Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHẠM THÁI 1. Bối cảnh thời đại Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XV, chế độ phong kiến Việt Nam vẫn còn trong thời thịnh. Từ thế kỷ XVI, nó suy vi, xã hội đã trở nên bất ổn. Đến giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, nhiều mâu thuẫn trở nên gay gắt, xã hội Việt Nam trở nên rối ren, chiến tranh loạn lạc chưa từng có trong lịch sử trước đó.
Đó là mâu thuẫn giữa các tập đoàn phong kiến với nhau như vua Lê – chúa Trịnh và nhà Nguyễn. Trong thế kỷ XVIII, nước Đại Việt nằm dưới quyền cai trị tượng trưng của vua Lê, có danh mà không có quyền hành chính trị. Quyền lực thực sự nằm trong tay hai gia đình phong kiến, các chúa Trịnh ở phía Bắc kiểm soát nhà vua và điều khiển triều đình ở Thăng Long và các chúa Nguyễn ở phía Nam đóng đô tại thành Phú Xuân (Huế), chia đất nước thành Đàng Ngoài và Đàng Trong. Mặt khác, xã hội giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX còn có mâu thuẫn giữa các tập đoàn phong kiến và phong trào nông dân cụ thể là vua Lê – chúa Trịnh, nhà Nguyễn và phong trào nông dân.
Phong trào nông dân tiêu biểu và đạt được thành tựu to lớn nhất là phong trào Tây Sơn. Chính vì vậy, “thế kỷ XVIII được giới sử học mệnh danh là thế kỷ của chiến tranh nông dân” [166, tr. Từ khi Trịnh Giang lên nắm quyền (năm1729) phong trào khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài liên tiếp xảy ra. Nhưng đa số lãnh tụ cuộc khởi nghĩa xuất sắc đương thời chủ yếu là nông dân ở vùng đồng bằng Bắc Bộ như: Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh…và nổi bật hơn nữa là Nguyễn Danh Phương (1741 - 1751), Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751), Hoàng Công Chất (1739 – 1769), Lê Duy Mật (1738 - 1770) … Ở Đàng Trong, vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, nổ ra cuộc khởi nghĩa của Chàng Lía vùng Quy Nhơn.
Nhưng đỉnh cao chói lọi nhất của chiến tranh nông dân thế kỷ XVIII là phong trào Tây Sơn của ba anh em Nguyễn Huệ (1771 - 1801) xuất phát từ Bình Định đã nhanh chóng phá tan chế độ mục nát vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và lật đổ chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong. Đến khi Nguyễn Ánh giành được ngôi báu (1802) thì các cuộc khởi nghĩa cũng vẫn tiếp tục nổ ra. Như vậy, rõ ràng nguyên nhân chính là do tình trạng nông dân bị áp bức. Trong bốn đời vua từ Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức đã có 500 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ chống lại triều đình.
Trong đó, có 50 cuộc diễn ra dưới thời Gia Long. Ban đầu là các cuộc khởi nghĩa của Tống Cả và Nguyễn Trọng Phan (1807) (Hải Dương), Hầu Tạo (Nghệ Tĩnh) …rồi đến Lê Văn Khôi (1833 - 1835), Lê Duy Lương (1831 - 1834), Nùng Văn Vân (1833 - 1835), Phan Bá Vành (1824 - 1827), Cao Bá Quát (năm 1854)… Hơn thế nữa, đó còn là mâu thuẫn tranh đoạt quyền lực trong nội bộ của các tập đoàn phong kiến. Trong nội bộ vua Lê – chúa Trịnh cũng xảy ra nhiều cuộc thanh trừng đẫm máu lẫn nhau giữa anh em nhà chúa (Trịnh Lệ và Trịnh Sâm (1767) Trịnh Khải và Trịnh Cán (1782)), giữa chúa và vua (Lê Đế Duy Phường (1729 - 1732)… bị chúa Trịnh giết [166, tr.66]), giữa kiêu binh với quần thần vua Lê chúa Trịnh. Trong triều Tây Sơn, anh em Nguyễn Huệ - Nguyễn Nhạc, bác cháu Nguyễn Nhạc - Quang Toản bất hoà, lục đục.
Sự xung đột, tranh quyền nghiêm trọng của hàng ngũ quan lại, tướng lĩnh Tây Sơn (Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở (1795)…) Trong triều Nguyễn, cũng xảy ra việc giết công thần (Đỗ Thành Nhơn, Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường…). Không chỉ có các mâu thuẫn trên, thời kỳ này còn xảy ra mâu thuẫn dân tộc gay gắt như phong trào Tây Sơn và quân Thanh, quân Xiêm La (nay là Thái Lan), Vạn Tượng (vương quốc của người Lào, được thành lập từ thế kỷ XIV, cố đô là Luang Prabang); nhà Nguyễn và Chân Lạp… Người anh hùng “áo vải cờ đào” Nguyễn Huệ đã quét sạch “29 vạn quân” [166, tr.53] Thanh do Lê Chiêu Thống rước vào miền Bắc, trên 2 vạn quân Xiêm La do Nguyễn Ánh rước vào miền Nam. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổi lên quyết tâm theo đuổi mục tiêu công bằng kinh tế và xã hội và vì một đất nước thống nhất không bị ngoại bang can thiệp đồng thời góp phần làm rạng rỡ truyền thống ngoan cường của cả dân tộc ta. Như vậy, chỉ trong vài năm đã thay đổi đến năm bảy đời vua, trong vòng hai mươi năm đã có biết bao thăng trầm, hưng phế chớp nhoáng của bao nhiêu triều đại, vọng tộc, thôn xóm, thị thành, thân phận con người.
Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX là giai đoạn mà con đường chính trị của các tầng lớp nho sĩ có sự phân hoá chưa từng có trong lịch sử trung đại Việt Nam. Họ phải đắn đo lựa chọn xem theo Tây Sơn hay trung thành với vua Lê - chúa Trịnh, chúa Nguyễn. Đến khi Nguyễn Ánh thắng lợi lại một lần nữa họ phải lựa chọn con đường chính trị cho riêng mình. Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, nước ta có những mối quan hệ ngoại giao rộng rãi và đa dạng hơn các giai đoạn trước.
Thời vua Lê - chúa Trịnh, các chúa Trịnh giữ quan hệ hòa bình hữu hảo với các nước láng giềng. Ngay từ trước khi giao chiến với quân Thanh, Quang Trung đã tính đến chiến lược ngoại giao với nhà Thanh. Theo phương lược vạch sẵn, với tài ngoại giao khéo léo của Ngô Thì Nhậm, ngay sau chiến thắng Kỷ Dậu, Tây Sơn nhanh chóng bình thường hóa bang giao với nhà Thanh. Năm 1789, Quang Trung sai cháu sang dâng biểu cầu phong.
Cuối năm ấy, sứ bộ nhà Thanh sang làm lễ tấn phong cho vua Quang Trung nhưng vua chỉ cho người đóng giả mình nhận chiếu thư và sắc phong. Đầu năm sau, vua Quang Trung cũng không chịu sang mừng thọ Càn Long 80 tuổi mà để người đóng giả sang. Nhà Thanh thừa biết sự dối trá này nhưng đón tiếp vị giả Vương hết sức trọng thể khiến cho Phan Huy Ích, một thành viên trong phái đoàn kể lại thì từ trước tới giờ mình đi sứ Trung Quốc chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế. Lịch sử ghi nhận những trang sử ngoại giao hào hùng, chói lọi của triều Tây Sơn trong bang giao với triều Mãn Thanh Trung Quốc.
Sau khi thua nước ta, vua nhà Thanh định động binh chín tỉnh, trù tính báo thù. Với “Bang giao hảo thoại”, qua ngòi bút sắc bén, vừa đanh thép kiên quyết nêu cao chính nghĩa vừa khéo léo, mềm mỏng hợp tình hợp lý, Ngô Thì Nhậm đã thể hiện xuất sắc thiên tài chính trị của vua Quang Trung. Tư tưởng ngoại giao của vương triều Tây Sơn là chủ động tiến công ngoại giao và tư tưởng ngoại giao dựa trên cơ sở chính nghĩa và sức mạnh quân sự. Với đường lối ngoại giao đúng đắn trên làm cho nhà Thanh phải quyết định đình chỉ việc trả thù, tiếp nhận sứ thần Việt Nam mà còn buộc phải ra lệnh bãi bỏ lệ cống người vàng với lời phê rằng việc triều trước bắt cống người vàng là đáng khinh bỉ.
Không những vậy, giữa năm 1792, Quang Trung đã gửi thư đến Càn Long cầu hôn công chúa Thanh triều và "xin" hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Vua nhà Thanh đã chuẩn y. Vua Quang Trung còn có ý tấn công nhà Thanh nhằm vẽ lại bản đồ Việt - Hoa. Nhưng chưa thực hiện được, Quang Trung đã đột ngột qua đời.
Đối với nước Vạn Tượng, mối quan hệ bang giao có phần căng thẳng hơn. “Ở Gia Định, Nguyễn Ánh lại một lần nữa liên kết với Xiêm La và nhờ Xiêm La sử dụng Vạn Tượng để đánh vào Nghệ An” [166, tr. Trước tình hình đó, tháng 6 năm 1791, vua Quang Trung phải cử Trần Quang Diệu “đánh thẳng vào Viên Chăn, truy đuổi Vạn Tượng và bè lũ đến tận biên giới Xiêm La rồi mới rút về. Từ đó, biên giới phía tây mới được yên ổn.
Về phía nhà Nguyễn, sau khi lấy được Bắc Hà năm 1802, vua Gia Long cầu phong nhà Thanh, được tấn phong là Việt Nam quốc vương, ấn định thể lệ tiến cống hai năm một lần và cứ bốn năm một lần Việt Nam sẽ phái sứ bộ sang làm lễ triều kính. Tháng 8 năm 1809, sứ đoàn Việt Nam sang mừng thọ vua Gia Khánh 50 tuổi. Việc giao thiệp giữa Gia Long và nhà Thanh được êm đẹp. Vua Minh Mạng (1820 – 1840) đặc biệt chú ý thần phục nhà Thanh.
Nhà vua dẫn đoàn tuỳ tùng gồm khoảng gần 7000 người rời Phú Xuân ra Thăng Long để nhận sắc phong của “thiên triều”. Hành trình kéo dài 33 ngày đêm. Thủ tục đón tiếp và chiêu đãi sứ Thanh diễn ra hết sức chu đáo và long trọng, tốn kém. Như vậy, so với triều Tây Sơn thì trong bang giao với Trung Quốc, nhà Nguyễn đã có một bước lùi đáng kể.
Với Xiêm La, dù có xung đột nhưng việc giao thiệp của triều Gia Long vẫn thuận lợi. Từ năm 1802, trở đi hai bên vẫn có sự sứ bộ qua lại trao đổi thân thiện và tặng phẩm. Tuy vậy, Xiêm La vẫn bí mật giúp người Chân Lạp nổi lên chống lại nước ta. Về phía Ai Lao (tiểu quốc Nam Lào), quốc vương nước này xin thần phục cả Việt lẫn Xiêm La.
Thời vua Minh Mạng, nhiều xứ ở Ai Lao xin thuộc quyền bảo hộ của Việt Nam. Các vùng nay là Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam Môn và Savannakhet giáp với các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, đều xin làm nội thuộc và trở thành các châu, phủ của Việt Nam. Đối với Chân Lạp, các đời chúa Nguyễn đã có công trong việc mở mang bờ cõi. Về kinh tế, nếu như trong các thế kỷ XVI - XVII và đầu XVIII, ngoại trừ những năm ác chiến với họ Trịnh, do xã hội tương đối ổn định lại có đất đai màu mỡ, được khai khẩn nhiều (các chúa Nguyễn coi trọng chính sách khẩn hoang) nhất là ở phương nam mà nền kinh tế nông nghiệp ở Đàng Trong nói riêng và cả nước nói chung khá phát triển thì đến giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, nông nghiệp rơi vào tình trạng trì trệ, đất bỏ hoang tăng mạnh như trong Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ ghi nhận.
Trong nhân dân, các nghề thủ công truyền thống tiếp tục phát triển và trở nên phổ biến rộng khắp ở nhiều làng xã.