lời mở đầu tiểu thuyết Hòm đựng người, và lời tựa tác phẩm Ngọc đường Trường Thi… có bàn đến “Viết lịch sử tiểu thuyết (Roman historique) không cần theo phép của sử học, không cần có sự thật. Tác giả chỉ tưởng tượng ra một chuyện “có thể có” ở một thời đại, 12 rồi đem chuyện ấy lồng vào khung thời đại ấy. Mục đích là lấy chuyện không đâu mà làm sống lại một thời đại” [90, tr.5]; “Triệu Luật phỏng theo lối ấy mà viết cuốn lịch sử tiểu thuyết này. Phần chân sử ở trong tự cũng như có giá mà phần lông bông thêm thắt may ra cũng có giá.
Tưởng đó là lối viết lịch sử tiểu thuyết nên cho nhập cảng vào địa hạt văn chương ta nên đem ra thử lần đầu” [90, tr.302] … Nhìn chung có rất nhiều phát biểu về tiểu thuyết lịch sử song những phát biểu ấy chưa thể đạt chiều sâu lí luận cho một thể tài văn học. Đáng kể nhất trong các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trước 1986 là công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả xác định tiểu thuyết lịch sử là một khuynh hướng sáng tác. Đồng thời với việc điểm lượt những tác giả, tác phẩm tiêu biểu, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã nêu ra những nhận địch thoả đáng về tiểu thuyết lịch sử với các đặc điểm riêng của khuynh hướng sáng tác này trước 1930 và sau đó.
Theo ông, “Trong thời kỳ 1900 - 1930, tiểu thuyết lịch sử là một hình thái mới của văn học yêu nước và cách mạng. Tiểu thuyết lịch sử viết về quá khứ của dân tộc nhưng lại mang một ý nghĩa rất hiện đại… những tác phẩm này đồng thời lại là một loại tiểu thuyết lịch sử có luận đề, luận đề về cách mạng Việt Nam” [26, tr. Ưu điểm của các tác giả tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này là “họ đã phát huy vai trò của hư cấu sáng tạo, không hoàn toàn nô lệ vào tài liệu lịch sử” nhưng nhược điểm là “họ chưa có một thái độ nghiên cứu lịch sử thật nghiêm túc, đôi khi họ vi phạm tính chân thực lịch sử nghiêm trọng” [26, tr. Trên nguyên tắc sáng tác của Gôgôn, L.Tônxtôi, Quách Mạt Nhược, ông không tán thành “cái bệnh hiện đại hoá lịch sử, xem lịch sử chỉ là một cái đinh để tôi treo các bức hoạ của tôi” [26, tr.
Nhìn chung, trong bối cảnh Việt Nam tập trung nhân tài vật lực cho những cuộc trường chinh vĩ đại, kháng chiến kiến quốc và hàn gắn vết thương chiến tranh sau khi đất nước được thống nhất… đời sống văn học đã cuộn xoáy theo hiện thực ấy. Các nhà văn, các nhà nghiên cứu, phê bình, dịch thuật không thể đứng ngoài cuộc đời dân tộc mà sống cho riêng mình. Trên diện rộng và sâu, đời sống văn học chỉ xoay quanh đề tài chiến tranh nhân dân, kiến thiết đất nước, phản ánh kịp thời hiện thực xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Về mặt ý nghĩa lịch sử tư tưởng xã hội, đời 13 sống văn học thời kỳ này đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cổ vũ, “minh hoạ”, nhưng ý nghĩa văn học, lí luận và phê bình đúng với bản chất nghệ thuật vẫn còn nhiều khoảng trống cần được hoàn thiện trong tiến trình phát triển của văn học nghệ thuật dân tộc qua các chặng đường tiếp theo.
Nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 Từ sau 1986, hoạt động nghiên cứu văn học nói chung, nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử nói riêng đã có bước chuyển biến tích cực. Cánh cửa giao lưu văn hoá được rộng mở, tiếng nói dân chủ trong đời sống văn học ngày càng được chú trọng là tiền đề để phong trào dịch thuật, sáng tác và nghiên cứu phát triển. Những quan điểm có tính nguyên tắc sáng tác văn học, trong đó có thể tài tiểu thuyết lịch sử của các nhà nghiên cứu, các tác giả tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng trên thế giới như Bakhtin, Biêlinxki, Kundera, Lukács, Hella S. Haasse, Lion Feuchtwanger… được dịch thuật, giới thiệu đã góp phần tạo nên sự chuyển biến tích cực ấy.
Trên lĩnh vực nghiên cứu, phê bình, nhiều hội thảo chuyên đề về tiểu thuyết lịch sử diễn ra. Cuối năm 2012, Hội đồng lí luận - phê bình văn học, nghệ thuật trung ương tổ chức Hội thảo khoa học “Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử”, Viện Văn học và Nhà xuất bản Phụ nữ tổ chức toạ đàm về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh. Những tham luận tại toạ đàm được tập hợp thành công trình Lịch sử và văn hoá, cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh, cũng đã mở ra cách tiếp cận đa chiều về tiểu thuyết lịch sử nói chung, tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh nói riêng, trên cả phương diện nội dung lẫn phương thức tự sự, đặc biệt là những bàn luận sâu sắc về tư duy lịch sử và văn hóa trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh. Ở đó, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng, Nguyễn Xuân Khánh là người có tư tưởng riêng chứ không minh họa cho tư tưởng nào khác.
Ông viết lịch sử là để viết về con người, về những giá trị nhân văn trong đời sống… Cũng như “Sông Đông êm đềm của Sôlôkhốp - miêu tả cái dữ dội của hiện thực từ một giai đoạn lịch sử để cuối cùng cũng chỉ hướng tới khao khát nhân văn của nhân loại. Tác giả Nguyễn Đăng Điệp cho rằng, “Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh là một diễn ngôn về lịch sử và văn hóa… Diễn ngôn nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh chính 14 là những suy tư của ông về lịch sử và văn hóa, trong đó, văn hóa là lõi cốt của lịch sử, là chiều sâu quy định sự hằng tồn của quốc gia, dân tộc” [27, tr. Vào năm 2019, Tạp chí Văn nghệ quân đội và Đại học Hồng Đức cũng tổ chức hội thảo khoa học về nghiên cứu và giảng dạy tiểu thuyết lịch sử. Hội thảo đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm về thể loại có phần “nhạy cảm” này.
Bên cạnh những toạ đàm còn có những bài viết, phê bình sâu sắc của các nhà nghiên cứu, những phát biểu, trao đổi giàu chất lí luận của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao… về thể tài văn học này. Trong bài viết “Cần đổi mới suy nghĩ về lịch sử và tiểu thuyết lịch sử”, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử kêu gọi phải thay đổi nhận thức và đổi mới tư duy tự sự lịch sử, mạnh dạn thể nghiệm lối viết hiện đại/hậu hiện đại. Nguyễn Văn Dân trong bài “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại - phác họa một số xu hướng chủ yếu” đã căn cứ vào mục đích và quan niệm nghệ thuật của nhà văn để phân chia thành ba khuynh hướng: Tiểu thuyết lịch sử chương hồi khách quan; Tiểu thuyết lịch sử giáo huấn; Tiểu thuyết lịch sử luận giải. Bên cạnh những công trình trên, còn có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử giai đoạn trước và sau 1986.
Có những luận án liên quan đến vấn đề nghiên cứu của tôi như luận án Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 - Diện mạo và đặc điểm của Bùi Văn Lợi, chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945 của Nguyễn Thị Tuyết Minh, luận án Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 dưới góc nhìn tự sự học của Nguyễn Văn Hùng… Luận án tiến sĩ của Bùi Văn Lợi bàn diện mạo và đặc điểm của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945. Với công trình này, tác giả Bùi Văn Lợi đã sử dụng phương pháp văn học sử và phương pháp so sánh để làm sáng tỏ những điều kiện lịch sử, xã hội - văn hóa với tư cách là động lực thúc đẩy sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945. Luận án đã nêu ra và phân tích một số khái niệm như: Tiểu thuyết lịch sử là gì? Sự khác biệt giữa tiểu thuyết lịch sử với các chủng loại tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết hiện thực, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết kiếm hiệp. Tiếp theo đó, tác giả nêu ra sự khác nhau giữa cuốn tiểu thuyết lịch sử với một công trình khoa học lịch sử, giữa 15 một bên là hư cấu, dã sử với một bên là chính sử.
Theo tác giả, đặc điểm nội dung tiểu thuyết lịch sử thể hiện ở cảm hứng sáng tạo và quan niệm nghệ thuật về con người. Trong đó, cảm hứng lịch sử và dân tộc, cảm hứng thế sự, cảm hứng đạo lý là những cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này. Hình tượng con người anh hùng cứu nước là hình tượng trung tâm. Song, có sự phát hiện độc đáo và chân thực hơn là nét đời thường ở con người anh hùng phi thường.
Đặc điểm kết cấu tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này chính là theo phong cách kết cấu truyền thống: Kết cấu theo thời gian tuyến tính và kết cấu theo tuyến nhân vật chính diện/phản diện. Luận án đã thâu tóm được đặc điểm và diện mạo của tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này nhưng vấn đề biểu tượng chưa được đề cập. Chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945 của Nguyễn Thị Tuyết Minh (do Nxb CAND ấn bản năm 2012) là bước “chạy tiếp sức” rất ý nghĩa, tiếp nối công trình của Bùi Văn Lợi. Đối tượng tiểu thuyết lịch sử được khảo sát nối dài từ 1945 đến nay đã không cho phép tác giả đi sâu nghiên cứu muôn mặt của đời sống tiểu thuyết lịch sử.
Chuyên luận đã tiến đến phân kỳ tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay thành hai giai đoạn: giai đoạn 1: từ 1945 đến 1985, giai đoạn 2: từ 1986 đến nay. Trên cơ sở phân kỳ tiểu thuyết lịch sử, tác giả nêu ra các đặc điểm về nội dung và phương thức nghệ thuật ở mỗi giai đoạn. Ở giai đoạn đầu, nội dung chủ yếu là yêu nước, nghệ thuật tự sự theo lối kết cấu chương hồi, kết cấu thời gian, kết cấu nhân quả, ngôn từ nghệ thuật đậm chất biền ngẫu, nhiều điển tích, điển cố. Ở giai đoạn tiếp theo, nội dung thế sự được nhà văn quan tâm khai thác nhiều hơn và trở thành cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết lịch sử.
Nghệ thuật tự sự có những đổi mới đáng kể qua kết cấu, điểm nhìn, giọng điệu và mang âm hưởng tiểu thuyết phương Tây, gắn với tâm thức văn hóa, tâm thế sáng tạo ở thời kỳ hội nhập.