Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Quá trình vận động tới sự điển phạm hóa của văn học nhà Nho ở Việt Nam từ Trần Nhân Tông qua Nguyễn Trãi đến Lê Thánh Tông" do nghiên cứu sinh Đỗ Thu Hiền thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2014), thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 62 22 01 21, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Kim Sơn và GS. Trần Ngọc Vương.

Văn bản luận án xác định tính cấp thiết xuất phát từ vị trí trọng yếu của văn học nhà Nho trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam. Quá trình vận động từ cuối thế kỷ XIII đến nửa cuối thế kỷ XV giữ vai trò then chốt khi xã hội chuyển đổi từ cấu trúc đa nguyên văn hóa sang giai đoạn Nho giáo giữ vị thế áp đảo, đồng thời văn học chuyển dịch từ trạng thái chịu ảnh hưởng của Tam giáo sang trọng tâm Nho giáo. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận văn học nhà Nho như một sản phẩm của hệ tư tưởng hay thiết chế xã hội từ cái nhìn văn hóa - lịch sử bên ngoài, trong khi việc khảo sát các yếu tố nội tại, bản chất nghệ thuật khái quát trực tiếp trên văn bản tác phẩm thông qua các trường hợp tác giả tiêu biểu nhằm lý giải tiến trình điển phạm hóa vẫn chưa được triển khai một cách hệ thống.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là giải quyết một số vấn đề lý thuyết nền tảng của lịch sử văn học trung đại, làm sáng rõ quy luật vận động nội tại của văn học nhà Nho từ khi manh nha trong lòng văn học Thiền đến khi xác lập thành hệ thống khuôn mẫu chuẩn mực.

Về phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình điển phạm hóa diễn ra bên trong các văn bản tác phẩm văn học mang thuộc tính nhà Nho.
  • Phạm vi thời gian và tác giả: Khảo sát ba tác giả đại diện cho ba chặng đường lịch sử từ cuối thế kỷ XIII đến hết thế kỷ XV: Trần Nhân Tông (giai đoạn khởi đầu), Nguyễn Trãi (giai đoạn định hình) và Lê Thánh Tông (giai đoạn điển phạm).
  • Giới hạn văn bản: Luận án tập trung vào mảng văn chương nghệ thuật (thơ, phú, văn xuôi nghệ thuật) và loại trừ mảng văn thư hành chính, công vụ ngoại giao. Cụ thể:
    1. Trường hợp Trần Nhân Tông: Khảo sát 37 tác phẩm gồm 35 bài/phiến đoạn thơ chữ Hán và 2 bài phú chữ Nôm (Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca) dựa trên Thơ văn Lý - Trần (tập 2) và Toàn tập Trần Nhân Tông.
    2. Trường hợp Nguyễn Trãi: Khảo sát 343 tác phẩm gồm Ức Trai thi tập (87 bài thơ chữ Hán), Quốc âm thi tập (254 bài thơ chữ Nôm), cùng Bình Ngô đại cáo, Chí Linh sơn phú, Băng Hồ di sự lục và Lam Sơn thực lục; không khảo sát Quân trung từ mệnh tập và Dư địa chí.
    3. Trường hợp Lê Thánh Tông: Khảo sát 348 tác phẩm gồm 313 bài thơ chữ Hán (nằm trong 9 tập: Anh hoa hiếu trị, Châu cơ thắng thưởng, Chinh Tây kỷ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xúy, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh, Cổ kim cung từ thi tập, Xuân vân thi tập và các bài lẻ), 34 bài thơ chữ Nôm trong Hồng Đức quốc âm thi tập, và 1 bài phú chữ Hán (Lam Sơn Lương thủy phú); loại trừ văn bản Thánh Tông di thảo và Thập giới cô hồn quốc ngữ văn do tính chất tác giả chưa chắc chắn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần lịch sử vấn đề, luận án điểm lại các giai đoạn nghiên cứu văn học nhà Nho:

  • Tiếp nhận thời trung đại: Các ghi chép, nhận định của Thân Nhân Trung, Đào Cử, Vũ Quỳnh, Hà Nhậm Đại, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Phạm Đình Hồ, Bùi Huy Bích và vua Minh Mệnh đã ghi nhận tính chuẩn mực, khuôn thước của văn chương thời Hồng Đức và vị thế của các tác gia lớn.
  • Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX: Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1943) lần đầu tiên phân biệt hai dòng tác giả thiền sư và nhà Nho trong môi trường Hán học thời Lý - Trần.
  • Giai đoạn 1945–1975 ở miền Nam: Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, 1961) phân chia tiến trình theo các thời kỳ văn hóa tư tưởng: Phật giáo toàn thịnh, Tam giáo tịnh lập đến Nho học độc tôn đời Lê, chỉ ra khuynh hướng giáo huấn của Tao Đàn Hồng Đức. Thanh Lãng (Bảng lược đồ văn học Việt Nam, 1967) nhìn nhận văn học trung đại chịu ảnh hưởng Tam giáo nhưng phân chia theo các thế hệ văn học mang tính cá tính thời đại.
  • Giai đoạn 1945–1975 ở miền Bắc: Các bộ sách như Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (Ban Văn - Sử - Địa), Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (nhóm Lê Quý Đôn) và giáo trình của Bùi Văn Nguyên (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) chịu sự chi phối của góc nhìn đấu tranh giai cấp, đối lập Nho giáo với tinh thần dân tộc, gạt bỏ hoặc đánh giá thấp mảng văn học chữ Hán. Giáo trình của Đinh Gia Khánh và Bùi Duy Tân (Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội) đã ghi nhận tính tất yếu của văn học Nho sĩ nhưng vẫn chịu một phần định kiến cũ.
  • Giai đoạn sau năm 1986: Trần Đình Hượu (Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Loại hình học tác giả nhà Nho - Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam) đặt nền móng nghiên cứu hệ thống về nhà Nho và đưa ra khái niệm tính cổ điển, điển phạm. Trần Ngọc Vương (Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung, Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX) tiếp cận loại hình học tác giả và môi trường văn hóa. Trần Nho Thìn (Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa) giải mã hiện tượng văn học từ bối cảnh văn hóa. Trần Đình Sử (Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam) tiếp cận mỹ học nội tại, phân tích thời gian và không gian nghệ thuật. Bên cạnh đó là các nghiên cứu của Phương Lựu, Lê Trí Viễn, Bùi Duy Tân, Nguyễn Phạm Hùng.
  • Các công trình chuyên sâu gần đề tài: Nguyễn Kim Sơn với hướng tiếp cận thông diễn học và tâm tính học Nho gia trong việc phân tích mỹ học thơ Nho và thơ Thiền; Đoàn Thị Thu Vân (luận án tiến sĩ năm 1995) so sánh đặc trưng nghệ thuật giữa thơ Nho và thơ Thiền thời Lý - Trần; Huỳnh Quán Chi (luận án tiến sĩ năm 2010) khảo sát diện mạo thơ Nho từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Trước luận án này, chưa có công trình nào kết nối ba tác giả Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông vào một tiến trình lịch sử liên tục để khảo sát sự vận động của loại hình văn học nhà Nho theo lý thuyết điển phạm hóa từ góc độ mỹ học nội tại của văn bản tác phẩm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên khung lý thuyết về điển phạm (canon) của phương Tây. Thuật ngữ bắt nguồn từ chữ kanna (tiếng Hy Lạp chỉ cây sậy thẳng), chuyển thành kanon mang nghĩa thước đo, quy chuẩn nghệ thuật (thể hiện qua bức tượng Doryphoros và sách Kanon của nhà điêu khắc Polykleitos thế kỷ V TCN; quan niệm về nguyên mẫu tri thức chuẩn mực của Platon). Sau khi được La Tinh hóa thành canon, khái niệm này được áp dụng cho danh mục thư tịch kinh điển và tác phẩm mẫu mực cần sao chép, giảng dạy. Ở thời kỳ hiện đại, luận án xem xét hai khuynh hướng lý thuyết:

  1. Khuynh hướng mỹ học nội tại của Harold Bloom (The Western Canon), nhìn nhận điển phạm như sự xác lập giá trị nghệ thuật thông qua ảnh hưởng và cạnh tranh mỹ học giữa các tác giả.
  2. Khuynh hướng xã hội học - thể chế của Frank Kermode và Pierre Bourdieu, khẳng định vai trò của các thiết chế xã hội, chính trị, giáo dục và quyền lực trong việc lựa chọn, duy trì và thể chế hóa điển phạm.

Luận án kết hợp cả hai bình diện trên, quan niệm điển phạm là hệ thống tác phẩm mẫu mực được định hình bởi giá trị thẩm mỹ tự thân kết hợp với sự bảo trợ của thiết chế lịch sử - văn hóa. Luận án nêu ra ba lần điển phạm hóa lớn trong lịch sử văn học Việt Nam:

  1. Lần thứ nhất: Nửa cuối thế kỷ XV với văn học chữ Hán, đánh dấu sự gia nhập khu vực văn học Đông Á.
  2. Lần thứ hai: Nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX với văn học chữ Nôm theo hướng dân tộc hóa.
  3. Lần thứ ba: Thế kỷ XX với văn học chữ Quốc ngữ theo mô hình hiện đại hóa phương Tây.

Đồng thời, luận án xây dựng hệ tiêu chí 6 điểm để xác định loại hình văn học nhà Nho:

  1. Tác giả chịu ảnh hưởng của Nho giáo trong bối cảnh Nho giáo có vai trò hoặc thống trị xã hội.
  2. Quan niệm văn chương mang chức năng xã hội: "văn dĩ tải đạo" và "thi dĩ ngôn chí" (dựa trên quan niệm của Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long và Kinh Dịch).
  3. Đề tài, chủ đề hướng vào đời sống thế tục, việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ và các vấn đề đạo lý nhân luân.
  4. Hình tượng trung tâm là mẫu người hành đạo, nhân cách lý tưởng theo khuôn mẫu Nho gia.
  5. Đặc trưng thẩm mỹ hướng vào thế giới thực tại, đề cao sự tự tu dưỡng ("thận độc") và tình cảm được chế ước bởi lý trí trong phạm vi chuẩn mực trung hòa ("phát nhi giai trúng tiết").
  6. Thi pháp thời gian nghệ thuật hướng về quá khứ (sùng cổ) và không gian nghệ thuật mang tính trần thế, ước lệ.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm: phương pháp xã hội học - lịch sử, phương pháp loại hình học, phương pháp thi pháp học, phương pháp nghiên cứu trường hợp và kỹ thuật thống kê, phân loại văn bản tác phẩm.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giai đoạn khởi đầu của văn học nhà Nho - trường hợp Trần Nhân Tông

Chương này khảo sát sự xuất hiện của các nhân tố văn học nhà Nho từ trong lòng văn học Thiền tông:

  • Bối cảnh và sự tương đồng thẩm mỹ: Trần Nhân Tông là vị hoàng đế đồng thời là Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm. Văn học thời kỳ này nằm trong khối hỗn nhập văn hóa Tam giáo với Phật giáo làm nền tảng. Quan niệm mỹ học Thiền gia (tâm không, vô ngôn, tùy duyên) bước đầu có sự gặp gỡ với Nho gia ở tinh thần hành đạo và trách nhiệm với cộng đồng.
  • Sự chuyển biến cảm hứng: Từ quan niệm "cư trần lạc đạo" mang bản chất Thiền tông Huệ Năng kết hợp yếu tố nhập thế, sáng tác của Trần Nhân Tông bắt đầu dung nạp các quan hệ đạo lý thế tục và ý thức dân tộc. Qua các thể thơ Đường luật và tuyệt cú, cảm hứng thiên cảnh thanh tịnh dần chuyển hóa sang việc thể hiện trách nhiệm trước vận mệnh quốc gia và trật tự luân lý.
  • Hình tượng nhân vật: Sự kết hợp giữa hình tượng vị Bồ tát trang nghiêm thoát tục với hình tượng đấng trượng phu trung hiếu gánh vác việc đời.
  • Thi pháp thời gian và không gian: Luận án phân tích sự chuyển dịch từ thời gian vũ trụ vĩnh hằng, vô thủy vô chung của Thiền sang thời gian lịch sử cụ thể, hướng về quá khứ qua các bài thơ viếng lăng tẩm tổ tiên (như Xuân nhật yết Chiêu lăng). Không gian vũ trụ vô biên của chốn thiền môn từng bước nhường chỗ cho không gian trần thế, cung đình và chiến trường. Thể loại thơ vịnh vật bắt đầu xuất hiện yếu tố tỷ đức mang thuộc tính Nho gia qua tác phẩm Trúc nô minh.

Chương 2: Giai đoạn định hình của văn học nhà Nho - trường hợp Nguyễn Trãi

Chương này phân tích giai đoạn văn học nhà Nho xác lập các đặc trưng cốt lõi:

  • Bước chuyển giao lịch sử: Nửa đầu thế kỷ XV đánh dấu bước chuyển từ mô hình văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần sang Nho giáo thời Lê sơ. Nguyễn Trãi tiếp thu tinh hoa Tam giáo nhưng đã chủ động lựa chọn Nho giáo làm hệ tư tưởng dẫn đường nhằm giải quyết vấn đề độc lập dân tộc và tái thiết trật tự xã hội.
  • Quan niệm văn chương và đặc trưng thẩm mỹ: Văn chương gắn liền với nguyên tắc "văn dĩ tải đạo", phụng sự mục đích nhân nghĩa, yên dân, phạt tội cứu dân (Bình Ngô đại cáo). Thẩm mỹ Nho gia định hình rõ qua việc đề cao chuẩn mực trung hiếu, luân thường.
  • Vấn đề đạo lý - thế sự: Thể hiện tập trung qua các bài thơ giáo huấn và thơ đề vịnh trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập. Đề tài vịnh vật phát triển mạnh với việc gán phẩm chất người quân tử vào thiên nhiên (tỷ đức với cây tùng, cây mai, hoa cúc, cây trúc). Mối quan hệ giữa hành đạo và ẩn dật trở thành trăn trở thường trực của chủ thể sáng tác.
  • Hình tượng trung tâm: Cái tôi trữ tình của người trí thức Nho sĩ ưu thời mẫn thế, ôm mối lo "ưu quốc ái dân" thường trực, phấn đấu giữ trọn tiết tháo của kẻ sĩ quân tử.
  • Thi pháp thời gian và không gian: Thời gian nghệ thuật hướng về quá khứ trở nên rõ nét, đi kèm với cảm thức về sự ngắn ngủi, hữu hạn của đời người trần thế. Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ đạo đức cao, dao động giữa không gian thiên nhiên thanh bạch để tu thân và không gian miếu đường gánh vác trách nhiệm quốc gia.

Chương 3: Giai đoạn điển phạm của văn học nhà Nho - trường hợp Lê Thánh Tông

Chương này làm sáng rõ thời điểm các quy phạm văn học nhà Nho đạt đến độ hoàn thiện và trở thành khuôn mẫu chính thống:

  • Bối cảnh độc tôn Nho giáo: Nửa cuối thế kỷ XV, Lê Thánh Tông đưa Nho giáo lên vị trí độc tôn tuyệt đối, hạn chế Phật giáo và Đạo giáo, thiết lập nhà nước quân chủ quan liêu quy củ. Vua đồng thời là thủ lĩnh văn đàn ("Tao Đàn nguyên súy").
  • Quan niệm văn chương trị nước: Văn học trở thành công cụ quan phương phục vụ sự nghiệp trị nước, ca ngợi chế độ, giáo hóa thần dân và củng cố thể chế. Sinh hoạt văn học mang tính cung đình, điển hình là tập thơ xướng họa Quỳnh uyển cửu ca với sự tham gia của 28 bề tôi (Nhị thập bát tú), được xem là chuẩn mực mẫu mực để triều thần học tập.
  • Sự tập trung của đề tài và thể tài: Thơ đề vịnh phát triển cực thịnh với tập Cổ tâm bách vịnh (100 bài thơ vịnh nhân vật lịch sử) cùng hàng loạt bài thơ ngự chế đề vịnh sông núi, cửa biển, danh lam. Cảm hứng ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị, khẳng định chủ quyền lãnh thổ và niềm tự hào giang sơn chế độ lấn át các cảm xúc cá nhân.
  • Hình tượng trung tâm: Hình tượng đấng minh quân sáng suốt gắn liền với mô hình bề tôi lương đống trung trinh ("quân minh thần lương").
  • Quy phạm thi pháp: Hệ thống thi luật Đường luật đạt độ gọt giũa mực thước, ngôn ngữ trang trọng, điển nhã, kết cấu chuẩn mực, hoàn tất tiến trình điển phạm hóa của dòng văn học nhà Nho chữ Hán.

Kết quả và những đóng góp mới

Dựa trên dữ liệu thực tế tại các phụ lục khảo sát của văn bản luận án, quá trình vận động được lượng hóa qua các bảng số liệu sau:

Bảng 1: Quy mô tác phẩm khảo sát qua ba trường hợp tác giả

Tác giả Thơ chữ Hán Thơ chữ Nôm Văn xuôi, Cáo, Phú Tổng số tác phẩm
Trần Nhân Tông 35 bài / đoạn phiến 0 2 bài phú Nôm 37
Nguyễn Trãi 87 bài 254 bài 1 bài cáo, 1 bài phú 343
Lê Thánh Tông 313 bài 34 bài 1 bài phú Hán 348

Bảng 2: Tần số xuất hiện các phạm trù Nho gia trong tác phẩm khảo sát (theo Phụ lục 3)

Phạm trù Nho gia Trần Nhân Tông (37 tác phẩm) Nguyễn Trãi (343 tác phẩm) Lê Thánh Tông (348 tác phẩm)
Trung (quân, thần, đạo làm tôi, ơn vua/chúa) 1 32 11
Đạo 1 20 11
Đức 1 12 18
Hiếu (thân, đạo làm con, ơn cha) 1 17 9
Nghĩa 1 10 5
Nhân 0 5 4
Văn (tư văn) 0 9 6
Thi thư / Ngũ kinh / Tứ thư 0 8 3
Nho 0 7 3
Luân / Thường 0 6 2
Mệnh 0 4 1
Trung dung 0 4 1
Lễ 0 2 1
Tu thân / Thanh tâm / Quả dục 0 1 1
Trí 0 1 0
Thành 0 0 2
Hòa 0 0 1

Những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn của công trình:

  • Về lý luận:
    1. Xác lập hệ thống 6 tiêu chí nhận diện loại hình văn học nhà Nho trung đại Việt Nam dựa trên sự kết hợp giữa thi pháp học nội tại và xã hội học văn học.
    2. Vận dụng lý thuyết điển phạm (canon) để phân kỳ ba giai đoạn vận động của văn học nhà Nho thế kỷ XIII–XV: Khởi đầu (Trần Nhân Tông) $\rightarrow$ Định hình (Nguyễn Trãi) $\rightarrow$ Điển phạm hóa (Lê Thánh Tông).
    3. Phân biệt rõ ranh giới giữa hai khái niệm: "văn học có thuộc tính nhà Nho" và "văn học do nhà Nho sáng tác", giúp mở rộng diện khảo sát sang cả các tác giả hoàng đế và thiền sư có sáng tác mang tính chất Nho giáo.
  • Về thực tiễn:
    1. Luận án thống kê, phân loại có hệ thống mảng thơ vịnh vật tỷ đức (Phụ lục 1), thơ vịnh sử (Phụ lục 2) và tần số xuất hiện của 17 phạm trù Nho gia (Phụ lục 3) qua các tác phẩm của ba tác giả.
    2. Minh chứng sự gia tăng liên tục của các thể tài Nho gia: Thơ vịnh vật tỷ đức tăng từ 1 bài ở Trần Nhân Tông lên hàng chục bài ở Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông; thơ vịnh sử tăng từ 1 bài ở Trần Nhân Tông lên 8 bài ở Nguyễn Trãi và đạt đỉnh cao với 133 bài ở Lê Thánh Tông (trong đó có tập Cổ tâm bách vịnh gồm 100 bài).
    3. Chỉ ra vai trò của thiết chế triều đình thời Hồng Đức trong việc định hình chuẩn mực thi cử, xướng họa cung đình và mô hình tổ chức Tao Đàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào ba trường hợp tác giả tiêu biểu, chưa thể bao quát toàn bộ đội ngũ trí thức Nho sĩ trong suốt ba thế kỷ (như Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn...).
  • Luận án giới hạn ở bộ phận văn học nghệ thuật, chủ động lược bỏ mảng văn kiện hành chính công vụ và ngoại giao, do đó chưa phản ánh toàn diện chức năng thực dụng của văn chương Nho gia.
  • Một số văn bản chữ Nôm giai đoạn này (nhất là thơ Nôm Lê Thánh Tông) còn tồn tại dị bản phức tạp, khiến việc khảo sát định lượng chỉ dừng ở mức độ tương đối.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng diện khảo sát sang các tác giả Nho sĩ khác trong từng giai đoạn chuyển tiếp để kiểm chứng tính phổ quát của mô hình.
  • Nghiên cứu quá trình giải điển phạm và tái điển phạm hóa của văn học Nho gia ở các giai đoạn biến động xã hội thế kỷ XVI–XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Tiến hành so sánh đối chiếu quá trình điển phạm hóa của văn học Nho gia Việt Nam với các nước trong vùng văn hóa đồng văn Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản).

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tư liệu và phương pháp luận cho các nhóm độc giả học thuật:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Có thể tham khảo phương pháp tiếp cận thi pháp học kết hợp lý thuyết điển phạm và kỹ thuật thống kê phạm trù văn bản.
  • Giảng viên đại học và các nhà nghiên cứu văn học trung đại: Khai thác hệ thống dữ liệu định lượng tại 3 phụ lục về thơ vịnh vật, thơ vịnh sử và bảng tần số phạm trù tư tưởng Nho gia.
  • Giới nghiên cứu lịch sử tư tưởng và văn hóa học: Sử dụng các phân tích về sự chuyển dịch từ ý thức hệ Tam giáo thời Trần sang thể chế Nho giáo độc tôn thời Lê sơ để làm sáng rõ sự vận động văn hóa của xã hội Đại Việt thế kỷ XIII–XV.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "văn học nhà Nho" được tác giả luận án định nghĩa như thế nào?
Tác giả luận án định nghĩa văn học nhà Nho là loại hình tác phẩm văn học được sáng tác theo khuynh hướng mỹ học Nho gia, chịu sự chi phối của tư tưởng Nho giáo, được coi là thứ văn chương lý tưởng của nhà Nho về mặt lý thuyết. Luận án phân biệt rõ hai bộ phận: "văn học có thuộc tính nhà Nho" và "văn học do nhà Nho sáng tác", qua đó cho phép khảo sát cả các sáng tác mang thuộc tính Nho giáo của những tác giả không thuần túy là nhà Nho (như vua thiền sư Trần Nhân Tông hay vua Lê Thánh Tông).

2. Ba lần điển phạm hóa lớn của văn học Việt Nam theo luận án diễn ra vào thời gian nào?
Theo luận án, lịch sử văn học Việt Nam trải qua ba lần điển phạm hóa lớn:

  • Lần thứ nhất: Nửa cuối thế kỷ XV với bộ phận văn học chữ Hán, đánh dấu sự gia nhập khu vực văn học Đông Á.
  • Lần thứ hai: Nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX với bộ phận văn học chữ Nôm theo hướng dân tộc hóa.
  • Lần thứ ba: Thế kỷ XX với bộ phận văn học chữ Quốc ngữ theo mô hình hiện đại hóa phương Tây.

3. Vì sao luận án chọn Trần Nhân Tông làm trường hợp mở đầu cho quá trình vận động của văn học nhà Nho?
Vì Trần Nhân Tông là tác giả lớn nhất của thế kỷ XIII, tích hợp tư tưởng Thiền - Nho. Mặc dù ông là thiền sư sáng lập dòng thiền Trúc Lâm, nhưng tác phẩm của ông cho thấy phương thức khởi đầu của văn học nhà Nho: nảy sinh từ trong lòng văn học Thiền, trưởng thành từ khối hỗn nhập văn chương Thiền - Nho với yếu tố Thiền làm căn bản, biểu hiện qua tinh thần nhập thế, thơ vịnh sử và thơ vịnh vật tỷ đức bước đầu.

4. Dữ liệu khảo sát tần số xuất hiện các phạm trù Nho gia cho thấy điều gì về sự vận động tư tưởng?
Dữ liệu khảo sát 17 phạm trù Nho gia cho thấy:

  • Ở Trần Nhân Tông (37 tác phẩm), các phạm trù Nho gia xuất hiện rất thưa thớt, mỗi phạm trù Đạo, Đức, Hiếu, Nghĩa, Trung chỉ xuất hiện đúng 1 lần.
  • Ở Nguyễn Trãi (343 tác phẩm), các phạm trù tăng vọt cả về số lượng và tần số, trong đó cao nhất là Trung (32 bài), Đạo (20 bài), Hiếu (17 bài), Đức (12 bài), Nghĩa (10 bài), Văn (9 bài).
  • Ở Lê Thánh Tông (348 tác phẩm), phạm trù Đức chiếm vị trí cao nhất (18 bài), tiếp đến là Đạo (11 bài), Trung (11 bài), Hiếu (9 bài), Văn (6 bài), phản ánh sự tập trung vào đức trị của đấng quân vương và trật tự kỷ cương phong kiến.

5. Những tác phẩm nào không được đưa vào phạm vi khảo sát của luận án và nguyên nhân là gì?
Luận án chủ động loại trừ các văn bản hành chính công vụ như thư từ ngoại giao của Trần Nhân Tông, các tập Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí của Nguyễn Trãi vì luận án giới hạn đối tượng ở văn chương nghệ thuật. Đối với Lê Thánh Tông, luận án loại trừ tập truyện Thánh Tông di thảo và bài văn Nôm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn do vấn đề tác quyền văn bản chưa được xác định chắc chắn.


Kết luận

Luận án của tác giả Đỗ Thu Hiền là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tiến trình vận động nội tại của văn học nhà Nho Việt Nam giai đoạn thế kỷ XIII–XV dưới góc nhìn lý thuyết điển phạm hóa. Thông qua việc phân tích ba trường hợp tác giả đại diện là Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông, luận án đã làm sáng tỏ con đường phát triển từ dạng thức khởi phát trong lòng văn học Thiền gia đến bước định hình phẩm chất thẩm mỹ và cuối cùng đạt tới chuẩn mực điển phạm cung đình thời Hồng Đức. Hệ thống tiêu chí nhận diện cùng các số liệu khảo sát văn bản thực chứng trong luận án cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho việc nghiên cứu lịch sử văn học và lịch sử tư tưởng trung đại Việt Nam.