Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Tiểu thuyết lãng mạn trong văn học Việt Nam 1930 - 1945 dưới góc nhìn thể loại" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phạm Thị Thiểm, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Đăng Suyền, chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9.22.01.21) tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2024.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Giai đoạn 1900 - 1945 trong tiến trình văn học Việt Nam đánh dấu bước chuyển mình từ hệ hình văn học truyền thống sang quỹ đạo hiện đại hóa. Trong đó, giai đoạn 1930 - 1945 diễn ra quá trình hiện đại hóa quyết liệt với sự nở rộ của nhiều khuynh hướng, trào lưu, tác gia và tác phẩm để lại dấu ấn lớn. Tiểu thuyết lãng mạn (TTLM) giai đoạn này giữ vai trò trung tâm với các sáng tác của Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân. Tuy nhiên, sau gần một thế kỷ, chưa có một công trình nào nghiên cứu tập trung, chuyên biệt và mang tính hệ thống về TTLM Việt Nam 1930 - 1945 từ góc nhìn thể loại. Việc tiếp nhận bộ phận văn học này trong lịch sử từng trải qua những đánh giá dang dở và phức tạp. Do đó, việc nghiên cứu TTLM giai đoạn 1930 - 1945 dưới góc nhìn thể loại nhằm tái nhận thức và đánh giá một cách toàn diện, khách quan là yêu cầu cấp thiết của văn học sử và lý luận văn học.

  • Mục tiêu nghiên cứu: Chỉ rõ những đặc điểm về nội dung và hình thức nghệ thuật của TTLM Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 trên phương diện thể loại. Đặt thể loại này trong diễn trình phát triển của tiểu thuyết Việt Nam để khẳng định những cách tân về tư duy nghệ thuật và thi pháp thể loại, qua đó xác định vị trí của TTLM trong nỗ lực hiện đại hóa văn học dân tộc.

  • Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản luận án):

    1. Chỉ ra đặc điểm của TTLM Việt Nam 1930 - 1945 trên cả phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật như đề tài, cốt truyện, kết cấu, xung đột, nhân vật, nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ nghệ thuật; khẳng định những đổi mới trong tư duy và thi pháp thể loại.
    2. Phân tích đặc điểm TTLM Việt Nam 1930 - 1945 từ góc nhìn thể loại trong tương quan so sánh với tiểu thuyết giai đoạn trước đó và tiểu thuyết hiện thực cùng thời nhằm chỉ rõ sự khác biệt và đóng góp trong việc hiện đại hóa thi pháp.
    3. Phân tích đặc điểm TTLM Việt Nam 1930 - 1945 từ góc nhìn thể loại trong tương quan so sánh với tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975 và sau năm 1986, nhằm xác định vai trò nền tảng tạo đà cho sự phát triển của thể loại ở các giai đoạn sau.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: TTLM Việt Nam dưới góc nhìn thể loại (xem xét thể loại tiểu thuyết trong mối quan hệ hữu cơ với khuynh hướng, trào lưu lãng mạn).
    • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 15 năm (1930 - 1945). Tác giả lựa chọn mốc 1930 nhằm đặt TTLM trong tiến trình hiện đại hóa của cả giai đoạn văn học hiện đại (thừa nhận quan điểm của Phan Cự Đệ, Trần Đăng Suyền, Lê Quang Hưng), không bó hẹp trong mốc ra đời trào lưu lãng mạn năm 1932.
    • Phạm vi văn bản khảo sát: Khảo sát các tác phẩm tiêu biểu của các tác gia trụ cột:
      • Khái Hưng: Hồn bướm mơ tiên (1932-1933), Nửa chừng xuân (1934), Gia đình (1936), Trống mái (1936), Tiêu Sơn tráng sĩ (1937), Đẹp (1939-1940), Băn khoăn (1943).
      • Nhất Linh: Đoạn tuyệt (1934), Lạnh lùng (1935), Đôi bạn (1936-1937), Bướm trắng (1939-1940), Nắng thu (1942).
      • Nhất Linh và Khái Hưng: Gánh hàng hoa (1934), Đời mưa gió (1934).
      • Nguyễn Huy Tưởng: Đêm hội Long Trì (1942), An Tư (1943).
      • Nguyễn Tuân: Thiếu quê hương (1940).
    • Giới hạn phạm vi: Luận án không đưa vào phạm vi khảo sát chính các tác phẩm ít tiêu biểu (như Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội của Nguyễn Bính, Ngày mới của Thạch Lam) và không khảo sát mảng tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai (do tiểu thuyết Lan Khai hướng tới mục đích khích lệ lòng yêu nước mang tính hành động xã hội, không tập trung giải phóng cái Tôi cá nhân thoát ly thực tại).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tình hình nghiên cứu văn học lãng mạn trên thế giới

Tác giả điểm lại các khuynh hướng nghiên cứu chủ nghĩa lãng mạn (CNLM) đương đại:

  • Nghiên cứu so sánh CNLM với các trào lưu khác: Michael Peter Bolus (2019) với Classicism and Romanticism (mối quan hệ giữa cổ điển và lãng mạn làm nền tảng cho nghệ thuật hiện đại); Edward Larrissy (1999) với Romanticism And Postmodernism (khẳng định sự tiếp biến từ lãng mạn sang hiện đại và hậu hiện đại); Sylvia Borissova (2023) với Aesthetic Notes on the End of Romanticism (so sánh tính chủ quan).
  • Nghiên cứu CNLM vừa mang tính dân tộc vừa mang tính xuyên quốc gia: Công trình tập thể European Romantic Literature (2024, Nhà xuất bản Đại học Cambridge); Clemens Spahr, Philipp Löffler, Jan Stievermann (2021) với Handbook of American Romanticism.
  • Nghiên cứu dựa trên các khái niệm mới: A. Cristiá (2023) về khái niệm "Thiên tài" (Poetic Genius) qua William Blake, Friedrich Schiller, Friedrich Schlegel; Kirill Chepurin (2021) về "Hạnh phúc lãng mạn" (Romantic Bliss); Lok Raj Sharma (2023) về "Trí tưởng tượng như một động lực" (Imagination as Dynamism).
  • Nghiên cứu thể loại và dịch thuật lý thuyết mới: Mankovskaya Nadezda Borisovna (2024) về Pierre Simon Ballanche; Hoàng Tố Mai (2017) với Di sản văn học lãng mạn - những cách đọc khác (giới thiệu các hướng tiếp cận của E. Clery).

Lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết lãng mạn 1930 - 1945 ở Việt Nam

Luận án khảo sát tiến trình tiếp nhận qua ba giai đoạn lịch sử:

  1. Giai đoạn trước 1945:

    • Trương Chính (1939, Dưới mắt tôi): Đánh giá cao nội dung chống áp chế Khổng giáo và cải tạo xã hội của Đoạn tuyệt, Hồn bướm mơ tiên.
    • Dương Quảng Hàm (1941, Việt Nam văn học sử yếu): Khẳng định công lao làm sáng sủa văn quốc ngữ, phân tích xung đột quan niệm mới và tập tục cũ trong tiểu thuyết luận đề của Nhất Linh.
    • Vũ Ngọc Phan (1942, Nhà văn hiện đại): Khảo sát sự dịch chuyển từ tiểu thuyết phong tục sang tiểu thuyết luận đề và tâm lý của Khái Hưng, Nhất Linh; phân tích tâm lý thanh niên và chủ nghĩa xê dịch của Nguyễn Tuân trong Thiếu quê hương.
    • Khuynh hướng phê phán và tranh luận: Trương Tửu phê phán TTLM dưới góc độ luân lý truyền thống và chê Đêm hội Long Trì ít hành động; cuộc tranh luận năm 1937 giữa Vũ Trọng Phụng và các nhà văn lãng mạn về tính chân thực của văn học.
  2. Giai đoạn 1945 - 1985:

    • Ở miền Bắc: TTLM chủ yếu bị đánh giá qua lăng kính chính trị, lập trường giai cấp và lý thuyết phản ánh hiện thực. Nhóm Lê Quý Đôn (Lược thảo lịch sử VHVN tập III, 1957), Phan Cự Đệ (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, 1974), Vũ Đức Phúc (Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử VHVN hiện đại 1930 - 1954, 1971), Bạch Năng Thi, Nam Mộc, Nguyễn Đức Đàn... phê phán tính chất tư sản, thoát ly, hình tượng "khách chinh phu", dù có ghi nhận đóng góp về mặt ngôn ngữ và kỹ thuật tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng. Hà Minh Đức, Phong Lê ghi nhận giá trị đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng nhưng chỉ ra hạn chế trong việc miêu tả đời sống quần chúng và phê phán giai cấp thống trị.
    • Ở miền Nam: Tiếp nhận đánh giá cao giá trị nghệ thuật, ngôn ngữ và phân tích tâm lý. Tiêu biểu gồm Nguyễn Văn Xung (Bình giảng về Tự lực văn đoàn, 1958), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên tập III, 1960), Doãn Quốc Sĩ (Về Tự lực văn đoàn, 1960), Lê Hữu Mục (Khảo về Đoạn tuyệt, 1960), Thế Phong (Nhà văn tiền chiến 1930 - 1945), cùng các bài viết của Thanh Lãng, Vũ Hạnh, Nguyễn Mạnh Côn, Trương Bảo Sơn...
  3. Giai đoạn từ sau 1986 đến nay:

    • Tổ chức các diễn đàn khoa học nhằm đánh giá lại di sản văn học quá khứ: Hội thảo về Tự lực văn đoàn tại Hà Nội (1987), Đại học Tổng hợp Hà Nội (1989), Hải Dương (2008), Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh (2012), California (2013), Hội thảo Nguyễn Huy Tưởng (2015). Các nhà nghiên cứu như Phong Lê, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ đưa ra cái nhìn khách quan, khoa học hơn.
    • Các công trình chuyên khảo, giáo trình: Nguyễn Hoành Khung (1989), Phan Cự Đệ (1990, 2002), Vu Gia (1995), Lê Thị Dục Tú (1994, 1997), Nguyễn Đăng Mạnh (1999), Vương Trí Nhàn (2000), Đỗ Đức Hiểu (2000), Tôn Thảo Miên (2003), Hữu Nhuận (2006), Ngô Văn Thư (2006), Hà Minh Đức (2007), Phong Lê (2009), Trần Đăng Suyền (2012), Trần Hoài Anh (2013), Trần Hữu Tá - Nguyễn Thành Thi - Đoàn Lê Giang (2013), Thao Nguyễn (2013), Nguyễn Đăng Điệp (2016), Hoàng Tố Mai (2017), Bích Thu và Tôn Thảo Miên (Nguyễn Huy Tưởng - về tác gia và tác phẩm, Nguyễn Huy Tưởng - khát vọng một đời văn)...
    • Các hướng tiếp cận chuyên sâu: Thi pháp học (Đỗ Đức Hiểu, Lê Thị Dục Tú), phê bình giới và nữ quyền (Trần Văn Toàn, Đoàn Ánh Dương, Nguyễn Minh Huệ, Vũ Thị Thanh Loan, Đào Thị Hải Thanh), cùng nhiều luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ (Hà Văn Đức, Trịnh Hồ Khoa, Vũ Thị Khánh Dần, Tào Văn Ân, Dương Thị Hương, Nguyễn Hồng Trang, Cao Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Tuyến, Lê Thị Hiền, Thành Đức Bảo Thắng, Khúc Thị Hoa Phượng, Phạm Thị Thu Hà, Đỗ Hồng Đức, Vũ Thị Đào...).
  • Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu tản mạn về từng tác giả, tác phẩm riêng lẻ, hoặc tập trung vào văn xuôi Tự lực văn đoàn dưới góc độ văn học sử, xã hội học. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Nghiên cứu một cách tập trung, toàn diện và có hệ thống toàn bộ hiện tượng TTLM Việt Nam 1930 - 1945 dưới góc nhìn thể loại (bao quát cả Tự lực văn đoàn, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân trên các phương diện thi pháp thể loại).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm

  • Lý thuyết thể loại tiểu thuyết:
    • Vận dụng lý thuyết của M. Bakhtin (Lý luận và thi pháp tiểu thuyết): Bản chất tiểu thuyết là thể loại đang biến chuyển, chưa hoàn kết; ba đặc điểm cơ bản (tính ba chiều gắn liền ý thức đa ngữ; sự thay đổi tọa độ thời gian; khu vực tiếp xúc tối đa với hiện tại đang sinh thành); khả năng đa thanh và dung hợp các thể loại khác.
    • Quan niệm của Milan Kundera: Tinh thần tiểu thuyết là "hiền minh của lưỡng lự", sự phức tạp của tồn tại và hành trình khám phá "bí ẩn của cái tôi" bị lãng quên.
    • Quan niệm về đặc trưng thể loại theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên): Cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư; chất văn xuôi; nhân vật là "con người nếm trải", tư duy, dằn vặt; miêu tả suy tư và phân tích tâm lý; tiếp cận hiện thực đương thời; khả năng tổng hợp các loại hình nghệ thuật.
  • Lý thuyết về Chủ nghĩa lãng mạn: Nguyên tắc sáng tạo CNLM (theo Từ điển thuật ngữ văn học): Khẳng định cái tôi cá nhân tự do, cô đơn xung đột với môi trường; vai trò của trực giác và vô thức; đề cao cá tính sáng tạo cải biến thực tại, phủ định quy phạm mực thước cổ điển; đề cao tính lịch sử và tính dân tộc.
  • Khung phân tích đối sánh thi pháp trung đại và hiện đại: Luận án sử dụng bảng đối sánh các bình diện thi pháp của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp (Một số vấn đề VHVN hiện đại):
Bình diện thi pháp Thi pháp văn học trung đại Thi pháp văn học hiện đại
Quan niệm nghệ thuật Đề cao mục đích giáo huấn Đề cao tiếng nói cá nhân
Tư duy nghệ thuật Sáng tạo trên cơ sở những quy phạm, những nguyên tắc đã được xác lập Sáng tạo trên cơ sở phiêu lưu của trí tưởng tượng cá nhân
Sự thể hiện con người văn học Giấu kín cá nhân, con người là con người vũ trụ Con người cá nhân, cá tính được bộc lộ
Ngôn ngữ Nguyên tắc định sẵn, ước lệ, nhiều điển tích điển cố Gần gũi với ngôn ngữ đời sống, giàu cá tính

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu văn học theo đặc trưng thể loại: Vận dụng xuyên suốt nhằm phân tích đặc điểm nội dung và hình thức nghệ thuật của thể loại tiểu thuyết.
  • Phương pháp nghiên cứu loại hình: Phân loại các loại hình sáng tác, tiểu loại tiểu thuyết (tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết luận đề).
  • Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Xem xét tác phẩm, tác gia, thể tài trong chỉnh thể cấu trúc có mối liên hệ hữu cơ, gắn với tiến trình văn học.
  • Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Vận dụng thi pháp thể loại và thi pháp CNLM để xác định mối quan hệ giữa quan niệm nghệ thuật và hình thức biểu hiện.
  • Phương pháp so sánh: So sánh đồng đại (giữa TTLM với tiểu thuyết hiện thực cùng thời) và lịch đại (với tiểu thuyết trung đại, đầu thế kỷ XX và văn học giai đoạn sau 1945, sau 1986).

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Khảo sát trực tiếp văn bản các tác phẩm tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân được xuất bản trong giai đoạn 1930 - 1945, kết hợp hệ thống văn bản lý luận, công trình phê bình, văn học sử, kỷ yếu hội thảo khoa học và các luận án tiến sĩ liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

  • Phân tích nguồn gốc, bản chất của CNLM phương Tây và tiền đề lịch sử - văn hóa đưa đến sự xuất hiện của trào lưu lãng mạn trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.
  • Làm rõ các đặc trưng bản chất của thể loại tiểu thuyết dựa trên hệ thống lý thuyết của M. Bakhtin, Milan Kundera, Trần Đình Sử, Lê Bá Hán.
  • Khái quát diện mạo TTLM Việt Nam 1930 - 1945 và đóng góp của nhóm Tự lực văn đoàn cùng các tác gia đương thời.
  • Tổng kết toàn diện tình hình nghiên cứu VHLM trên thế giới và lịch sử nghiên cứu TTLM ở Việt Nam qua ba chặng đường: trước 1945, giai đoạn 1945 - 1985 (ở miền Bắc và miền Nam), và giai đoạn từ sau 1986 đến nay.

Chương 2. Sự xuất hiện và các chặng đường phát triển của tiểu thuyết lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945

  • Phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX tác động đến đời sống văn học (quá trình đô thị hóa, sự hình thành tầng lớp trí thức Tây học và nhu cầu khẳng định ý thức cá nhân).
  • Đánh giá sự tiếp nhận và ảnh hưởng từ hai nguồn văn hóa - văn học ngoại sinh: văn hóa - văn học truyền thống Trung Quốc và văn hóa - văn học phương Tây (chủ yếu là văn học Pháp).
  • Trình bày quá trình vận động nội tại từ những mầm mống đầu thế kỷ XX đến sự ra đời chính thức và các chặng đường phát triển của TTLM Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 trong tiến trình hiện đại hóa.

Chương 3. Đề tài, cốt truyện, kết cấu và các kiểu xung đột nghệ thuật trong tiểu thuyết lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945

  • Đề tài: Khảo sát ba nhánh đề tài chủ yếu:
    • Đề tài tình yêu: Đấu tranh cho quyền tự do yêu đương, giải phóng tình cảm cá nhân khỏi ràng buộc luân lý phong kiến.
    • Đề tài lịch sử: Khai thác lịch sử qua lăng kính số phận cá nhân, bi kịch tình cảm và tinh thần dân tộc (như trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng, Khái Hưng).
    • Đề tài xê dịch: Thể hiện khát vọng tự do, phiêu lưu, tìm kiếm cảm giác mới và khẳng định cá tính bản ngã (tiêu biểu ở Nguyễn Tuân).
  • Cốt truyện: Phân tích sự dịch chuyển từ cốt truyện sự kiện (chú trọng chuỗi biến cố bên ngoài) sang cốt truyện tâm lý (tập trung vào diễn biến cảm xúc, cảm giác và tâm trạng bên trong).
  • Kết cấu: Phân tích các mô hình tổ chức tác phẩm hiện đại gồm kết cấu lồng ghép và kết cấu đa tầng bậc, phá vỡ trật tự biên niên và mô hình chương hồi truyền thống.
  • Xung đột nghệ thuật: Chỉ ra hai kiểu xung đột trung tâm:
    • Xung đột giữa con người cá nhân với hoàn cảnh: Mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng cá nhân với định kiến, gia đình và luân lý phong kiến.
    • Xung đột nội tâm: Sự giằng xé bên trong nhân vật giữa lý trí và tình cảm, giữa bổn phận đạo đức truyền thống và dục vọng tự do cá nhân.

Chương 4. Thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật của tiểu thuyết lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945

  • Thế giới nhân vật: Khảo sát ba hệ thống hình tượng nhân vật cốt lõi:
    • Hình tượng đại diện cho luân lý đạo đức phong kiến: Các nhân vật bà mẹ chồng, người chủ gia đình gia trưởng bảo thủ, cổ hủ.
    • Hình tượng người phụ nữ mới: Những cá nhân thức tỉnh ý thức nữ quyền, khát khao tự do và dám đoạn tuyệt với khuôn phép cũ (Loan, Mai, Nhung...).
    • Hình tượng người khách chinh phu: Con người lãng tử, mang lý tưởng hành động, cải tạo xã hội hoặc dấn thân trên các nẻo đường phiêu du.
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
    • Miêu tả trực tiếp vẻ đẹp hình thể bằng bút pháp tạo hình mang tính hội họa hiện đại.
    • Miêu tả tâm lý nhân vật thông qua hình thức lồng ghép thư tín, trang nhật ký.
    • Khắc họa chiều sâu nội tâm qua đối thoại và độc thoại nội tâm.

Chương 5. Nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết lãng mạn 1930 – 1945

  • Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật:
    • Người kể chuyện ngôi thứ ba với điểm nhìn tác giả.
    • Người kể chuyện ngôi thứ nhất với điểm nhìn bên trong mang đậm tính chủ quan.
    • Kỹ thuật di chuyển ngôi kể và điểm nhìn trần thuật linh hoạt nhằm thâm nhập vào các tầng sâu ý thức nhân vật.
  • Giọng điệu trần thuật:
    • Giọng điệu mang đậm sắc thái trữ tình và suy tư triết lý.
    • Giọng điệu giễu nhại, châm biếm, mỉa mai đối với tàn tích phong kiến hủ bại.
  • Ngôn ngữ nghệ thuật:
    • Tính đối thoại trong ngôn ngữ tiểu thuyết.
    • Ngôn ngữ văn xuôi giản dị, tinh tế, giàu sức biểu cảm, thoát ly hoàn toàn khỏi tính chất biền ngẫu, ước lệ của ngôn ngữ trung đại theo đúng tôn chỉ xây dựng câu văn tiếng Việt hiện đại.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
    • Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt, toàn diện và có hệ thống đầu tiên về TTLM Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 dưới góc nhìn thể loại.
    • Làm sáng tỏ các bình diện thi pháp thể loại của TTLM từ đề tài, cốt truyện, kết cấu, nhân vật, xung đột đến nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ nghệ thuật.
  • Đóng góp về mặt lịch sử văn học:
    • Đặt TTLM vào tiến trình phát triển thể loại để khẳng định những cách tân căn bản trong tư duy nghệ thuật, xác lập bước chuyển hoàn tất từ mô hình văn học truyền thống trung đại sang mô hình hiện đại.
    • Khẳng định giá trị nền tảng của TTLM 1930 - 1945 trong việc tạo tiền đề cho sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam các giai đoạn sau 1945 và sau 1986.
  • Kiến nghị và ứng dụng thực tiễn: Cung cấp nguồn tư liệu khoa học có độ tin cậy cao, phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy học phần Văn học Việt Nam và Lý luận văn học tại các trường đại học, viện nghiên cứu và các cơ sở giáo dục phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế xác định từ phạm vi nghiên cứu: Do hiện tượng giao thoa thẩm mỹ phức tạp giữa chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực và các yếu tố hiện đại chủ nghĩa, luận án chỉ tập trung vào các tác giả và tác phẩm tiêu biểu nhất (Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân); chưa thể bao quát toàn bộ các sáng tác ngoại vi hoặc các tác giả có cảm hứng lãng mạn nhưng thiên về khuynh hướng hành động xã hội (như Lan Khai).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng việc khảo sát đối sánh liên giai đoạn giữa TTLM 1930 - 1945 với tiểu thuyết thời kỳ 1945 - 1975 và tiểu thuyết đương đại sau 1986; ứng dụng các lý thuyết tự sự học, thi pháp học hiện đại để tiếp tục phân tích sự tiếp biến của các yếu tố hiện đại chủ nghĩa trong tiểu thuyết giai đoạn cuối trào.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Luận án cung cấp khung thao tác phân tích thể loại tiểu thuyết chặt chẽ, cùng hệ thống tư liệu lịch sử tiếp nhận văn học lãng mạn phong phú qua ba giai đoạn lịch sử (trước 1945, 1945 - 1985, sau 1986).
  • Đối với giảng viên và giáo viên Ngữ văn: Phần phân tích thi pháp cụ thể tại các chương 3, 4, 5 (về kết cấu, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ, nghệ thuật xây dựng nhân vật người phụ nữ mới, nhân vật phong kiến) là tài liệu tham khảo trực tiếp phục vụ giảng dạy các tác phẩm của Tự lực văn đoàn, Nguyễn Tuân và Nguyễn Huy Tưởng trong chương trình phổ thông và đại học.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao tác giả luận án lựa chọn mốc thời gian bắt đầu là năm 1930 thay vì mốc 1932? Trả lời: Năm 1932 gắn liền với sự xuất hiện của Hồn bướm mơ tiên và phong trào Thơ mới (được xem là năm ra đời của trào lưu lãng mạn). Tuy nhiên, tác giả chọn mốc 1930 vì đây là mốc phân kỳ của giai đoạn văn học hiện đại Việt Nam (được nhiều nhà nghiên cứu như Phan Cự Đệ, Trần Đăng Suyền, Lê Quang Hưng thừa nhận). Tác giả muốn đặt TTLM trong toàn bộ tiến trình hiện đại hóa của cả giai đoạn văn học 1930 - 1945 thay vì chỉ đóng khung trong trào lưu lãng mạn đơn thuần.

  2. Tại sao tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai không được đưa vào diện khảo sát chính của luận án? Trả lời: Dù tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai có cảm hứng lãng mạn, nhưng tác phẩm của ông không nhằm thoát ly thực tế để tuyệt đối hóa cái Tôi cá nhân hay tìm kiếm tình yêu hưởng thụ như Tự lực văn đoàn. Đích đến chủ yếu của Lan Khai là khích lệ lòng yêu nước và ý thức "dân ta phải biết sử ta" của cả cộng đồng, do đó không phù hợp với tiêu chí khảo sát về nguyên tắc sáng tạo TTLM của luận án.

  3. Theo luận án, sự khác biệt căn bản giữa thi pháp văn học trung đại và hiện đại thể hiện ở những điểm nào? Trả lời: Dựa trên khung lý thuyết của Nguyễn Đăng Điệp, sự khác biệt thể hiện ở bốn bình diện: (1) Quan niệm nghệ thuật chuyển từ giáo huấn sang đề cao tiếng nói cá nhân; (2) Tư duy nghệ thuật chuyển từ quy phạm định sẵn sang sự phiêu lưu của trí tưởng tượng; (3) Con người văn học chuyển từ con người vũ trụ giấu kín cá nhân sang con người cá nhân bộc lộ cá tính; (4) Ngôn ngữ chuyển từ ước lệ, điển tích sang ngôn ngữ đời sống giàu cá tính.

  4. Lịch sử tiếp nhận TTLM 1930 - 1945 ở miền Bắc và miền Nam giai đoạn 1954 - 1985 có sự khác biệt như thế nào? Trả lời: Ở miền Bắc, TTLM bị soi chiếu khắt khe qua lăng kính chính trị, lập trường giai cấp và lý thuyết phản ánh hiện thực, dẫn đến nhiều đánh giá phê phán tính chất tư sản, thoát ly, tiêu cực. Ngược lại, ở miền Nam, các nhà nghiên cứu (Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Văn Xung, Doãn Quốc Sĩ...) đánh giá cao đóng góp của TTLM trong việc đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết, phân tích tâm lý tinh tế và xây dựng ngôn ngữ văn xuôi quốc ngữ trong sáng.

  5. Tôn chỉ của nhóm Tự lực văn đoàn đã tác động như thế nào đến sự đổi mới ngôn ngữ tiểu thuyết? Trả lời: Nhóm chủ trương dùng lối văn giản dị, dễ hiểu, ít dùng chữ Nho, mang tính cách An Nam để thay thế cho lối câu văn biền ngẫu, ước lệ thời trung đại. Tôn chỉ này giúp ngôn ngữ tiểu thuyết trở nên trong sáng, tinh tế, giàu nhạc điệu, có khả năng diễn đạt chính xác những rung động cảm giác và chiều sâu tâm lý phức tạp của con người hiện đại.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Thiểm là công trình nghiên cứu hệ thống về tiểu thuyết lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 dưới giác độ thể loại học. Công trình đã khảo sát toàn diện các bình diện thi pháp từ đề tài, kết cấu, nhân vật, xung đột đến nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ của các tác gia trụ cột như Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân. Bằng việc tổng hợp lý luận thể loại hiện đại và lịch sử tiếp nhận qua nhiều thời kỳ, luận án khẳng định vai trò then chốt của tiểu thuyết lãng mạn trong việc hoàn tất bước chuyển hiện đại hóa của nền văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.