CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VĂN HỌC THIỀN TÔNG ĐỜI TRẦN —Ô— I.1- Bối cảnh lịch sử thời đại nhà Trần Trong suốt nghìn năm dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, dân tộc ta đã nhiều lần đứng lên lật đổ chính quyền của bọn thống trị này, nhưng phải đợi đến năm 938, Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng và xưng vương thì đất nước ta mới thực sự chấm dứt ách cai trị và chuyển mình bước sang thời kỳ độc lập tự chủ. Nếu ai đó cảm thông một cách sâu sắc nỗi thống khổ cùng cực của nhân dân ta trong nghìn năm dưới ách đô hộ của phương Bắc thì chắc chắn sẽ cảm nhận được niềm hân hoan cùng tột khi quyền tự chủ đất nước lần đầu tiên nằm trong tay vương triều của dân tộc mình. Dẫu rằng nhà Ngô (939-967) tồn tại ngắn ngủi và công cuộc kiến thiết đất nước chưa là bao nhưng sự đóng góp của nhà Ngô cho tổ quốc được các sử gia đánh giá cao và xem triều đại này là triều đại mở màn cho kỷ nguyên độc lập tự chủ của dân tộc ta. Tiếp theo sau Ngô là các triều đại Đinh (968-980), Tiền Lê (981-1009); các triều đại này cũng như Ngô, tuy không tồn tại dài lâu và sự nghiệp phục hưng quốc gia không có chi đặc sắc nhưng điều đáng nói ở đây là trải qua sự thăng trầm, thịnh suy của các triều đại này ý thức về một đất nước thống nhất và ý chí bảo vệ nền độc lập tự chủ của tổ quốc đã được thể hiện khá rõ rệt và trở thành truyền thống vững bền của dân tộc ta.
Bước sang triều đại Lý (1009-1225), việc xây dựng kiến thiết tổ quốc mới thực sự khởi sắc trên quy mô lớn ở mọi phương diện. Suốt thời gian tồn tại, vương triều nhà Lý đã đạt được những thành tựu khá lớn ở các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa… trong công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước. Những thành tựu ấy được các sử gia xem là khởi điểm đầu tiên trong đại nghiệp phục hưng văn hóa của dân tộc Đại Việt. Nhà Lý đã tạo nên một nền tảng vật chất và tinh thần để các triều đại sau này kế thừa và tiếp tục phát huy.
Nhà Trần (1225-1400) kế thừa trọn vẹn những tinh hoa mà nhà Lý để lại, lấy đó làm cơ sở để xây dựng nên một vương triều vững chắc, một quốc gia hùng mạnh. Về kinh tế, đối với nông nghiệp, tiếp tục khuyến khích khai khẩn đất hoang, mở rộng diện tích canh tác, thiết lập hệ thống đê điều bảo vệ ruộng đất chống nạn lụt lội, đặt ra những chức Hà đê chánh sứ, phó sứ để chăm lo việc đào kênh, đắp đập nhằm phục vụ công tác thủy lợi và giao thông. Các ngành nghề thủ công nghiệp ngày càng hưng thịnh, có thể sản xuất ra hầu hết nhu yếu phẩm cho xã hội như nông cụ, vải lụa, đồ gốm, đồ sứ, đồ đồng, vật liệu xây dựng… thậm chí có thể sản xuất ra xe thuyền và vũ khí. Thương nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh, kinh đô Thăng Long trở thành trung tâm giao 7 dịch buôn bán với 61 phố phường.
Không chỉ đóng khung trong phạm vi quốc gia, nhà Trần còn mở rộng trao đổi buôn bán với các nước lân cận, việc giao dịch với các nước ngoài thường được tổ chức ở các thương khẩu như Vĩnh Bình, Nghi Hòa đình, Vân Đồn… Giao thông phát triển, nhiều đường thủy lẫn đường bộ được mở mang. Về quân sự, tuy nhà Trần tiếp tục áp dụng chính sách “ngụ binh ư nông” có từ thời Lý, xây dựng được lực lượng quân đội hùng mạnh đủ để bảo vệ trị an cho đất nước. Vào những năm 1257, 1284 và 1287 đất nước phải đương đầu với ba cuộc xâm lược quy mô lớn của đế quốc Nguyên- Mông, nhưng với quân đội hùng hậu, tinh thần đoàn kết thống nhất và ý chí độc lập tự chủ, vua tôi nhà Trần đã đánh tan các cuộc xâm lược của đế quốc hùng mạnh và hung hãn nhất lúc bấy giờ, tạo nên một khí thế hào hùng vẻ vang mà các sử gia sau này gọi đó là Hào khí Đông A. Hào khí này đã làm cho vua quan nhà Nguyên nhiều phen khiếp vía, nhẫn đến sau khi chiến tranh kết thúc, khi có việc phải sang Đại Việt, các sứ thần nhà Nguyên phần lớn đều rất e dè và lo ngại.
Hào khí Đông A không chỉ thể hiện ở trong chiến đấu mà còn có trong quá trình xây dựng kiến thiết tổ quốc ở các lĩnh vực văn hóa và học thuật. Kiến trúc và xây dựng được phục hưng, phát triển, có những thành tựu đáng kể và phần lớn cũng là những công trình kiến trúc mỹ thuật Phật giáo như chùa chiền, tự viện, bia tháp, chuông tượng. Đối với vấn đề giáo dục, đào tạo và tuyển chọn nhân tài đều đi vào quy củ; các kỳ thi Nho được triều đình thường xuyên tổ chức 1 và có quy mô rộng lớn hơn đời Lý. Bên cạnh đó, chính quyền còn đặt ra các lệ thi và thiết lập các học vị trong thi cử với mục đích là tuyển chọn hiền tài ra làm quan.
Năm 1236, Trần Thái Tông đặt ra chức Đề điệu Quốc tử giám để dạy cho các con em quan văn; năm 1252, vua chọn những thành phần xuất sắc trong số con em của thứ dân cho theo học ở Quốc tử giám. Cuối thế kỷ XIV, năm 1397, triều đình đặt ra các chức học quan ở lộ, phủ, châu để mở rộng công tác giáo dục sang tận các lộ, phủ, châu chứ không chỉ tập trung ở kinh đô, nhờ đó mà có rất nhiều người xuất thân từ thứ dân đi học và dự thi và cũng từ ấy, việc tuyển chọn hiền tài cho bộ máy cai trị có xu hướng nghiêng về phương pháp khảo thí để chọn hơn là đề cử hoặc thế tập. Như vậy, vương triều nhà Trần đã thực sự chú trọng và phát triển việc đào tạo ra tầng lớp Nho sĩ theo quy củ và trên quy mô lớn. Nho sĩ thi đỗ phần lớn ra làm quan, số không thi hoặc thi không đỗ hoặc thi đỗ nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học trải qua thời gian đông dần lên và trở thành tầng lớp trí thức của xã hội.
Đời Trần, triều đình chủ trương Tam giáo đồng nguyên, giai đoạn đầu đời Trần, Phật giáo giữ vai trò chủ đạo ở các mặt chính trị, văn hóa nhưng càng về sau thế lực Nho giáo càng lớn mạnh; Nho sĩ lần lần giữ vai trò, địa vị quan trọng trong triều chính; Phật giáo và Đạo giáo lui dần khỏi trường chính trị và đi sâu vào dân gian. 1 Trong Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại vào những năm 1227, 1228, 1232, 1239, 1247, 1256, 1257, 1266, 1275, 1304, 1314, 1345, 1360, 1363, 1374, 1381, 1384, 1393 và 1396 triều đình đều có tổ chức các kỳ thi Nho học. 8 Ngoài ra, dưới triều đại nhà Trần, các lĩnh vực khác như y học, thiên văn, lịch pháp, nghệ thuật ca múa hát xướng, nghệ thuật điêu khắc chạm trổ… đều được phục hưng và phát triển mạnh. Đến đời vua Trần Dụ Tông, từ niên hiệu Đại Trị (1358) về sau, do vua chơi bời vô độ, cơ nghiệp nhà Trần suy yếu kể từ ấy.
Năm 1400, Hồ Quý Ly tiếm vị và thiết lập vương triều mới. Trong suốt thời gian tồn tại 1400-1407, tuy nhà Hồ có đề ra những cải cách mới mẻ về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục… nhằm khôi phục đất nước đang trên đà đi xuống nhưng vì chính sách cải cách không hợp lòng dân nên nhanh chóng thất bại, tạo cơ hội cho nhà Minh sang xâm lược nước ta. Như vậy, trong khoảng thời gian 175 năm tồn tại của triều đại nhà Trần (1225-1400), đất nước tuy có nhiều biến động, nhiều lần thịnh suy, bỉ thái, hưng phế nhưng hầu như các thiên tử đều biết chăm lo cho đời sống của nhân dân và vận mệnh của tổ quốc. Họ không những cố gắng duy trì, bảo vệ nền độc lập tự chủ mà còn xây dựng, kiến tạo lại nền văn hóa của dân tộc nhằm đưa đất nước đi lên, nhờ thế mà nền văn hóa dân tộc ta sau nghìn năm bị chôn vùi dưới ách thống trị phương Bắc nhanh chóng phục hồi và phát triển.
Trên đà tiến triển mạnh mẻ ấy, dòng văn học viết thời Trần nở rộ những tinh hoa và trở thành một trong những bộ phận quan trọng của nền văn học nước nhà. Không như văn học dân gian là sản phẩm của cộng đồng, của tập thể nhân dân, văn học viết là sản phẩm riêng của từng cá nhân. Tác giả của dòng văn học viết thời Trần bao gồm các thành phần như Tăng sĩ, Đạo sĩ, Nho sĩ, vua chúa, quan lại, quý tộc và quần chúng lao động; những tác giả này chịu ảnh hưởng nhiều từ tư tưởng Đạo giáo, Nho giáo và đặc biệt là Phật giáo và đều nằm trong ý thức hệ phong kiến. Nói thế không có nghĩa là những tác giả dòng văn học viết thời kỳ này hoàn toàn lệ thuộc vào những giáo điều của các tôn giáo, trong bối cảnh mà toàn dân đều tham gia vào công cuộc bảo vệ nền độc lập, hăng say trong việc xây dựng và kiến thiết tổ quốc thì chắc chắn rằng hào khí ấy sẽ tác động mạnh đến họ, họ sẽ tiếp biến những tư tưởng của các tôn giáo theo tinh thần của dân tộc và thời đại để trở thành hàng trí thức có thể đảm đương gánh vác những trách nhiệm mà lịch sử giao phó cho chính mình, đó là góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.2-Phật giáo trong thời đại nhà Trần Phật giáo trong thời Bắc thuộc là tiền đề, là nền tảng vững chắc để Phật giáo trong các thời đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần trưởng thành và phát triển.
Sự ảnh hưởng của Phật giáo lúc bấy giờ không dừng lại ở phương diện đời sống tâm linh, đời sống văn hóa đạo đức của con người mà nó còn tác động đến chính trị, xã hội. Trong một thời gian khá dài qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý và đầu đời Trần, Phật giáo luôn giữ lấy vị trí độc tôn trên trường chính trị và văn hóa, dù rằng lúc đó Đạo giáo và Nho giáo đã hiện diện ở nước ta rồi.