Chương 1: TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CUU Những hình thức ghi chép có tinh chat ky đã xuất hiện từ rat sớm, gan liền với sự xuất hiện của chữ viết. Trong mười thế kỷ của văn học trung đại Việt Nam, sự hình thành và phát triển của thể ký gắn liền với những bước chuyển mình mạnh mẽ trong xã hội, văn hóa Việt Nam. Thể ký mang trong mình nhịp đập của dòng chảy xã hội đương thời, những tâm tư, nguyện vọng của các tác giả đang trực tiếp chứng kiến và ghi lấy. Điều này khiến thé ký vừa có ý nghĩa thực tiễn sinh động vừa mang giá trị nghệ thuật sâu sắc.
Do đó, tìm hiểu về thể ký là một bước đầu quan trọng trên hành trình khám phá và nam bắt tiền trình vận động của văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIH — nửa đầu thế kỷ XIX cũng như khẳng định vị thé của 7¡hượng kinh ky sự của Lê Hữu Trác trong bức tranh toàn cảnh ấy. Khái quát về thể ký trong văn học Việt Nam 1. Lý luận về thể ký Ký ra đời rất sớm trong lịch sử văn học của nhân loại. Theo các tác giả biên soạn giáo trình Li luận văn học, tập 2 thi: “Kí vốn là tên gọi của một thé văn đã xuất hiện từ trước đời nhà Hán ở bên Trung Quốc bên cạnh các thé văn công vụ, hành chính khác.
Đời Đường có nhiều tác phâm kí để ghi lại việc xen với lời bình. Kí ngày càng phát triển và được ý thức về đặc điểm thê loại” [42. Thé ky văn học có vai trò va vi tri quan trọng trong văn xuôi tự sự, là thể loại có khả năng phản ánh hiện thực đời sông một cách trực tiếp, cụ thé và sinh động. Theo công trình Ly luận văn học của Hà Minh Đức thì ký là một thé loại cơ động, “thể hiện ở chỗ ký có khả năng bám sát cuộc sống, phản ánh linh hoạt hiện thực bằng nhiều dạng thức khác nhau.
Ký sự nghiêm ngặt tái hiện những sự kiện phong phú của đời sống: hồi ký ghi lại những diễn biến của câu chuyện và nhân vật theo bước đi của thời gian qua sự hồi tưởng: bút ký, tuỳ bút thể hiện một cách linh hoạt việc phản ánh cuộc sống khách quan 13 và bộc lộ những suy tưởng chủ quan. Những sự kiện được ghi chép trong các tác phẩm ký đều là sự kiện có thật và được chứng thực, đây là nguyên tắc cơ bản dé xác định đặc điểm của ký văn hoc trong việc miêu tả con người và cuộc sống. Có ý kiến cho rằng đặc trưng của ký năm ở chỗ nó mang đậm tính chính luận, nhưng có người lại cho rằng đặc điểm của ký rõ rệt tính chủ quan. Trong khi đó, nhiều người tìm thấy đặc trưng của ký là tính tư liệu, có nghĩa là phản ánh người thật việc thật.
Việc xem xét toàn diện các đặc trưng mà nhiều người nhận định có ý nghĩa góp phần phản ánh đặc trưng của ký. Trong 750 thudt ngữ văn học có nêu: “Ký là tên gọi chung cho một nhóm thê tài nằm giao nhau giữa văn học và ngoài văn học (báo chí, ghi chép), chủ yếu là văn xuôi tự sự, gồm các thé như bút kí, hồi ki, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí. Ký nói chung khác với truyện ở chỗ tác phẩm ký không có một xung đột thống nhất, phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu thuật. Đề tài và chủ dé của tác phẩm ký có khác so với truyện” [1, tr.
Theo Từ điển tiếng Việt: “kí là thê văn tự sự viết về người thật, việc thật có tính chất thời sự, trung thành với mức cao nhất” [38, tr. Ở Năm bài giảng về thể loại (Kí và tiểu luận), Hoang Ngọc Hién cũng đã nhận xét rằng: “Trong nghiên cứu văn học Việt Nam đương dai, ký là một thuật ngữ dùng để gọi tên một thể loại văn học bao trùm nhiều “thể” hoặc “tiêu loại”: bút ký, hồi ký, du ký, ký chính luận, phóng sự, tuỳ bút, tản văn, tạp văn, tiểu phẩm.”, bên cạnh đó, đặc trưng của ký là “viết về cuộc đời thực tại, về “người thật”, về “việc thật”. Tác phẩm ký “thường được viết như là sự phản ứng trực tiếp với những biến cé thời sự trước những van đề nóng bỏng đương đặt ra trong cuộc sống” [17, tr. Theo Từ điển thuật ngữ văn học do nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) cho rằng ký là “một loại hình văn học trung gian, năm giữa báo chí và văn học gôm nhiêu thê, chủ yêu là văn 14 xuôi tự sự như bút kí, hồi ki, du kí, phóng sự, kí sự, tuỳ bút.”, ký là một thé loại văn học có đặc điểm “tôn trọng sự thật khách quan của cuộc sống và không hư cau” và “nhà viết kí luôn đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống được phản anh trong tác phẩm” [15, tr.
Theo Tran Dinh Sử thì “kí thực sự là một lĩnh vực văn học đặc thù. Đó là các tác phẩm văn xuôi, tái hiện lại các hiện thực đời sông và nhân vật như là các sự thật xã hội, không tô vẽ. Đó là hình thức văn học dé chiếm lĩnh các sự thực ngoài văn học của đời sông” (34, tr. Ở cuốn Lý luận văn học, Hà Minh Đức (chủ biên) cũng đã đưa ra ý kiến rằng: “Kí văn học là một thé loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở cái thế trực tiếp nhất, ở những nét sinh động và tươi mới nhất.
Tác pham ki vừa có khả năng đáp ứng được những yêu cầu bức thiết của thời đại, đồng thời vẫn giữ được tiếng nói vang xa sâu sắc của nghệ thuật” [12. Đồng thời, ông còn nhận định rằng: “Các thé kí văn học chủ yếu là những hình thức ghi chép linh hoạt trong văn xuôi với nhiều dạng tường thuật, miêu tả, biểu hiện, bình luận về những sự kiện va con người có thật trong cuộc sống, với nguyên tắc phải tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tính thời sự của đối tượng được miêu tả” [12, tr. Ký là một thể loại văn học mà nó bao gồm nhiều tiểu loại, thé loại. Và nếu chia theo cách truyền thống, ta có thể phân loại ký văn học thành hai nhóm dựa trên phương thức biểu đạt chính trong tác phẩm.
Nhóm đầu bao gồm các thê ký thiên về tự sự, yếu tố tự sự, đó là những tác phẩm phóng sự, ký sự, nhật ký, hồi ký, du ký. Nhóm còn lại sẽ bao gồm các thé ký thiên về trữ tình, các sự kiện, sự việc sẽ bị ảnh hưởng bởi cảm xúc của chính tác giả, đó là những tác phâm bút ký, tuỳ bút, tản văn. Đặc điểm nổi bật của ký là ghi chép các sự việc, do đó yêu cầu tính xác thực cao, đây cũng là đặc trưng quan trọng nhất và có tính nguyên tắc của ký. Trong ký, sự việc và con người được nhắc đên phải cụ thê, chính xác, 15 thậm chí có địa chỉ một cách rõ ràng.
Các tác pham ký thường gắn với một hoàn cảnh cụ thé, có thé liên quan đến chính cuộc đời của tác giả hay những điều mà tác giả đã được trông thấy trực tiếp, tận mắt chứng kiến và trải qua. Vì thế mà các tác pham ký thường mang tinh chủ quan, thé hiện quan điểm, cảm xúc trực tiếp của người viết thông qua việc tái hiện hiện thực. Chính do khả năng xây dựng hình tượng nghệ thuật băng cách lựa chọn từ những điển hình có thật trong đời sống đã khiến cho ky văn học có quan hệ với báo chí một cách tự nhiên. Đây là mối quan hệ của những thể loại đồng hành trên con đường nhận thức và phản ánh hiện thực.
Cũng giống như nhà báo, các tác giả ký văn học phải lăn xả vào cuộc sống, trực tiếp lắng nghe hơi thở của cuộc song. Tuy co đối tượng là phản ánh người thật, việc thật nhưng tác pham ký văn học không phải là báo chí. Nó không chịu áp lực của yêu cầu thông tin thời sự mà phải đáp ứng những yêu cầu khác vốn không được đặt ra đối với các tác phẩm báo chí. Đó là thái độ thâm mỹ trong việc thông tin về hiện thực.
Mặc dù không coi hư cấu nghệ thuật như một thủ pháp chính nhưng ký văn học về căn bản vẫn nhằm tới việc xây dựng được những hình tượng nghệ thuật thông qua việc lựa chọn những con người, sự việc tiêu biểu, điển hình trong đời sống và tái hiện lại một cách sinh động với ngôn ngữ văn học và các biện pháp nghệ thuật khác. Theo giáo sư Hà Minh Đức, tác phẩm ký văn học phải là nơi gặp gỡ của hai yếu t6 cơ bản là hiện thực đời sống và giá tri nghệ thuật. Điều nay cũng thé hiện ở mục dich tái hiện sự thật thông qua việc lựa chọn đối tượng. Người thật, việc thật trong ký văn học có cấp độ điển hình rất cao.
Mặc dù vẫn có thé tái tạo sự kiện nhưng mục đích chủ yếu của ký văn học vẫn nhằm phản ánh con người. Điều này không giống với mục đích của các tác phâm ký báo chí, trong đó con người không được tái tạo với tư cách như những hình tượng mà chỉ được coi như những nhân chứng trực tiép hoặc gián tiép liên quan đên sự kiện. 16 Ký không chỉ đơn thuần là kê lại những sự kiện có thật trong đời sống, diễn biến theo trình tự tuyến tính, khô khan và khuôn mẫu, ký còn thể hiện suy nghi, thái độ, tinh cảm, đánh gia của tác giả thông qua một vài sự việc tiêu biểu trong tác phẩm, có thé là khen, chê, có thé đồng tình hoặc phản đối, hay chỉ đơn thuần là bày tỏ cảm xúc. Chính những bình luận mang cảm xúc của tác giả cùng với những sự kiện có thật trong thực tế đời sống đã tạo nên sự hài hoà, kết hợp giữa hai yếu tổ tự sự và trữ tình.
Với tính chất phóng khoáng, linh hoạt, ký giúp nha văn vừa phan ánh được hiện tại, vừa quay ngược về quá khứ. Chính vì vậy, ký không chỉ là một thé loại có vai trò và vị tri riêng trong đời sống văn học, bên cạnh đó, ký còn có thể được coi là thể loại lưu giữ những sự thực về đời sống xã hội, đan cài lồng ghép những cảm xúc nghệ thuật của người viết, sẽ là kho tư liệu quý giá cho những sáng tạo nghệ thuật Sau này.