mở đầu cho sự ra đời của một loạt truyện ngắn của các tác giả nhƣ Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn… Cốt truyện về một mối tình tay ba oái oăm vốn không quá phức tạp, nhƣng xu hƣớng hiện đại hóa của tác phẩm bắt đầu bộc lộ từ cách kể chuyện ở ngôi thứ nhất của nhân vật xƣng tôi. Đặc biệt, kết cấu truyện bộc lộ khuynh hƣớng tổ chức theo quy luật tâm lý hơn là trật tự thời gian tuyến tính với kết thúc là tấn bi kịch của nhân vật chính (hoàn toàn khác với lối kết thúc có hậu ảnh hƣởng từ truyện kể dân gian trong các tác phẩm trƣớc đây). Sự ra đời của Truyện Thầy Lazaro Phiền cùng với chữ quốc ngữ và sự ảnh hƣởng của văn hóa phƣơng Tây đã tạo tiền đề cho một thời kỳ hoàng kim của truyện ngắn Việt Nam. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại 20 Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 1.2 Giai đoạn 1932 - 1945 Giai đoạn 1932 - 1945 là bƣớc phát triển quan trọng trong tiến trình văn học nói chung và của thể loại truyện ngắn nói riêng.
Truyện ngắn thời kỳ này khởi sắc, tạo nên mùa gặt bội thu với những tên tuổi nhƣ: Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân, Nguyên Hồng, Mạnh Phú Tƣ, Khái Hƣng, Nhất Linh, Thanh Tịnh… Do những đặc trƣng riêng về hoàn cảnh lịch sử và phong cách sáng tác, văn học thời kỳ này chia làm hai dòng chính: hiện thực phê phán và lãng mạn trữ tĩnh. Nhìn từ phƣơng diện cốt truyện và kết cấu, hai dòng văn học này cũng có những đặc trƣng riêng. Truyện ngắn hiện thực phê phán thể hiện cái nhìn trực diện vào bộ mặt đời sống xã hội, bộc lộ các trạng thái nhân thế, phơi bày những hiện tƣợng tầm thƣờng, kệch cỡm diễn ra hàng ngày trong đời sống. Cốt truyện của dạng truyện ngắn này đƣợc xây dựng dựa vào những mâu thuẫn, xung đột đa dạng.
Chất liệu chính của cốt truyện thời kỳ này là những sự kiện, hành động giàu kịch tính - loại sự kiện gắn liền với hành động bên ngoài của nhân vật. Nhà văn luôn tìm cách dồn nén hàng loạt cử chỉ, động tác và lời đối thoại gay gắt của các nhân vật vào quan hệ đối kháng. Khi đƣợc đặt trong những bối cảnh văn học đặc biệt, chúng thƣờng đƣợc đẩy lên thành những hiện tƣợng mang tính tƣợng trƣng, hay còn gọi là hoàn cảnh điển hình. Có thể nói, với dòng văn học hiện thực phê phán, cốt truyện truyện ngắn đã đƣợc đẩy lên đến đỉnh cao của sự mẫu mực.
Sự phát triển của tác phẩm đi qua tiến trình cơ bản gồm thắt nút, cao trào, mở nút. Cốt truyện đƣợc xây dựng dựa vào hệ thống sự kiện; biến cố giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cốt truyện phát triển và kết thúc tác phẩm thƣờng rất bất ngờ. Với kiểu cốt truyện này, kết cấu ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại 21 Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- truyện ngắn 1932 - 1945 cũng rất đa dạng, phong phú. Có kiểu kết cấu theo trình tự thời gian, kết cấu hồi cố, kết cấu tâm lý, kết cấu truyện lồng trong truyện.
Trong đó nguyên tắc cơ bản của miêu tả là tạo sự đối lập tƣơng phản và tăng cấp, giữa các nhân vật, trong mỗi nhân vật, giữa các tình huống và ngay trong một tình huống. Nếu nhƣ Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố khai thác xung đột kẻ giàu - ngƣời nghèo thì Nam Cao, Nguyên Hồng phản ánh sự mâu thuẫn giữa nông dân và phú hào, khát vọng của trí thức và những kiềm tỏa của đời sống vật chất. Trong dòng văn học lãng mạn, truyện ngắn trữ tình là một trong những giá trị nổi bật, với những sáng tác đặc sắc của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh. Thƣờng bộc lộ tâm tƣởng của con ngƣời trƣớc đời sống, truyện ngắn trữ tình về cơ bản là sự chủ quan hóa, nội tâm hóa cái nhìn thế giới.
Truyện không nặng về kể lể các sự việc mà chủ yếu thể hiện các trạng thái tâm lý của con ngƣời. Sự kiện nội tâm là chất liệu cơ bản để xây dựng cốt truyện. Do đó, truyện ngắn trữ tình thƣờng không có cốt truyện. Kết cấu chủ yếu theo dòng tâm lý, suy tƣởng; xung đột nội tâm là điểm tựa cho cấu trúc của truyện.
Cả truyện thƣờng nhẹ nhàng nhƣ một bài thơ, trong đó, mỗi đoạn truyện đƣợc thể hiện nhƣ một đoạn thơ. Thạch Lam là cây bút nổi bật nhất của dòng truyện trữ tình 1932 - 1945 với những sáng tác nhƣ Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Nhà mẹ Lê, Bóng người xưa. Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ nhận xét: “Nếu nhƣ ở truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, cốt truyện có phần nào lấn át nhân vật thì Thạch Lam lại ít sử dụng những cốt truyện sự kiện giàu hành động kịch tính. Một số truyện ngắn của Thạch Lam rất khó kể lại, hay nói đúng hơn, Thạch Lam nghiêng về những cốt truyện tâm lý.
Truyện ngắn Thạch Lam tác động sâu vào lĩnh vực ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại 22 Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- tâm lý, tình cảm của ngƣời đọc. Ngòi bút Thạch Lam đi sâu vào thế giới bên trong của tâm hồn con ngƣời, đặc biệt là thế giới của những ấn tƣợng và cảm giác” [15; 34]. Những thành tựu truyện ngắn trữ tình 1932 - 1945 sẽ còn đƣợc tiếp tục phát triển trong giai đoạn văn học sau. Ngoài cách phân chia cốt truyện theo hai dòng văn học nói trên, sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 còn sản sinh ra những tác phẩm mang khuynh hƣớng tiểu thuyết hóa.
Là một thể loại độc lập, truyện ngắn có khả năng ngang hàng với tiểu thuyết ở giá trị nhận thức hiện thực nhƣng trong bản thân hình thức tự sự này luôn tiềm ẩn sự bứt phá khỏi khuôn khổ thể loại. Mặc dù bình đẳng với tiểu thuyết ở phƣơng thức phản ánh (sử dụng lời kể và lời miêu tả) song truyện ngắn không thể cạnh tranh đƣợc với tiểu thuyết ở quy mô tổ chức và sự đa dạng các hình thức nghệ thuật biểu hiện cuộc sống ở chiều sâu. Trong khi hƣớng tới con ngƣời và cuộc sống trong những mối quan hệ ngày một đa chiều, phức tạp thì tính chất “một chủ đề, một tiến trình sự kiện, một biểu đạt tình thái duy nhất thống nhất trong một thời gian đối thoại ngắn” [26; 139] của thể loại này tỏ rõ những hạn chế nhất định. Dung lƣợng tác phẩm bắt đầu giãn ra nhƣng chất tiểu thuyết chỉ thực sự xuất hiện ở những truyện ngắn mang tƣ duy tiểu thuyết, biểu hiển rõ ở hệ thống chủ đề, cốt truyện, tính cách và những vấn đề hiện thực đặt ra trong đó… Nhìn từ góc độ cốt truyện và kết cấu, ở những tác phẩm thuộc xu hƣớng này, tính chất đơn tuyến và sự hữu hạn của thời gian, không gian từng bƣớc bị phá vỡ.
Cốt truyện vẫn giữ lại sƣờn sự kiện mang tính dramatic truyền thống song dấu hiệu đa tuyến đã xen vào cùng với nghệ thuật xử lý thời gian không gian phức tạp và hiệu quả hơn. Đó là trƣờng hợp của những truyện ngắn nhƣ Chí Phèo, Đời thừa… (Nam Cao). ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại 23 Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 1.3 Giai đoạn 1945 - 1985 Thực tế, giai đoạn văn học 1945 - 1985 có thể đƣợc chia thành các khúc đoạn nhỏ hơn, nhƣng nhìn từ phƣơng diện cốt truyện và kết cấu, sự thay đổi giữa các khúc đoạn này diễn ra không thực sự mạnh mẽ. Phát triển trong bối cảnh đất nƣớc đối đầu với hai cuộc chiến tranh và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa diễn ra chóng vánh, nhiệm vụ phục vụ cách mạng đƣợc đặt ra nhƣ một yêu cầu tiên quyết đối với văn học.
Đặc điểm này sẽ trực tiếp chi phối đến nội dung, cốt truyện và nghệ thuật kết cấu tác phẩm của văn xuôi tự sự, trong đó có truyện ngắn. Những nhà văn đã thành danh với dòng truyện hiện thực phê phán giai đoạn trƣớc nhƣ Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Bùi Hiển, Kim Lân… tiếp tục sáng tác một cách sung sức. Dòng văn học hiện thực, với chức năng cơ bản là phản ánh sự phong phú, sôi động của cuộc kháng chiến và những năm đầu xây dựng hòa bình, các tác giả đã tập trung khai thác những mâu thuẫn xung đột giai cấp, xung đột dân tộc, xung đột cá nhân và tập thể. Giai đoạn đầu, truyện ngắn hơi giàu chất ký, cốt truyện còn đơn giản, chi tiết chƣa thực sự tinh tế và chọn lọc.
Càng về sau, với những tác giả nhƣ Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Anh Đức… truyện ngày càng có nhiều tình huống và cấu tứ hay. Nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhận xét: “Truyện ngắn giai đoạn này (1955 - 1975) tiêu biểu về tính cốt truyện, bởi lẽ cuộc sống đa dạng đã cung cấp cho nhà văn những „cốt‟ hay: Một tình yêu của những ngƣời chƣa từng biết mặt nhau (Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu); một sự thử thách tình yêu độc đáo (Chị xã đội trưởng - Nguyễn Quang Sáng); một cuộc tái sinh nhiệm màu của lao động đối với phẩm hạnh con ngƣời (Mùa lạc - Nguyễn Khải)… Với những cốt truyện đầy ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Sự vận động của truyện ngắn VN từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại 24 Luận văn Thạc sĩ Lưu Thị Thu Hà ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- kịch tính, nhà văn đã tạo nên đƣợc những truyện ngắn có độ căng của hành động nhƣ Rừng xà nu - Nguyên Ngọc, Quán rượu người câm - Nguyễn Quang Sáng… Đa số truyện ngắn thời kỳ này đều viết về những khoảnh khắc tiêu biểu của cuộc sống trong chiến tranh” [68;78]. Theo đó, kết cấu truyện theo hai tuyến nhân vật tỏ ra rất phù hợp để phản ánh các mâu thuẫn cơ bản của thời đại: ta và địch; nông dân và địa chủ, cá nhân và tập thể. Các truyện ngắn nhƣ Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Con đường sống (Minh Lộc), Con chim vàng (Nguyễn Quang Sáng), Chị Nhân (Kim Lân)… là những điển hình cho kiểu kết cấu này.