đặt vấn đề nghiên cứu quá trình điển phạm hóa của bộ phận văn chương này. Quá trình vận động từ khi mới manh nha cuối thế kỷ XIH cho đến lúc trở thành điển phạm ở nửa cuối thé ky XV là giai đoạn có ý nghĩa quyết định cho diện mạo và những định hướng phát triển sau này của nền văn học nhà Nho ở Việt Nam. Đây là lúc xã hội chuyền từ đa nguyên về văn hóa sang giai đoạn Nho giáo nỗi trội và áp đảo, văn học Việt Nam chuyên từ trạng thái chịu ảnh hưởng của Tam giáo sang trọng tâm là Nho giáo. Chúng tôi cho rằng nghiên cứu quá trình điển phạm hóa của văn học nhà Nho khả di có thé giải quyết những van dé mang tinh lý thuyết có ý nghĩa nền tảng trong việc tìm hiểu nền văn học trung đại.
Những hướng nghiên cứu văn học nhà Nho ở Việt Nam giai đoạn từ cuối thế ky XIII đến hết thế ky XV đã được triển khai chủ yếu tập trung ở các phương diện văn học như là sản phẩm của một hệ tư tưởng, một mô hình thiết chế xã hội, dựa trên tổng thể văn hóa mà nó đã tồn tại trong quá khứ. Việc tìm hiểu văn học nhà Nho ở giai đoạn này từ các yếu tổ nội tại của chính nền văn học hay nói cách khác là từ các yêu tố mang tính đặc trưng bản chất được khái quát trên văn bản tác pham chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Đặc biệt, việc xem xét quá trình điển phạm hóa của văn học nhà Nho thông qua lựa chọn các trường hợp tác giả và tác phẩm tiêu biéu sẽ khiến các lý giải trở nên cụ thé và sáng rõ hơn. Trần Nhân Tông là tác giả lớn nhất của thé ky XIII, là hiện tượng có sức ngưng tụ những vấn đề quan trọng của thời đại.
Là trường hợp tác giả tiêu biểu của văn học Thiền, nhưng sự ảnh hưởng và sự tích hợp tư tưởng Thiền- Nho trong vị hoàng đế- Thiền su- thi nhân này là khá rõ nét. Trước ông, các yếu tố văn học nha Nho còn hết sức mờ nhạt. Việc tìm hiểu tác phâm của Trần Nhân Tông có thể cho thấy một trong những cách thức khởi đầu của văn học nhà Nho- là nảy sinh từ trong lòng của văn học Thiền, hay nói chính xác hơn là ngày càng mở rộng, trưởng thành từ trong chính khối hỗn nhập văn chương Thién- Nho với yếu tố Thiền là căn bản. Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn Trần Nhân Tông như trường hợp dé nghiên cứu sự khởi đầu của văn học nhà Nho từ trong văn học Thiên.
Nguyễn Trãi là tác giả nôi bật nhất của văn học nhà Nho nửa dau thế ky XV. Sinh ra trong thời đại Tam giáo tịnh hành thời Vãn Trần, bản thân thâu thái được tất cả tinh hoa của Tam giáo, nhưng về phương diện nhân cách, tư tưởng, và hành động ông đã thể hiện là một nhà Nho lớn bậc nhất trong lịch sử đất nước, đã có công trong việc sử dụng Nho giáo giải quyết vấn đề dân tộc, góp phần đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đến thăng lợi. Ông cũng là người đầu tiên đã giúp nhà Lê sơ soạn lễ nhạc, định triều nghị, thiết lập một xã hội theo mô hình của các Tiên Thánh. Nhà Nho cùng thời như Nguyễn Mộng Tuân coi ông là “Nho lâm kỷ hứa chiêm Sơn Đâu” (Rừng Nho lâu nay coi ông như là Thái Sơn, Bắc Đâu).
Người đời sau như Lê Thánh Tông ngợi ca ông: “Uc Trai tâm thượng quang khuê tao” (Uc Trai trong lòng rạng vẻ văn chương). Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn Nguyễn Trãi như trường hợp của giai đoạn văn học nhà Nho đã định hình. Lê Thánh Tông chính là giai đoạn điển phạm của văn học nhà Nho, là trường hợp mà những quy phạm, những chuẩn mực của bộ phận văn học này đã được xác lập và được coi là khuôn mẫu để các nhà Nho noi theo. Lê Thánh Tông là một vi hoàng dé Nho gia nổi tiếng, là người đưa Nho giáo lên địa vị độc tôn.
Ong đã xây dựng được một triều đại thịnh trị bậc nhất trong lịch sử trung đại theo mô hình Nho giáo. Việc chỉ ra được vi tri các sáng tác văn chương cua ba tác giả này trong qua trình vận động và phát triển của văn học nhà Nho ở Việt Nam sẽ làm sáng rõ những vấn đề không chỉ của bản thân văn học nhà Nho mà cả của văn học Thiền và nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử dân tộc. Ngay đương thời, thơ ông đã trở thành điển phạm cho các triều thần họa theo. Thân Nhân Trung từng bình thơ nhà vua rằng: “Đó là tam gương tốt đẹp đã phát ra một cách tự nhiên, không cần mượn sự déo gọt mà trăm sự xảo diệu vẫn lộ rõ.
Bọn thần thường vẫn cô găng làm theo phương pháp ay, ma rut cuc van phan dường như không làm nổi một” [165, tr. Đào Cử viết lời bạt Quỳnh uyén cửu ca có đoạn: “Nghĩa ly cao xa, từ khí hùng hồn. Cái tình khích lệ chưa chan ở lời nói. Thực là lời văn dạy đời của bậc dé vuong chan chinh.
Hoang dé lại đặc biệt ban thưởng, chọn ra 28 bề tôi gần gũi cho họa van, lay tuong 28 ngôi sao trên bầu trời, va tượng 28 vị công than treo ở Vân Đài đời Han, tong cộng được 200 bài, dâng lên vua xem, rồi cho vựng tập thành sách, đặt tên là tập “Quỳnh uyén cửu ca”. So với bài Cửu công, Quyền a của nhà Ngu, nhà Chu thật như cùng một lối. Giúp cho thé nước vững bền, hoàng đồ củng cố, giữ cho được thịnh trị mãi mãi, tốt đẹp đến vô cùng, chăng phải là do từ đây mà ra sao?” [165, tr. Vũ Quỳnh cho rằng: “Van thơ thì hay hơn cả các quan văn học” [110, tr.
Hà Nhậm Đại cũng tán đồng: “Về sáng tác thơ văn thì trội hơn hăn các vị bề tôi văn chương thời đó” [110, tr. Sau này, Lê Quý Đôn nhận định về Lam Sơn lương thúy là: “tuy it dùng chữ lạ lùng hiểm hóc, nhưng khí cốt hào mai cao siêu, lời văn bay bướm sinh động, không kém gì cô nhân” [110, tr. Phan Huy Chú trong phan Văn tich chí của bộ Lịch triều hiến chương loại chí sau này trích tuyên rất nhiều thơ ông và đưa ra nhận xét: “Lời phóng khoáng, câu xinh đẹp, so với tác phẩm của các dé vương từ xưa chưa ai có thé theo kịp” [15, tr. Giai đoạn này được các nhà Nho xưa coi là mẫu mực khuôn thước về văn chương.
Phạm Đình Hồ khi nhận xét về một bản dịch đã viết rằng: “Một ngày kia bản dich này trở thành rực rỡ huy hoàng, khuôn theo được thơ thời Thiệu Binh và Quang Thuận. Bùi Huy Bích bình thơ ca các triều đại cho rằng: “Nước Việt ta từ nhà Trần đến buổi quốc sơ, thì khí thơ có chút hồn hậu, đến đời Hồng Đức thì thơ thanh tao, xinh đẹp, về sau dần dần yếu ớt, đến thời Trung Hưng thì thật thà vụng về, từ thời Vĩnh Thịnh, Thái Bảo về sau, lại trôi chảy dé nghe, gần đây lại hay chuộng khí phách” [15, tr. Đến thế kỷ XIX, một ông vua cực kỳ Nho giáo là Minh Mệnh cũng nhiều lần ngưỡng vọng về thời đại văn chương Hồng Đức. Do vậy, chúng tôi cho rằng Lê Thánh Tông là trường hợp tiêu biểu của giai đoạn văn học nhà Nho xác lập điển phạm.
Xem xét các trường hợp tác giả để khảo sát trong đó chỉ có Nguyễn Trãi là nhà Nho, Trần Nhân Tông và Lê Thánh Tông là hai vị hoàng dé, chúng tôi đã dựa trên tiêu chí của “văn học có thuộc tính nhà Nho” chứ không phải “văn học do nhà Nho sáng tác”. Đây ba tác gia quan trọng, tập trung những vấn đề lớn của văn học trung đại ở các giai đoạn cuối thế ky XIII, nửa đầu và nửa cuối thế kỷ XV, có ý nghĩa như những dấu mốc trong quá trình phát triển của văn học nhà Nho ở Việt Nam. Từ những lý do ké trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Quá trình vận động tới sự điển phạm hóa của văn học nhà Nho ở Việt Nam từ Tran Nhân Tông qua Nguyễn Trãi đến Lê Thánh Tông cho luận án của mình nhằm giải quyết một số vấn đề mang tính lý thuyết của lịch sử văn học giai đoạn này. Lịch sử vẫn đề 2.
Nếu không kê đến những quan niệm, nhận định, đánh giá và những công trình sưu tầm, ghi chép của “những người trong cuộc” từ thế kỷ XIX trở về trước thì văn học nhà Nho đã được nghiên cứu từ rất sớm. Trong Việt Nam văn học sử yếu [30] của Dương Quảng Hàm- công trình văn học sử bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của thời hiện đại (1943), sau “Văn chương bình dân”, tác giả đã bắt đầu phần văn học thành văn bằng nhiều chương viết về ảnh hưởng của văn chương Tàu, về Tứ thư, Kinh thi. rồi mới đến một chương duy nhất về sự truyền bá Phật giáo và Đạo giáo, sau đó quay trở lại các vấn đề khoa cử, học thi, nhà Nho. Có thể thấy là tác giả đã nhận diện ảnh hưởng của Nho giáo và Phật, Đạo ở Việt Nam với các mức độ khác nhau.
Tuy không chia thành các dòng với các đặc trưng riêng, nhưng Dương Quảng Hàm đã có sự phân biệt đầu tiên đối với hai dòng văn chương Thiền sư và nhà Nho: “Xét Hán học nước ta trong hai triều Lý, Trần, ta thấy lúc đầu hai phái Nho học và Phật học đều ngang nhau mà tiễn hành, rồi sau Phật giáo bị các nhà nho công kích phải thoái bộ dần mà nhường chỗ cho Nho giáo. Trong việc trứ tác, các vị thiền sư cũng chiếm một địa vị quan trọng. Còn các nhà Nho thì phần nhiều đều có công nghiệp với xã hội và có phẩm cách thanh cao; trong thơ văn thường trọng đạo lý hon là từ chương, chưa nhiễm phải cái thói chuộng hư văn vậy” [30, tr. Ở miền Nam giai đoạn 1945-1974, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ (1961) chia lịch sử văn học theo ngôn ngữ Hán, Nôm và Quốc ngữ.
Cách tư duy này tương ứng với quan niệm của luận án về các giai đoạn điển phạm hóa của văn học Việt Nam mặc dù chúng tôi cũng đồng ý với Thanh Lãng rằng đây không phải phương pháp tối ưu dé phân chia một nền văn học. Phần văn học nhà Nho từ cuối thế kỷ XIII đến hết thế kỷ XV mà luận án quan tâm sẽ phải tìm hiểu ở cả hai phần chữ Hán và chữ Nôm. Phạm Thế Ngũ đã soi chiếu văn học trung đại từ sự ảnh hưởng của Nho, Phật, Đạo.