Luận văn thạc sĩ về văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX trong truyền thống văn học dân tộc

Đề tài khảo sát văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX trong văn ... với dữ liệu thực nghiệm, giải pháp cụ thể cho bài toán thực tế văn học

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2008

228
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG TIÊN ĐỀ LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG VĂN HÓA, VĂN HỌC ĐƯA ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC YÊU NƯỚC GIAI ĐOẠN NỬA SAU THẾ KỶ XIX Ở VIỆT NAM

1.1. Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở phương Tây và sự bành trướng, xâm lược của nó ở khu vực châu Á

1.2. Quá trình bành trướng, xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp và sự nhận diện kẻ thù mới của các tầng lớp trong xã hội

1.3. Sự tiếp cận Việt - Pháp. Quá trình xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam

1.4. Sự nhận thức về kẻ thù mới của các tầng lớp trong xã hội

1.5. Chủ nghĩa yêu nước trong truyền thống đấu tranh của dân tộc Việt Nam

1.6. Cơ sở văn hóa tư tưởng của chủ nghĩa yêu nước trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc

1.7. Chủ nghĩa yêu nước trong lịch sử văn học dân tộc

1.7.1. Giới thuyết về phạm vi của khái niệm văn học yêu nước

1.7.2. Chủ nghĩa yêu nước trong lịch sử văn học dân tộc

1.8. Sự biến đổi trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm làm tiền đề cho những sáng tác văn học mang những nội dung mới

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ DIỆN MẠO TỔNG QUÁT CỦA BỘ PHẬN VĂN HỌC YÊU NƯỚC NỬA SAU THẾ KỶ XIX Ở VIỆT NAM

2.1. Quá trình hình thành bộ phận văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX ở Việt Nam

2.2. Cơ sở văn hóa tư tưởng

2.3. Sự biến động nội tại của nội dung yêu nước trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX

2.4. Sự khủng hoảng và phát triển của lịch sử tư tưởng yêu nước trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX

2.5. Diện mạo của văn học yêu nước giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX

2.6. Văn học yêu nước khu vực Nam Kỳ

2.7. Văn học yêu nước khu vực Bắc Kỳ

2.8. Văn học yêu nước khu vực Trung Kỳ

2.9. Đặc điểm loại hình tác giả của văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX

2.10. Văn học yêu nước giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX trong mối quan hệ với văn học dân gian

3. CHƯƠNG 3: VĂN HỌC YÊU NƯỚC GIAI ĐOẠN NỬA SAU THẾ KỶ XIX TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HỌC DÂN TỘC

3.1. Bộ phận văn chương yêu nước nửa sau thế kỷ XIX nhìn từ góc độ quan niệm văn học và tư tưởng thẩm mỹ

3.2. Về hệ thống chủ đề - đề tài và luận đề văn học trung tâm

3.3. Về hệ thống hình tượng - hình tượng trung tâm

3.4. Về hệ thống thể loại, một vài thể loại đặc biệt

3.5. Một bước đại chúng hóa ngôn ngữ của văn chương bác học

3.6. Một số nét nổi bật về bút pháp và phong cách

3.7. Bước chuẩn bị cho sự ra đời của văn chương yêu nước và cách mạng

KẾT LUẬN

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX

Văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX ở Việt Nam là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc. Giai đoạn này diễn ra trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, dẫn đến sự hình thành và phát triển của văn học yêu nước. Các tác phẩm văn học trong thời kỳ này không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm của nhân dân mà còn thể hiện tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm. Chủ nghĩa yêu nước trở thành một nội dung chủ đạo trong sáng tác văn học, thể hiện qua nhiều thể loại như thơ, truyện, và kịch. Những tác phẩm tiêu biểu như thơ của Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị đã góp phần khẳng định giá trị văn hóa và tinh thần yêu nước của dân tộc. Sự phát triển của văn học dân tộc trong giai đoạn này không chỉ là sự phản ánh hiện thực mà còn là tiếng nói của lòng yêu nước, khát vọng độc lập tự do của nhân dân.

1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội

Bối cảnh lịch sử - xã hội nửa sau thế kỷ XIX là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành của văn học yêu nước. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam đã tạo ra một môi trường khắc nghiệt, buộc các tầng lớp trí thức và nhân dân phải nhận thức rõ về kẻ thù. Sự xâm lược này không chỉ gây ra những đau thương mất mát mà còn khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh trong nhân dân. Phong trào yêu nước diễn ra mạnh mẽ, từ đó, văn học trở thành một công cụ quan trọng trong việc truyền tải tư tưởng yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc. Các tác phẩm văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn thể hiện khát vọng tự do, độc lập của dân tộc, từ đó tạo nên một diện mạo mới cho văn học dân tộc.

II. Nội dung và hình thức của văn học yêu nước

Nội dung và hình thức của văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX rất đa dạng và phong phú. Các tác phẩm không chỉ tập trung vào chủ đề yêu nước mà còn phản ánh những vấn đề xã hội, văn hóa của thời đại. Tác phẩm văn học trong giai đoạn này thường mang tính chất trữ tình, thể hiện tâm tư, tình cảm của tác giả đối với quê hương, đất nước. Hình thức thể hiện cũng rất đa dạng, từ thơ ca đến truyện ngắn, từ kịch đến tiểu thuyết. Các tác giả như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị đã sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, biểu cảm để truyền tải thông điệp yêu nước. Di sản văn hóa của giai đoạn này không chỉ là những tác phẩm văn học mà còn là những giá trị tinh thần, tư tưởng mà nó để lại cho thế hệ sau. Những tác phẩm này đã góp phần làm phong phú thêm văn học dân tộc, đồng thời khẳng định vị trí của văn học yêu nước trong lịch sử văn học Việt Nam.

2.1. Chủ đề yêu nước trong văn học

Chủ đề yêu nước là một trong những nội dung chủ đạo trong văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX. Các tác phẩm thường thể hiện lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm, khát vọng độc lập tự do của dân tộc. Những hình ảnh về quê hương, đất nước, con người Việt Nam được khắc họa sinh động qua ngòi bút của các tác giả. Chủ nghĩa yêu nước không chỉ là một cảm xúc mà còn là một ý thức hệ, một động lực thúc đẩy các tác giả sáng tác. Các tác phẩm như thơ của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ đơn thuần là nghệ thuật mà còn là tiếng nói của lòng yêu nước, thể hiện sự phản kháng mạnh mẽ trước sự xâm lược của thực dân. Điều này cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa văn học dân tộc và lịch sử đấu tranh của dân tộc trong bối cảnh lịch sử đầy biến động.

III. Giá trị và ứng dụng của nghiên cứu văn học yêu nước

Nghiên cứu văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX không chỉ có giá trị về mặt lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Việc tìm hiểu và phân tích các tác phẩm văn học yêu nước giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử, xã hội của thời kỳ này. Đồng thời, nó cũng góp phần làm sống lại những giá trị văn hóa, tinh thần của dân tộc, những giá trị đang có nguy cơ bị lãng quên trong thời đại hiện đại. Nghiên cứu văn học yêu nước còn có ý nghĩa trong việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ. Những tác phẩm văn học yêu nước không chỉ là di sản văn hóa mà còn là nguồn cảm hứng cho các thế hệ tiếp theo trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

3.1. Giá trị khoa học

Giá trị khoa học của nghiên cứu văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX thể hiện ở việc làm rõ những mối liên hệ giữa văn học và lịch sử, xã hội. Nghiên cứu này giúp nhận diện được những phản ứng văn chương trước sự xâm lược của thực dân Pháp, từ đó hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của văn học dân tộc. Các tác phẩm văn học yêu nước không chỉ là những sản phẩm nghệ thuật mà còn là những tài liệu quý giá phản ánh tâm tư, tình cảm của nhân dân trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Điều này không chỉ có giá trị trong việc nghiên cứu văn học mà còn có ý nghĩa trong việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng, lịch sử chính trị của dân tộc.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề nghiên cứu nội hàm của cảm hứng yêu nước ở một giai đoạn cụ thể mà còn phải đặt nó trong sự đối sánh với cảm hứng yêu nước ở các giai đoạn trước và sau nó. Cụ thể: - So sánh văn học yêu nước giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX với văn học yêu nước thời phục hồi độc lập từ năm 938, kinh qua việc chống các triều đại phương Bắc xâm lược, mà nổi bật là Nam Hán, Tống, Nguyên, thời khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh và văn học yêu nước và cách mạng ba mươi năm đầu thế kỷ XX. 19 - So sánh cảm hứng yêu nước giữa các vùng văn học trong văn học yêu nước giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Phương pháp phán tích, thẩm bình La một luận án tiến sĩ văn học nên không thể bỏ qua phương pháp phan tích, thẩm định dựa trên cảm xúc của người viết, gắn với mục đích thể hiện những xúc cảm thẩm mỹ trữ tình của văn chương yêu nước giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX.

Trên cơ sở đó, làm sống dậy những giá trị cảm xúc - tư tưởng, những phạm trù giá trị thẩm mỹ, những cái bi, cái hùng, cái hài, cái cao cả của thế giới nội tâm tác giả, thường là những chiến sĩ trên mặt trận cứu nước, không phải chỉ cam bút mà còn cầm gươm, còn trút ca máu xương mình vào chiến đấu và vào thơ văn của cả một giai đoạn lịch sử đau thương nhưng cũng hết sức hào hùng. Đóng góp của luận án Như chúng tôi đã trình bay ở phần đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trong luận án này chúng tôi chỉ nghiên cứu một chặng - chặng cuối cùng của văn học nhà Nho và không chỉ trong cái nhìn có tính chất xung đột của dân tộc (dân tộc Việt Nam) với một đế quốc cụ thể (thực dân Pháp) mà còn xét nó như là một bộ phận, một hiện tượng trong chuỗi các hiện tượng đồng dạng. Nhìn ở góc độ đó thì văn học yêu nước chống thực dân Pháp là loại hiện tượng chưa được nghiên cứu một cách thỏa đáng. Văn học yêu nước những giai đoạn trước chủ yếu được quan chiêm dưới góc độ chủ nghĩa yêu nước, nghĩa là chủ yếu được xét đoán từ góc độ gắn liền với lịch sử dân tộc.

Trong luận án, ngoài việc thực hiện mục đích đã nêu chúng tôi còn hướng đến việc đặt vấn đề nghiên cứu chủ nghĩa yêu nước vừa từ góc độ lịch sử dân tộc, vừa từ góc độ lịch sử xã hội. Qua phần trình bày trên, với khả năng có thể luận án sẽ đóng góp những vấn đề mới là: - Từ sự nhận thức về kẻ thù mới của các tầng lớp trong xã hội, thấy được các phản ứng văn chương tương thích. 20 - Trình bày được điện mạo tổng thể của văn học yêu nước giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX trên những biểu hiện cụ thể: đội ngũ tác giả, hệ thống chủ đẻ, một số nét nổi bật về bút pháp, phong cách. Từ đó làm nổi rõ những đặc trưng của văn học yêu nước giai đoạn này so với những giai đoạn trước và sau nó.

Hy vọng rang đó là một cách tiếp cận, một cách nhìn khác. Thực hiện được mục tiêu đó, luận án có hy vọng làm phong phú thêm cả về tri thức và phương pháp nghiên cứu, phục vụ trước hết cho các nhà nghiên cứu, giáo viên và sinh viên ở các trường đại học. - Chỉ ra được qui luật vận động, vị trí đặc biệt quan trọng của văn học yêu nước giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dan tộc. Cấu trúc của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 3 chương: Chương 1: Những tiền dé lịch sử - xã hội, tu tưởng văn hóa, văn hoc dua đến sự hình thành và phát triển của văn học yêu nước giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX ở Việt Nam.

Chương 2: Quá trình hình thành và điện mạo của văn học yêu nước giai doan nua sau thế ky XIX. Chương 3: Bộ phận văn học yêu nước giai đoạn nửa sau thế ky XIX trong tiến trình lịch su văn học dân tộc. Chương | NHỮNG TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ- XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG VĂN HÓA, VĂN HỌC DUA DEN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN CUA VĂN HỌC YÊU NƯỚC GIAI DOAN NỬA SAU THE KỶ XIX Ở VIỆT NAM 1. SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN Ở PHƯƠNG TÂY VÀ SỰ BÀNH TRƯỚNG, XÂM LƯỢC CUA NÓ Ở KHU VUC CHAU A Từ thế kỷ XIV, XV ở châu Âu những nhân tố lẻ tẻ của chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện trong các thành thi ở Italia, ở vùng sông Ranh và ở Nedéclan.

Nhưng đến đầu thế kỷ XVI, chủ nghĩa tư bản mới thực sự ra đời và tồn tai một cách phổ biến ở các nước Tây Âu. Khi nghiên cứu về tiền đề ra đời thời đại tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã chỉ rõ: Việc tìm thấy những mỏ vàng, mỏ bạc ở châu Mi, việc biến người bản xứ thành nô lệ, việc chôn vùi họ vào các hầm mỏ hoặc tuyệt diệt họ đi, những buổi đầu của cuộc chinh phục và cướp bóc ở Đông Ấn, việc biến châu Phi thành một vùng đất cấm thương mại dành riêng cho việc san bắt người da đen, đấy là những biện pháp tích lũy ban đầu có tính chất tình ca, báo hiệu buổi bình minh của thời đại tư bản chủ nghĩa [99, tr. Do sự phát triển của chủ nghĩa tư bản châu Âu lúc đó và những điều kiện. lịch sử cũng như sự chống đối của nhân dân bản địa nên chủ nghĩa thực dan chưa thực hiện mạnh chính sách bành trướng.

Cho tới năm 1870, chu nghĩa tư bản đã đạt tới đỉnh cao phồn thịnh để bước vào ngưỡng cửa của chủ nghĩa đế quốc. Bước vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XIX, với sự phát triển không đồng đều giữa các nước tư bản, khủng hoảng kinh tế và cạnh tranh giành giật thị trường đòi hỏi nguyên liệu và nhân công rẻ mạt đồng thời xuất khẩu tư ban, thúc đẩy chủ nghĩa tư bản mở rộng xâm lược. ho tw Cho đến cuối thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản phương Tây đã phát triển thành hệ thống, đứng dau là Anh, Pháp, Hà Lan, Tay Ban Nha, Bồ Đào Nha. Sự phát triển mạnh mẽ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các nước lớn này càng làm tăng nhu cầu về thuộc địa cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa, để tích lũy vốn, mở rộng kinh doanh.

Mác và Angghen gọi mấy thế kỷ XVI-XIX là: “Thời kỳ tích lũy của chủ nghĩa tư bản”, vậy nên các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa ngày càng được đẩy mạnh. Sau những phát kiến lớn về địa lý, những con đường sang phương Đông đã được mở ra, những vùng đất mới với nguồn tài nguyên đã được biết đến thì quá trình bành trướng, xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây càng có điều kiện mở rộng. Trước hết là bằng bạo lực tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược nhằm khuất phục ý chí độc lập của các quốc gia kém phát triển hơn, áp đặt một quyền chính trị (cai trị trực tiếp hoặc thông qua các chính phủ bù nhìn), biến các quốc gia thành thuộc địa, tổ chức bóc lột và khai thác các quốc gia đã trở thành thuộc địa, làm giàu cho các tập đoàn tư bản và nhà nước tư sản chính quốc. Môi nước đế quốc có một chính sách thuộc địa riêng.

Khi áp dụng vào mỗi nước thuộc địa nhà cầm quyền thực dân lại có những phương pháp tiến hành và cách thức cai trị cụ thể riêng. Mặc dù vậy, tất cả đều được che đậy bằng chiêu bài khai hóa, nhằm vào một mục đích thống nhất: áp bức, bóc lột đất nước và con người ở các nước bị thống trị. Có thể hệ thống một cách khái quát chính sách kinh tế thuộc dia mà các nước tư bản đế quốc thực hiện ở các nước A, Phi, Mi La tinh là: tìm cách chia rẽ, mua chuộc giai cấp thống trị bản xứ, bóc lột nhân dân thuộc địa, vơ vét tài nguyên, thực hiện việc buôn bán không bình đẳng. Để vơ vét, khai thác được nhiều hơn, các nước tư bản phương Tây đã tiến hành xây dựng một số cơ sở công nghiệp để khai thác.

Để tránh sự cạnh tranh với công nghiệp chính quốc, chúng chỉ chú ý xây dựng những ngành công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng nhằm xuất khẩu thu lãi lớn và để phục vụ cho đời sống bọn thống trị ở thuộc địa. Biện pháp phổ biến trong việc bóc lột các nước thuộc địa là tăng thuế, đặt các loại thuế mới, mở mang đồn điền, khai thác tài nguyên. Như vậy, bất cứ bằng biện pháp nào, quá trình tích lũy ban đầu cũng "được thực hiện với một sự phá phách tàn nhân nhất và dưới sự thúc day của những dục vọng thấp hèn nhất, bẩn thiu nhất, nhỏ nhen nhất và đáng ghét nhất". Do đó, "nếu tiền, theo lời của Ôgiê "ra đời với một vết máu ở bên má" thì tư bản mới ra đời lại có máu và bùn nho ri ra ở tất cả các lễ chân lông, từ đầu đến chan" [99, tr.

Với qui trình xâm lược như trên, các cường quốc thực dân cứ thi nhau chiếm dần các nước nhỏ bé làm thuộc địa. Đến cuối thế kỷ XIX, trên các châu lục A, Phi không còn có nơi nào mà bọn thực dan Âu Mĩ không đặt chân đến. Từ vùng sa mạc mênh mông của châu Phi đến các vùng núi cao hiểm trở "nóc nhà thế giới" châu Á. Nước Anh là cường quốc thực đân giàu nhất và chiếm được nhiều thuộc địa nhất.

Với hệ thống thuộc địa rộng lớn ở khắp các châu lục, nước Anh trở thành một đất nước "mặt trời không bao giờ lặn”. Các nước tư bản khác cũng không chịu thua kém. Chúng đẩy mạnh tốc độ xâm chiếm các quốc gia Á, Phi làm thuộc địa để cướp đoạt nguyên vật liệu, thuê mướn nhân công rẻ mạt và tiêu thụ hàng hóa. Cùng với việc hàng loạt vùng đất rộng lớn trên thế giới bị biến thành thuộc địa của các nước Tây Âu thì những nền móng đầu tiên của chủ nghĩa thực dan cũng được xác lập.

Đến cuối thế kỷ XIX, các nước châu Á đều nằm trong tầm ngắm của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Quá trình banh trướng, xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây ở khu vực này được đặt ra như là một tất yếu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX trong văn học dân tộc" khám phá những tác phẩm văn học thể hiện tinh thần yêu nước trong bối cảnh lịch sử của Việt Nam. Tác giả phân tích các tác phẩm tiêu biểu, từ đó làm nổi bật vai trò của văn học trong việc khơi dậy lòng yêu nước và ý thức dân tộc trong giai đoạn này. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và lịch sử của văn học yêu nước, mà còn mở ra những góc nhìn mới về sự phát triển của văn học dân tộc trong bối cảnh xã hội đầy biến động.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn học Việt Nam, bạn có thể tham khảo bài viết Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Khải, nơi phân tích sâu sắc về một trong những tác giả nổi bật của văn học hiện đại. Ngoài ra, bài viết Quan niệm tính đảng trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về mối liên hệ giữa văn học và chính trị trong một giai đoạn quan trọng. Cuối cùng, bài viết Văn học Đông Dương tạp chí trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự chuyển mình của văn học Việt Nam trong bối cảnh hiện đại hóa. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về văn học dân tộc và các tác phẩm tiêu biểu trong lịch sử.