Chương 1: TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Bồi cảnh ra đời của Hàn Thuyên chính là nguyên nhân dẫn đến sự phức tạp của nhóm, và cũng là lý do thôi thúc chúng tôi có gắng khôi phục lại điện mạo của Han Thuyên trên văn đàn. Về chính trị, những năm 1940 — 1945 được xem là giai đoạn đặc biệt “đêm trước của cuộc cách mạng” với nhiều sự kiện xảy ra, nhiều tổ chức ra đời và phát triển. Đó cũng chính là tiền đề hình thành nhiều nhóm phái, khuynh hướng văn học khác nhau lúc bấy giờ. Han Thuyền vừa tồn tại như một nhóm tư tưởng, cũng vừa hoạt động như một nhà xuất bản.
Trên co sở thu thập các nguồn tác phẩm được lưu giữ, đồng thời tổng hop những nghiên cứu đã công bố, chúng tôi cố gắng hoàn thiện phần nào bức tranh về Hàn Thuyên bằng những số liệu trực quan và đánh giá khách quan. Bối cảnh ra đời nhóm Hàn Thuyên 1. Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá Việt Nam những năm 1940 đến trước Cách mang thang Tam -Tinh hình chién tranh thé giới va ảnh hưởng đến Đông Dương Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ở châu Au, quân đội phát xít Đức tấn công nước Pháp, Chính phủ phản động Pháp đầu hàng, làm tay sai cho Đức (tháng 6-1940).
Ở Viễn Đông, quân đội phát xit Nhật tiến sát biên giới Việt-Trung. Thực dân Pháp lo sợ cả ngọn lửa cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Đông Dương lẫn sự đe doạ của phát xít Nhật. Ngoài chính sách kiểm duyệt và đàn áp sách báo tiến bộ, Pháp còn thi hành chính sách ngu dân. Không những thế, chúng cũng “thò bàn tay nham hiểm năm mấy phong trào văn hoá có xu hướng cải lương tư sản (phong trào Âu hoá, “vui vẻ trẻ trung”, hội Ánh sáng, hội Hướng đạo.) và những hoạt động tôn giáo nhằm ru ngủ và đánh lạc hướng thanh niên” [27, tr.
Tiếp đó, mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đặt chân đến Đông Dương. Chính quyền Pháp đã quỳ gối đầu hàng, mở cửa hợp tác. Từ đó, đất nước ta cùng lúc phải chịu hai tầng áp bức của thực dân lẫn phát xít. Chính sách bóc lột kinh tế, áp bức chính trị của Pháp - Nhật đã gây hậu quả nghiêm trọng đến nền kinh tế đất nước và mọi mặt của đời sống, trực tiếp làm hai triệu đồng bao miền Bắc chết đói năm 1945.
Về quân sự và chính trị, chúng chia mũi nhọn trước hết vào Đảng Cộng sản (DCS) và phong trào cách mạng. Cuộc khủng bố trắng có quy mô toàn quốc đầu những năm 1930 đã gây ra không khí hoang mang, lo sợ trong tầng lớp thanh niên trí thức thành thị [27, tr. Đông dương tạp chí, Đông Pháp thời báo ra sức tuyên truyền cho nền văn minh vào bậc nhất thế giới của đất nước Phù Tang. Văn kiện Đảng tập 7 đã chỉ rõ hoàn cảnh lúc bấy giờ “Nhật mua chuộc một số quan cai trị Pháp như loại Grandjean và quan bản xứ như loại Phạm Quỳnh, tuyển một số đảng viên hủ bại của Việt Nam quốc dân Đảng, của phong trao văn than” [109, tr.
Tình hình chính trị khó khăn đã ảnh hưởng không nhỏ đến mặt trận văn hoá và các hoạt động xã hội. ¬Sự lãnh đạo của Dang Cộng San Từ 1930, dưới sự lãnh đạo của DCS Đông Dương, phong trào công nhân và các phong trào yêu nước khác ngày một dâng cao, trở thành những cú đánh liên tiếp vào thực dân, phat xit và bè lũ tay sai. Tháng 4/1931, DCS Đông Dương được công nhận là một chi bộ độc lập của Quốc tế cộng san’, Trên thế giới, Quốc tế cộng sản và chủ nghĩa Mác chi phối đến nhiều tổ chức của Đảng ở các nước, và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác — Lênin được khang định ở Việt Nam thông qua sự kết hợp nhuan nhuyễn, biện chứng giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Năm 1937, DCS thành ' Quốc tế cộng sản: một chính Đảng duy nhất của vô sản giai cấp và dân tộc thế giới gồm ngót 70 DCS lãnh đạo cho vô sản giai cap và dân tộc bị áp bức đấu tranh chồng phát xít chủ nghĩa và dé quốc chiến tranh. lập Mặt trận nhân dân phản dé Đông Dương, sau đổi thành Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương, rồi gol tắt là Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Sự thành lập này sát cánh cùng Đảng đưa ra khẩu hiệu chống phát xít và chiến tranh, đòi ấm no, tự do, dân chủ và hoà bình, tìm các hình thức tuyên truyền tập hợp quan chúng, trong đó có việc ra các tờ báo công khai, như tờ Dán chúng. Các tờ báo này có nhiệm vụ tuyên truyền cho đường lối chính sách của Đảng, chiến lược, sách lược của Mặt trận dân chủ Đông Dương, đồng thời tổ chức các hội nghị báo chí, thành lập Hội truyền bá quốc ngữ dé dạy chữ Quốc ngữ.
-Không khí chính trị, văn hoá trước Cách mạng Trong thời kì này, công tác văn hoá văn nghệ được chú trọng, điều đó được đánh dấu băng sự ra đời của Đề cương văn hoá Việt Nam (1943) và sự ra đời của tổ chức Văn hoá cứu quốc. Tờ Tiên phong chính là cơ quan ngôn luận của tổ chức đó. Đề cương văn hoá có thê coi là tuyên ngôn, cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá, định hướng cho nhận thức và hoạt động văn hoá văn nghệ của Đảng và nhân dân. Đề cương văn hoá đặc biệt chú trọng phương châm “dân tộc hoá, đại chúng hoá, khoa học hoá” trong xây dựng phát triển văn hoá.
Phong trào văn nghệ cách mạng cùng từ đây phát triển ngay trong dân chúng, trở thành một hiện tượng đi cùng với cách mạng. Có thể thấy, những năm 1930 — 1945 là thời kì của đấu tranh dân tộc và giai cấp, từ đó dẫn đến cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng và ý thức hệ, xuất hiện các khuynh hướng tư tưởng hay phương pháp sáng tác khác nhau. Những tiền đề ấy tất yếu dẫn đến những cuộc đấu tranh của các hình thái ý thức trong kiến trúc thượng tầng. Theo Phan Cự Đệ lý giải, “Hệ tư tưởng tư sản (cả tư tưởng thực dân) cau kết với tư tưởng phong kiến lỗi thời.
Đấu tranh chống lại những hệ tư tưởng thống trị đó là hệ tư tưởng vô sản và những khát vọng dân tộc dân chủ và xã hội chủ nghĩa của các tâng lớp nông dân, tiêu tư 10 sản thành thị yêu nước” [27, tr. Trong lĩnh vực văn học, đó là sự tác động qua lại giữa các nền văn học cách mạng, văn học hiện thực phê phán, văn học lãng mạn tiến bộ, văn học lãng mạn tiêu cực, trộn lẫn với các khuynh hướng văn học suy đôi khác. Và Han Thuyén, một tổ chức tư tưởng biệt lập, một nhà xuất bản, một nhóm văn hoá văn học hoạt động sôi nồi nhưng lại chưa được đánh giá rõ ràng cũng bởi sự tồn tại của những khuynh hướng văn học phức tạp như vậy. -Cuộc đấu tranh chỗng lại các nhóm Mác xit’, phi Mác xít Chủ nghĩa Mác hay Mác xít là một phạm trù rộng với nhiều ý nghĩa nội hàm liên quan đến nhiều lĩnh vực như: chính trị, triết học, xã hội học, kinh tế học, phương pháp phê bình nghiên cứu.
Trong phạm vi tìm hiểu của luận án, chúng tôi xin phép chỉ đề cập đến những phạm trù liên quan của chủ nghĩa Mac với Nhà xuất ban Han Tihuyén va mot số cá nhân nỗi bat. Các nhà phê bình cho răng: Chủ nghĩa Marx hay Mác-xít là hệ thong học thuyết triết học, lịch sử và kinh tế chính trị dựa trên các tác phẩm của Karl Marx (1818 — 1883) va Friedrich Engels (1820 — 1895). Thuật ngữ "chủ nghĩa Marx" đầu tiên được những người cánh hữu sử dụng với nghĩa xấu [125, tr. Chỉ từ cuối thế kỷ XIX thuật ngữ này mới được chính những người theo chủ nghĩa Marx tiếp nhận.
Chủ nghĩa Marx là một hệ thống lý thuyết với ý nghĩa là một thế giới quan được các chính tri gia sử dụng để định hướng thực tiễn và được các học giả sử dụng như một phương pháp luận. Những người phê bình Marxist tự áp dụng học thuyết của Marx vào các hệ thống để giải thích sự phát triển của chúng, đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Dựa vào những ý tưởng cơ bản của phép biện chứng, Marx và Engels hiểu sự phát triển của xã hội như là một quá trình biện chứng thông qua nhiều hình thái. Chúng tôi đặc biệt chú ý đến khuynh hướng Tân Marxist [129, tr.
Nhiều nhà tư tưởng Việt Nam đã chịu ? Mác xít: Các cách gọi khác: Mác, Marxist, Marxism. II ảnh hưởng bởi khái niệm này. Tan ở đây không phải là "mới" mà thật ra là một khái niệm quy tụ nhiều chiều hướng hay ý tưởng Marxist khác với cách nhìn chính thống của học thuyết Marxist, vạch rõ ranh giới với các tư tưởng truyền thống. Các lý thuyết của Lenin, Trotsky hay Rosa Luxemburg vẫn mang tầm quan trọng trong các nghị luận của chủ nghĩa tân Marxist.
Những nhà khuynh hướng tân Marxist diễn giải chủ nghĩa duy vật lịch sử là một học thuyết không tiếp nhận thuyết quyết định (determinism) trong sự phát triển của xã hội có giai cấp. Theo David Walker, tác giả cuốn sách Chi nghĩa Marx thế kỉ XX, Một dẫn nhập toàn cầu [122], Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới lúc đều chịu chi phối sâu sắc của tư tưởng Marxist. Sự chi phối này rộng khắp ở cả bốn châu lục, diễn ra khi nhiều cuộc chiến tranh trên thế giới vẫn chưa chấm dứt. Hành trình gần hai thé kỷ ké từ khi C.Ăng-ghen đặt nền móng đầu tiên tại Đức, V.Lê-nin kế tục và phát triển tại Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là nền tảng tư tưởng vững chắc của các đảng cộng sản cầm quyền, trong đó có Việt Nam.
Giai đoạn từ 1930 đến Cách mạng tháng Tám 1945 chính là giai đoạn khó khăn nhất của chủ nghĩa Mác ở Việt Nam. Nhiều tô chức đã vận dụng Mác theo những khuynh hướng riêng, dẫn đến nhiều ý kiến trái chiều. Lật lại vấn đề này, chúng ta cần suy xét với cái nhìn tổng thé, đa chiều hơn. Để cương văn hoá Việt Nam của Tông Bi thư Trường Chinh lúc đó đã phê phán nhiều nhóm phái tư tưởng, cho rằng “trong khi đó, tình hình chính trị diễn biến rất phức tạp.
Các lực lượng phản động đã hoạt động rao riết dé chống pha cách mạng.