Chương 1: Thơ khuynh hướng điền viên – sơn thủy Việt Nam: Một số vấn đề về thuật ngữ Chương 2: Ảnh hưởng của các hệ thống triết học và tôn giáo tới cảm quan thẩm mỹ của thơ khuynh hướng điền viên – sơn thủy Việt Nam thế kỷ XV - XVI Chương 3: Một số đặc trưng thẩm mỹ nổi bật của thơ khuynh hướng điền viên – sơn thủy thế kỷ XV – XVI 13 z CHƢƠNG 1: THƠ KHUYNH HƢỚNG ĐIỀN VIÊN - SƠN THỦY VIỆT NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THUẬT NGỮ VÀ TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN 1.1 Thơ điền viên và Thơ sơn thủy: Một số vấn đề về thuật ngữ Trong lịch sử nghiên cứu về thơ điền viên và thơ sơn thủy Việt Nam cũng như Trung Quốc, đa phần các nhà nghiên cứu vẫn chưa có được sự thống nhất trong việc phân biệt hai tiểu loại thơ này. Hầu hết các nhà nghiên cứu vẫn đồng nhất hai khái niệm bằng việc duy trì cách nói “Thơ sơn thủy điền viên”, “Thơ tự nhiên”, hoặc sử dụng “Thơ sơn thủy” và “Thơ điền viên” luân phiên như hai khái niệm cùng nghĩa để nói về một dòng thơ lấy việc ngâm vịnh cảnh vật tự nhiên làm chủ đạo. Cách gọi theo hướng đồng nhất khái niệm này xuất hiện từ những công trình nghiên cứu mang tính tổng quát đến các công trình chuyên sâu ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Tại Trung Quốc, trong một số công trình mang tính tổng hợp và khái quát chung về nền văn hóa và văn học truyền thống Trung Hoa, các tác giả hầu như không chú ý phân định tên gọi hai dòng thơ này.
Các tác giả có thể gộp cả hai để gọi chung là thi phái sơn thủy điền viên, có thể gọi là “thơ điền viên” hoặc “thơ sơn thủy”. Chính vì sự không rõ ràng trong cách khu biệt khái niệm nên các tác giả sáng tác dòng thơ này cũng được gọi lẫn lộn là điền viên thi nhân, sơn thủy thi nhân, tự nhiên thi nhân hoặc sơn thủy điền viên thi nhân. Cũng giống như quan niệm của một số tác giả Trung Quốc, các nhà nghiên cứu Việt Nam đa số đều xếp sơn thuỷ và điền viên vào chung một nhóm. Họ không đặt nặng vấn đề khu biệt khái niệm cũng như không có sự thống nhất trong cách gọi tên.
Đa số tác giả đều sử dụng cách nói “Thơ sơn thủy điền viên” để gọi chung một nhóm thơ lấy tự nhiên làm đối tượng thẩm mỹ chính như trong một số công trình sau: Giáo trình lịch sử văn học Trung Quốc của các tác giả Trương Chính, Trần Xuân Đề, Nguyễn Khắc Phi; Đại cương văn hoá 14 z phương Đông của Lương Duy Thứ; Giới thiệu văn hóa phương Đông do Mai Ngọc Chừ chủ biên. Nói đến nguyên nhân của sự nhập nhằng về khái niệm cũng như sự không thống nhất trong cách gọi tên, có lẽ phải xét đến mối quan hệ tương cận giữa thơ điền viên và thơ sơn thủy. Mặc dù, về hình thức, hai tiểu loại thơ vẫn được khu biệt bằng hai cách gọi khác nhau nhưng xét về bản chất đây là hai tiểu loại luôn có sự giao thoa và đan xen trên tất cả các phương diện. Đôi khi, trong thơ điền viên có thể ngầm chứa tình thú sơn thủy và ngược lại.
Nếu xét đến cùng, không khó để nhận ra rằng, cho dù là sơn thủy hay điền viên thì cái đích cuối cùng mà cả hai dòng thơ đều hướng đến chính là cái thanh đạm, nhàn nhã, vô ưu, cái thung dung, tự đắc của chủ thể nơi điền viên thôn dã hoặc chốn thâm sơn cùng cốc. Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã có khuynh hướng phân biệt sự khác nhau của thơ điền viên và thơ sơn thủy như tác giả Lê Nguyễn Lưu trong Đường thi tuyển dịch, Trần Trung Hỷ trong Thơ sơn thủy cổ trung đại Trung Quốc. Trần Trung Hỷ đã khu biệt hai khái niệm này khi ông cho rằng thơ điền viên là “loại thơ lấy cảnh nông thôn, loại cảnh quan nhân vi (tức cảnh vật do bàn tay con người tái tạo sắp xếp) làm đối tượng thẩm mỹ chính, về tâm lí tỏ ra an nhiên, tự tại, ổn định”12, trong khi đó thơ sơn thủy là “một thể tài độc lập của thơ ca, lấy thiên nhiên làm đối tượng thẩm mỹ chủ yếu, thông qua cách miêu tả cảnh vật để miêu tả tâm tình”. Điều đó cho thấy, trong quan niệm của Trần Trung Hỷ, ông đã có sự phân biệt sự khác nhau giữa thơ điền viên và thơ sơn thủy dựa trên góc nhìn từ đối tượng thẩm mỹ.
Trong đó, ông cho rằng thơ sơn thủy hướng đến tự nhiên cảnh và thơ điền viên lại hướng đến nhân vi cảnh. Ông nêu ra ví dụ trong sách Sơn thủy thi ca giám thưởng từ điển để phân tích tương đối sâu về khái niệm sơn thủy thi trên cả ba phương diện (đối tượng thẩm mỹ, mối quan hệ giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ, và vấn đề thể tài): “Gọi là thơ sơn 12 Trần Trung Hỷ (2007), Thơ Sơn Thủy cổ trung đại Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 11 15 z thủy, tức là loại thơ lấy cảnh sơn thủy tự nhiên làm đề tài. Nó viết về núi sông, về trời đất bao la, không chỉ đơn thuần miêu tả một cành hoa, một phiến đá, một cánh chim…, tức chỉ là cảnh tự nhiên một cách khách quan mà là cảnh tự nhiên đã được thi nhân chủ quan hóa”13.
Bên cạnh Trần Trung Hỷ, còn có Lê Nguyễn Lưu cũng là một tác giả có ý thức khu biệt hai tiểu loại thơ này. Trong lời giới thiệu công trình Đường thi tuyển dịch, Lê Nguyễn Lưu đặc biệt lưu tâm đến việc phân loại sự khác biệt giữa sơn thuỷ với điền viên dựa theo những tiêu chí nhất định. Theo tác giả, thơ điền viên hướng đến việc miêu tả “sinh hoạt nông thôn hay cảnh ngộ nông dân", còn thơ sơn thuỷ có thể gọi là “thơ thiên nhiên” và thường hướng đến việc “miêu tả cảnh núi sông cây cỏ". Như vậy, Lê Nguyễn Lưu đã đặt ra vấn đề so sánh hai thể loại dựa trên sự khác biệt trong cách lựa chọn đối tượng thẩm mỹ.
Trong mục viết về Mạnh Hạo Nhiên, Lê Nguyễn Lưu bình luận: “Ông dùng hình thức có quy luật nghiêm khắc (ngũ luật, bài luật) để làm thơ sơn thủy. Ông miêu tả cảnh núi sông hùng tráng, kỳ vĩ, bao quát một không gian rộng lớn, đôi bài có khí thế bàng bạc, cách điệu hùng hồn (Lâm Động Đình, Tư Tầm Dương phiếm chi chi Minh hải tác). Ông sở trường tả cuộc sống u cư của người ẩn dật trong chốn núi rừng, ngôn ngữ bình thường mà cảm nghĩ sâu sắc, hàm súc, tình và cảnh xen lẫn nhau, sinh động và ý vị”14. Bên cạnh đó, Lê Nguyễn Lưu còn nhận xét về Mạnh Hạo Nhiên như sau: “Ngoài ra, ông cũng làm một số thơ điền viên lời lẽ giản dị, chân thật, sinh động, nói lên tình cảm thân thiết giữa nhà thơ và nông dân, tạo một không khí trong sáng, vui tươi”15.
Tuy nhiên, trong suốt cuốn sách, không phải lúc nào tác giả cũng giữ nguyên hai cách gọi độc lập này. Khi bàn đến tác giả Vương Duy, tác giả đã xem xét và đặt vị trí của Vương Duy trong dòng chảy c ủa lịch sử văn học như sau: “Đặc biệt, trong thời kỳ sau, thơ sơn 13 Trần Trung Hỷ (2007), Thơ Sơn Thủy cổ trung đại Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.8 14 Xem thêm: Lê Nguyễn Lưu, Đường thi tuyển dịch, tập 2, tr.1593-1594 15 Xem thêm:Lê Nguyễn Lưu, Đường thi tuyển dịch, tập 2, tr.1954 16 z thủy điền viên chiếm đa số, chất lượng nghệ thuật cũng cao, tạo nên một phong cách độc đáo, và là nét chủ yếu trong diện mạo của ông “Phật thơ”16. Dù vậy, khi nhìn trên tổng thể, Lê Nguyễn Lưu vẫn là một nhà nghiên cứu có quan điểm tương đối rõ ràng trong việc phân loại hai khuynh hướng thơ này. Theo chủ kiến của chúng tôi, có thể phân biệt thơ sơn thủy và thơ điền viên dựa trên một số tiêu chí nhất định.
Tiêu chí thứ nhất, có thể phân loại dựa vào đặc điểm riêng biệt của hai kiểu khách thể thẩm mỹ - thế giới tự nhiên được phản ánh. Thế giới khách thể trong thơ sơn thủy hướng phần nhiều đến yếu tố thiên tạo, còn khách thể trong thơ điền viên lại hướng đến yếu tố nhân tạo. Cảnh trong thơ điền viên thường là sân nhỏ, ao bé, ruộng vuông, nhà cỏ, ngõ trúc, gà gáy,…; cảnh trong thơ sơn thủy thường là núi cao, vực thẳm, sông dài, trời rộng… Thiên nhiên trong thơ sơn thủy nằm ngoài khả năng chế ngự và gọt đẽo của con người. Ngược lại, thiên nhiên trong thơ điền viên lại mang đậm sắc màu nhân vi thôn dã.
Thơ điền viên vẽ ra bức tranh về đời sống và sinh hoạt nơi xóm làng thanh đạm, tĩnh tịch từ đó làm tôn lên phong thái nhàn nhã, ung dung của những nhàn nhân ẩn giả. Cảnh sắc tự nhiên và không gian sinh hoạt trong thơ điền viên mang sắc thái u tĩnh, đạm tịch, có nét gì đó cộng hưởng và hòa điệu với tâm thế và xúc cảm của người ẩn sĩ thanh nhàn, tự tại, trong sạch, thoát tục, không hề vướng bận bụi bặm trần gian. Còn trong thơ sơn thủy, thế giới tự nhiên lại được hiện lên với một diện mạo khác. Trong công trình Thi cách, Vương Xương Linh đã từng viết rằng: “Dục vi sơn thủy thi, tắc tương truyền thạch vân phong chi cảnh cực diễm lệ tú giả, thần chi vu tâm, thiên hậu dụng tư liễu nhiên cảnh tượng” (Gọi là thơ sơn thủy tức là biểu dương cái đẹp diễm lệ của suối đá mây gió, nắm bắt cái thần của cảnh và xúc động tâm tình, sau đó suy tư để hiểu được bản chất của cảnh tượng) 17.
Trong thơ sơn thủy, 16 Xem thêm:Lê Nguyễn Lưu, Đường thi tuyển dịch, tập 2, tr.1622 17 Trần Trung Hỷ (2007), Thơ Sơn Thủy cổ trung đại Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.8 17 z chủ thể sáng tạo thường hóa thân vào một vị khách phong lưu và phiêu lãng. Tâm thế “đăng cao viễn vọng” của chủ thể sáng tạo đồng vọng tuyệt đối với núi mây khổng lồ. Ở giữa chốn nước non trùng điệp, nước chảy ngàn năm, cỏ cây hoang dại, con người và vũ trụ như đồng vọng và hợp nhất. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở tiêu chí này mà đã vội quy kết thì chưa thực sự thuyết phục.
Mặc dù có những điểm không tương đồng, nhưng việc phân biệt thơ điền viên và thơ sơn thủy không hoàn toàn dựa vào sự lựa chọn khách thể thẩm mỹ. Bởi lẽ, khách thể thẩm mỹ trong cả hai dòng thơ này đôi khi hòa lẫn và lồng quyện vào nhau.