phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tải liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương và 5 tiết. BOI CANH VÀ TIEN DE HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHAN VAN CUA NGUYEN TRAI 1. Khai niệm tu tưởng nhan văn O phương Tây, thuật ngữ “nhân văn” có gốc tiếng Latinh là “homo” tức con người, gan liền với nó là một loạt thuật ngữ mang tính dịch nghĩa, bé tro: Humanus tức thuộc về con người, hay bản tính, bản chất người hoặc coi trọng con người; Humanitas tức khoa học nghiên cứu về con người (bản chất, cá tinh, vi trí, giá tri. của con người) va tự nhiên; Humanism được dùng phổ biến hơn cả và được dịch là chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa nhân đạo.
Khởi nguyên của “humanism” như là một chương trình giáo dục- văn hóa được các nhà triết học Hy Lạp cô đại vào khoảng thế kỉ V - IV TCN xây dựng nên thông qua các bài học, lí luận triết học, đạo đức học về đạo làm người. Chương trình nay nham phát triển một cách toàn diện tài năng và sự sáng tạo cao nhất những năng lực bản chất của con người. Mặc dù vậy, ngôn ngữ Hy Lạp không có từ Humanism. Tuy nhiên, mối quan tâm đối với con người và những chân giá trị của họ luôn là tâm điểm trong tư duy của người Hy Lạp.
Sự quan tâm này đã được thé hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau như triết học, nghệ thuật, lịch sử. Cuối thời Trung cổ, ở châu Âu xuất hiện “phong trào văn hóa Phục hưng” (tiếng Pháp: Renaissance có nghĩa là tái sinh) nhằm khôi phục nền văn hóa cổ điền, trở về với tinh thần nhân văn của nền văn minh Hy- La. Thời ki Phục hưng, những tư tưởng nhân văn đã đơm hoa kết trái, là trào lưu tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt, trở thành chủ nghĩa nhân văn. Nội dung cơ bản của nó là đặt con người vào vị trí trung tâm dé dau tranh chống lại sự thống trị của giáo 13 ly Cơ đốc giáo lấy thần làm trung tâm.
Do đó, nó thé hiện sự phản ứng mạnh mẽ chống lại thần quyền và tôn giáo; đòi quyền sống tự do, quyền hưởng thụ tự nhiên cho con người; khăng định vẻ đẹp của con người trần thế với những khả năng vô tận. Từ đó, những khát vọng muôn thuở của con người như tình yêu, hạnh phúc, cái đẹp, tự do, khoái lạc. Chính những tư tưởng mới này đã làm xuất hiện những lí tưởng mới về công bằng xã hội, hình thành quan điểm dao đức mới và nhân mạnh, đề cao các giá trị phổ quát của con người như tự do, công lí, phâm giá, hạnh phúc, quyền con người. Chủ nghĩa nhân văn là sản phẩm của thời kỳ Phục hung thé ky XV, nhưng đến tận thế kỷ XIX thuật ngữ “chủ nghĩa nhân văn” mới xuất hiện.
Năm 1808, Friedrich Immanuel Niethammer ủy viên giáo dục xứ Bavarian dé xuất thuật ngữ Humanismus dé miêu tả chương trình giáo dục các phẩm chất Người của con người trong các trường trung học Đức. Vào năm 1836 từ “humanism” được đưa vào tiếng Anh. Năm 1856, nhà ngữ văn và lịch sử người Đức Georg Voigt sử dụng từ “Humanism” để miêu tả về phong trào nhân văn Phuc hưng ở phương Tây (thé ki XIV - XVI) khởi nguồn từ nước Y sau đó lan rộng ra các nước Tây Âu. Ngày nay, nội hàm của khái niệm humanism rất rộng và đa nghĩa.
Thông thường, nó được hiểu theo hai nghĩa cơ bản là nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, khái niệm Humanism được dùng dé chỉ trào lưu triết học, văn hóa, nghệ thuật tiến bộ thời ki Phục hưng ở châu Âu (thế ki XIV- XVI) hướng đến việc giải phóng cá tính con người khỏi những ràng buộc và sự trì trệ của tư tưởng phong kiến, chủ nghĩa kinh viện và thần học Cơ đốc giáo. Theo nghĩa rộng, khái nệm Humanism dùng để chỉ bất kì học thuyết, trào lưu tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật nào công nhận và lây “con người là thực thể cao nhất đối VỚI con nØười”. 14 Ở phương Đông mà cụ thé là Trung Quốc, vào thé ki VI TCN, trong khi phương Tây dần bước vào giai đoạn phát triển cực thịnh với nền văn minh Hy La rực rỡ thì tại xã hội Trung Quốc cổ đại cũng có những chuyên biến căn bản từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang phong kiến.
Giai đoạn xã hội loạn lạc này đã này sinh rất nhiều các trào lưu tư tưởng lớn có ảnh hưởng suốt chiều dài lịch sử các nước phương Đông: Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo.Trong điều kiện chiến tranh liên miên giữa các quốc gia (Xuân Thu- Chiến Quốc), mạng sống con người bi coi rẻ dưới con mắt những kẻ cam quyền thì việc dé cao con người, đặt con người vào vị trí trung tâm trong học thuyết của các nhà tư tưởng là điều dé hiểu. Nhân văn theo Hán tự thì “nhân” là người, giống khôn nhất trong các loài động vật, “văn” là cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hoá mà có. Theo Hán Việt từ điển trích dẫn thì “Nhân văn là: “chỉ lễ nhạc giáo hoá, phiếm chỉ các hiện tượng văn hoá trong xã hội loài người, việc đời, nhân sự, tập tục, phong tục” [75]. Nhân văn xuất hiện khá sớm trong các tư liệu Hán cổ của Trung Quốc.
Trong Thoán truyện Kinh Dich có câu: “hoán viết: Bí hanh, nhu lai nhi văn cương, cô hanh; phân cương thượng nhi văn nhu, cô tiêu lợi hữu du vãng. Thiên văn dã, văn minh dĩ chỉ, nhân văn dã. Quán hồ thiên văn, đĩ sát thời biến; quán hồ nhân văn. Dĩ hóa thành thiên hạ” (“Thoan truyện” nói: Văn sức, hanh thông, ví như âm mềm đến văn sức cho đương cứng, âm đương văn sức cho nhau, bởi vậy nên hanh thông; lại phân cho dương cứng di lên van sức cho âm mềm, cho nên kẻ mềm nhỏ lợi về sự đi.
(Đẹp của cứng về đẹp của mềm xen lẫn vào nhau) đó là văn thai của trời; vẻ sáng sua ngưng tụ lại trong lễ nghĩ, đó là văn thái của nhân loại. Quan sat văn thai của trời, có thé biết được quy luật chuyển đôi bốn mùa; quan sát văn thái của nhân loại, có thể đây sự giáo hóa nhanh chóng lan tỏa trong thiên hạ”) [21, tr. Tư tưởng khá tiêu biêu về quan trac thiên văn, năm vững biên hóa của thời gian; quan sát 15 nhân tình thế thái, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, thi hành giáo hóa, cải tạo xã hội nhân luân của Kinh Dịch, cho thấy thuật ngữ “nhân văn” được xem xét với nghĩa văn hóa, lễ nghĩa, phong tục. của loài người.
Do điều kiện lịch sử cụ thể khác với phương Tây cổ đại, chính vì vậy mà khái niệm “nhân văn” của phương Đông có nội dung cũng không trùng khít với “humanism” mà Phương Tây vẫn sử dụng. Tư tưởng nhân văn xuất hiện trong lịch sử tư tưởng Phương Đông khá sớm và thê hiện tập trung trong giáo lý của các tôn giáo lớn như Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo nhưng hiếm khi nào người ta đặt van đề định nghĩa xem cụ thể nhân văn là gì. Chính vì đặt con người vao các vi trí trang trọng cho nên các trào lưu tư tưởng và các tôn giáo lớn ở Phương Đông bên cạnh những hạn chế, đều mang tính tích cực từ khởi nguyên với các tư tưởng nhân văn. Ở phương Đông, đặc biệt là Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng của Tam giáo: Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo, buổi dau, tư tưởng nhân văn là tổng hòa các tư tưởng thời cổ đại, học thuyết nhân nghĩa của Nho giáo, tư tưởng “từ bi bác ái” của Phật giáo, những yếu tố giải phóng tư duy con người trong tư tưởng Lão- Trang.
Tư tưởng nhân văn phương Đông thường chú trọng đến sự hài hòa giữa con người với tự nhiên. Nhân văn là một giá trị phổ biến của nhân loại nhưng cái phổ biến đó được tạo nên bởi các đặc thù của từng quốc gia, dân tộc, từng thời kì lịch sử khác nhau. Qua đó có thé thấy rằng nghĩa của thuật ngữ nhdn văn ở phương Đông không giống như Humanism của Phuong Tây. Tuy mỗi nền văn hóa, mỗi thời đại có cách tiếp cận, thé hiện, cách thực hiện thuật ngữ “Nhân văn” khác nhau.
Nhưng đều có điểm chung là hướng đến con người, vì cuộc sống hạnh phúc của con người và vì sự phát triển toàn điện của con người. Hiện nay, có nhiều quan niệm mới về chủ nghĩa nhân văn. Đặc biệt là Tuyên ngôn Amsterdam 2002 về chủ nghĩa nhân văn mới, hiện đại. Chiều ngày 6-7-2002, Hội thảo quốc tế: Tính đa dạng của con người, quyển con 16 người và chủ nghĩa nhân văn tại Amstersdam, Hà Lan đã ra tuyên bố về chủ nghĩa nhân văn (Tuyên ngôn Amsterdam 2002) với nội dung sau đây: “Chủ nghĩa nhân văn là sản phẩm truyền thống lâu dài của tư tưởng tự do đã được nhiều nhà tư tưởng lớn và nhiều nhà sáng tạo nghệ thuật thế giới nêu ra và tự nó đã phát triển thành một khoa học.
Chủ nghĩa nhân văn hiện đại bao gồm các yếu tố cơ bản sau: 1- Chủ nghĩa nhân văn mang tinh đạo đức. Nó khang định giá trị, sự tôn nghiêm va tinh tự chủ của cá nhân, khang định quyền của mọi người đối với tự do lớn nhất có thé khi quyền đó tương hợp (không mâu thuẫn) với quyền lợi người khác. Nhà nhân văn có nhiệm vụ chăm lo cho toàn nhân loại ké cả thé hệ tương lai. Nhà nhân văn tin tưởng rằng đạo đức là một phần cé hữu của bản tính con người dựa trên sự hiểu biết và quan tâm đến người khác không cần đến tác động (thưởng phạt) từ bên ngoài.
2- Chủ nghĩa nhân văn mang tính chất lý tính. Nó tìm cách sử dụng khoa học một cách sáng tạo chứ không phá hoại. Nhà nhân văn tin tưởng rằng con đường giải quyết các van đề của thế giới nằm trong tư tưởng và hành động của con người hơn là sự can thiệp của thần thánh. Chủ nghĩa nhân văn tan thành việc áp dụng các phương pháp khoa học và tự do chat van những van dé phúc lợi cho con người.
Nhưng nhà nhân văn cũng tin rằng việc ứng dụng khoa học kỹ thuật phải tuân theo những giá trị của con người. Khoa học cho con người phương tiện nhưng những giá trị con người phải quyết định mục đích. 3- Chủ nghĩa nhân văn ủng hộ dân chủ và quyền con người. Mục tiêu của chủ nghĩa nhân văn là sự phát triển đầy đủ nhất theo khả năng mỗi người.
Chủ nghĩa nhân văn luôn chủ trương rằng dân chủ và phát triển con người là bản chat của quyên con người.