văn học và văn học là một hình thái ý thức xã 17 hội thuộc kiến trúc thượng tầng. Từ đó, văn học được nhìn nhận như là một lĩnh vực ý thức có khả năng “cải tạo hiện thực xã hội”. Những vấn đề khác của văn học như đối tượng phản ánh, quan hệ giữa văn học với hiện thực, văn học các hình thái ý thức xã hội khác, tính khuynh hướng, chức năng của văn học,…đều được triển khai xoay quanh trục mỹ học xã hội học mác xít.

Riêng giáo trình Lý luận văn học (nhập môn) của tác giả Huỳnh Như Phương, xuất bản năm 2010, được viết ở góc nhìn khác – góc nhìn của nguyên lý mỹ học sự sáng tạo. Dù vậy, ông vẫn khẳng định bản chất xã hội của văn học với sự tương tác của những yếu tố thiết thân, như: nguồn gốc phát sinh, nhà văn – chủ thể sáng tạo, độc giả - chủ thể tiếp nhận, điều kiện kinh tế xã hội,… 1. Đối tượng của văn học Vấn đề văn học phản ánh cái gì luôn được các tác giả quan tâm trình bày trước hết. Nói đối tượng văn học, tức là nói đến cái mà văn học quan tâm phản ánh và chiếm lĩnh.

Trên lập trường mỹ học mác xít, giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay luôn khẳng định: con người cùng các mối quan hệ phức tạp của nó là đối tượng phản ánh chủ yếu của văn học. Tác giả Nguyễn Lương Ngọc viết trong giáo trình lý luận Sơ thảo nguyên lý văn học (1961): “Đối tượng chủ yếu của văn học là con người. Văn học miêu tả chủ yếu con người, hoàn cảnh của con người và thái độ của con người đối với hoàn cảnh… Cũng có thể có những tác giả không trực tiếp biểu hiện và miêu tả con người; song, nói chung, tác phẩm của họ vẫn nói đến con người, đến sự liên hệ và quan hệ giữa người với sinh hoạt xã hội” [51, tr. Tác giả Nguyễn Vịnh trong giáo trình Cơ sở lý luận văn học (1976), tức Nguyên lý văn học, 1965) khẳng định: “Hình ảnh con người luôn luôn là trung 18 tâm chú ý của văn học nghệ thuật… Con người được phản ánh trong văn học nghệ thuật là con người toàn vẹn, sinh động, với mọi đặc tính và quan hệ phức tạp của nó như chính trong đời sống thực” [82, tr.

Ông cũng nhấn mạnh: “Văn học là một ngành nghệ thuật, và các ngành nghệ thuật có chung một bản chất, một đối tượng” [82, tr. Năm 1980, giáo trình Cơ sở lý luận văn học (tập 1), do Nguyễn Lương Ngọc chủ biên, được xuất bản, vẫn tiếp tục đặt ra và phát triển vấn đề này đi xa hơn. Đối tượng trung tâm của văn học vẫn là con người, nhưng, tác giả Bùi Ngọc Trác nhấn mạnh, đấy là “con người xã hội” chứ không phải con người sinh lý như là đối tượng tiếp cận của các hình thái ý thức khác. Ông lập luận: “Tất cả các hình thái ý thức xã hội đều có một nguồn gốc chung là thực tại” [52, tr.

Nhưng, “do phương tiện phản ánh cuộc sống riêng biệt” nên mỗi hình thái “đều có một lĩnh vực hiện thực đặc biệt làm đối tượng ưu tiên của nó”. Trong thế giới hiện thực muôn màu muôn vẻ ấy, văn học quan tâm trước hết đến “những số phận con người, những thách thức và những mối quan hệ của con người. Những cái đó tạo thành đối tượng chủ yếu của văn học nghệ thuật” [52, tr. Nói như vậy, không có nghĩa là văn học tự hạn chế mình trong một phạm vi nhất định.

Ông nhấn mạnh: “Đối tượng của văn học không chịu sự ràng buộc về không gian và thời gian của thế giới tự nhiên và đời sống xã hội”; “văn học nhận thức và phản ánh hiện thực trong tính tổng thể, toàn vẹn, phong phú và phức tạp của nó” [52, tr. Trong đó, con người, với vị thế trung tâm, xuất hiện trong văn học với tư cách là đối tượng phản ánh cơ bản và có tính chất quyết định của sự phản ánh chứ không phải ở chỗ văn học miêu tả một cách trực tiếp cuộc sống con người” [52, tr. Còn thiên nhiên, theo ông: “Thiên nhiên được miêu tả trong văn học nghệ thuật là thiên nhiên đã được khúc xạ qua tấm lăng kính cảm thụ của nghệ sĩ giữ một vai trò không nhỏ trong việc làm phong phú thêm thế giới tinh thần, đời sống tâm hồn của con người, giúp con người phát 19 huy thêm cảm xúc thẩm mỹ, biết trân trọng và yêu quý thêm mọi vẻ đẹp trên đời” [52, tr. Cuộc sống xã hội, mà trong đó con người là trung tâm, là nguồn nuôi dưỡng của văn học nghệ thuật nói chung.

Nhưng đối tượng của văn học nghệ thuật, theo ông, “cũng không phải là cái vĩnh hằng, bất biến, mà luôn luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của thực tại xã hội” [52, tr. Luận điểm con người là đối tượng phản ánh trung tâm của văn học tiếp tục được các tác giả giáo trình lý luận văn học thời đổi mới khẳng định và phát triển lập luận. Tác giả Trần Đình Sử, trong giáo trình Lý luận văn học, năm 1986, cũng khẳng định con người là đối tượng phản ánh chủ yếu của văn nghệ. Bên cạnh đó, ông còn cho rằng trong muôn mặt vấn đề của con người thì tính cách của con người là trung tâm của đối tượng của văn nghệ.

Ông viết: “Văn nghệ phản ánh các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xã hội. Văn nghệ không miêu tả thế giới như khách thể tự nó, mà tái hiện chúng trong tương quan với lý tưởng, khát vọng, tình cảm của con người. Văn nghệ không phải ánh hiện thực dưới dạng những bản chất trừu tượng, mà tái hiện nó trong tính toàn vẹn, cảm tính sinh động. Khái niệm trung tâm của đối tượng của văn nghệ là các tính cách của con người, những con người sống, suy nghĩ, cảm xúc, hành động mang bản chất xã hội, lịch sử” [41, tr.

Phần biên soạn này được tiếp tục sử dụng trong giáo trình Văn học, nhà văn, bạn đọc, do Phương Lựu chủ biên, nhà xuất bản Đại học Sư phạm ấn hành năm 2002.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Bản Chất và Đặc Trưng Văn Học Việt Nam Từ 1960 Đến Nay" khám phá sự phát triển và biến đổi của văn học Việt Nam từ năm 1960 cho đến hiện tại. Tác giả phân tích các đặc điểm nổi bật của văn học trong bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa, đồng thời nhấn mạnh vai trò của các tác giả và tác phẩm tiêu biểu trong việc phản ánh tâm tư, tình cảm của người dân Việt Nam. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn học đương đại mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về những giá trị văn hóa và nghệ thuật của dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn học Việt Nam, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ văn hóa dục tính và việc tiếp nhận thơ nôm truyền tụng hồ xuân hương ở miền bắc 1954 1975, nơi phân tích sự tiếp nhận và ảnh hưởng của thơ nôm trong văn hóa miền Bắc. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ tiểu thuyết lãng mạn trong văn học việt nam 1930 1945 dưới góc nhìn thể loại sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thể loại tiểu thuyết lãng mạn trong giai đoạn lịch sử quan trọng này. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ chất liệu khẩu ngữ trong văn xuôi những năm gần đây 60 22 01001 sẽ cung cấp cái nhìn về sự phát triển của ngôn ngữ trong văn học hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về văn học Việt Nam và những đặc trưng của nó qua các thời kỳ.