đặt vấn đề nghiên cứu nội hàm của cảm hứng yêu nước ở một giai đoạn cụ thể mà còn phải đặt nó trong sự đối sánh với cảm hứng yêu nước ở các giai đoạn trước và sau nó. Cụ thể: - So sánh văn học yêu nước giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX với văn học yêu nước thời phục hồi độc lập từ năm 938, kinh qua việc chống các triều đại phương Bắc xâm lược, mà nổi bật là Nam Hán, Tống, Nguyên, thời khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh và văn học yêu nước và cách mạng ba mươi năm đầu thế kỷ XX. 19 - So sánh cảm hứng yêu nước giữa các vùng văn học trong văn học yêu nước giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Phương pháp phán tích, thẩm bình La một luận án tiến sĩ văn học nên không thể bỏ qua phương pháp phan tích, thẩm định dựa trên cảm xúc của người viết, gắn với mục đích thể hiện những xúc cảm thẩm mỹ trữ tình của văn chương yêu nước giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX.
Trên cơ sở đó, làm sống dậy những giá trị cảm xúc - tư tưởng, những phạm trù giá trị thẩm mỹ, những cái bi, cái hùng, cái hài, cái cao cả của thế giới nội tâm tác giả, thường là những chiến sĩ trên mặt trận cứu nước, không phải chỉ cam bút mà còn cầm gươm, còn trút ca máu xương mình vào chiến đấu và vào thơ văn của cả một giai đoạn lịch sử đau thương nhưng cũng hết sức hào hùng. Đóng góp của luận án Như chúng tôi đã trình bay ở phần đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trong luận án này chúng tôi chỉ nghiên cứu một chặng - chặng cuối cùng của văn học nhà Nho và không chỉ trong cái nhìn có tính chất xung đột của dân tộc (dân tộc Việt Nam) với một đế quốc cụ thể (thực dân Pháp) mà còn xét nó như là một bộ phận, một hiện tượng trong chuỗi các hiện tượng đồng dạng. Nhìn ở góc độ đó thì văn học yêu nước chống thực dân Pháp là loại hiện tượng chưa được nghiên cứu một cách thỏa đáng. Văn học yêu nước những giai đoạn trước chủ yếu được quan chiêm dưới góc độ chủ nghĩa yêu nước, nghĩa là chủ yếu được xét đoán từ góc độ gắn liền với lịch sử dân tộc.
Trong luận án, ngoài việc thực hiện mục đích đã nêu chúng tôi còn hướng đến việc đặt vấn đề nghiên cứu chủ nghĩa yêu nước vừa từ góc độ lịch sử dân tộc, vừa từ góc độ lịch sử xã hội. Qua phần trình bày trên, với khả năng có thể luận án sẽ đóng góp những vấn đề mới là: - Từ sự nhận thức về kẻ thù mới của các tầng lớp trong xã hội, thấy được các phản ứng văn chương tương thích. 20 - Trình bày được điện mạo tổng thể của văn học yêu nước giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX trên những biểu hiện cụ thể: đội ngũ tác giả, hệ thống chủ đẻ, một số nét nổi bật về bút pháp, phong cách. Từ đó làm nổi rõ những đặc trưng của văn học yêu nước giai đoạn này so với những giai đoạn trước và sau nó.
Hy vọng rang đó là một cách tiếp cận, một cách nhìn khác. Thực hiện được mục tiêu đó, luận án có hy vọng làm phong phú thêm cả về tri thức và phương pháp nghiên cứu, phục vụ trước hết cho các nhà nghiên cứu, giáo viên và sinh viên ở các trường đại học. - Chỉ ra được qui luật vận động, vị trí đặc biệt quan trọng của văn học yêu nước giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dan tộc. Cấu trúc của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 3 chương: Chương 1: Những tiền dé lịch sử - xã hội, tu tưởng văn hóa, văn hoc dua đến sự hình thành và phát triển của văn học yêu nước giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX ở Việt Nam.
Chương 2: Quá trình hình thành và điện mạo của văn học yêu nước giai doan nua sau thế ky XIX. Chương 3: Bộ phận văn học yêu nước giai đoạn nửa sau thế ky XIX trong tiến trình lịch su văn học dân tộc. Chương | NHỮNG TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ- XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG VĂN HÓA, VĂN HỌC DUA DEN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN CUA VĂN HỌC YÊU NƯỚC GIAI DOAN NỬA SAU THE KỶ XIX Ở VIỆT NAM 1. SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN Ở PHƯƠNG TÂY VÀ SỰ BÀNH TRƯỚNG, XÂM LƯỢC CUA NÓ Ở KHU VUC CHAU A Từ thế kỷ XIV, XV ở châu Âu những nhân tố lẻ tẻ của chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện trong các thành thi ở Italia, ở vùng sông Ranh và ở Nedéclan.
Nhưng đến đầu thế kỷ XVI, chủ nghĩa tư bản mới thực sự ra đời và tồn tai một cách phổ biến ở các nước Tây Âu. Khi nghiên cứu về tiền đề ra đời thời đại tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã chỉ rõ: Việc tìm thấy những mỏ vàng, mỏ bạc ở châu Mi, việc biến người bản xứ thành nô lệ, việc chôn vùi họ vào các hầm mỏ hoặc tuyệt diệt họ đi, những buổi đầu của cuộc chinh phục và cướp bóc ở Đông Ấn, việc biến châu Phi thành một vùng đất cấm thương mại dành riêng cho việc san bắt người da đen, đấy là những biện pháp tích lũy ban đầu có tính chất tình ca, báo hiệu buổi bình minh của thời đại tư bản chủ nghĩa [99, tr. Do sự phát triển của chủ nghĩa tư bản châu Âu lúc đó và những điều kiện. lịch sử cũng như sự chống đối của nhân dân bản địa nên chủ nghĩa thực dan chưa thực hiện mạnh chính sách bành trướng.
Cho tới năm 1870, chu nghĩa tư bản đã đạt tới đỉnh cao phồn thịnh để bước vào ngưỡng cửa của chủ nghĩa đế quốc. Bước vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XIX, với sự phát triển không đồng đều giữa các nước tư bản, khủng hoảng kinh tế và cạnh tranh giành giật thị trường đòi hỏi nguyên liệu và nhân công rẻ mạt đồng thời xuất khẩu tư ban, thúc đẩy chủ nghĩa tư bản mở rộng xâm lược. ho tw Cho đến cuối thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản phương Tây đã phát triển thành hệ thống, đứng dau là Anh, Pháp, Hà Lan, Tay Ban Nha, Bồ Đào Nha. Sự phát triển mạnh mẽ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các nước lớn này càng làm tăng nhu cầu về thuộc địa cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa, để tích lũy vốn, mở rộng kinh doanh.
Mác và Angghen gọi mấy thế kỷ XVI-XIX là: “Thời kỳ tích lũy của chủ nghĩa tư bản”, vậy nên các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa ngày càng được đẩy mạnh. Sau những phát kiến lớn về địa lý, những con đường sang phương Đông đã được mở ra, những vùng đất mới với nguồn tài nguyên đã được biết đến thì quá trình bành trướng, xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây càng có điều kiện mở rộng. Trước hết là bằng bạo lực tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược nhằm khuất phục ý chí độc lập của các quốc gia kém phát triển hơn, áp đặt một quyền chính trị (cai trị trực tiếp hoặc thông qua các chính phủ bù nhìn), biến các quốc gia thành thuộc địa, tổ chức bóc lột và khai thác các quốc gia đã trở thành thuộc địa, làm giàu cho các tập đoàn tư bản và nhà nước tư sản chính quốc. Môi nước đế quốc có một chính sách thuộc địa riêng.
Khi áp dụng vào mỗi nước thuộc địa nhà cầm quyền thực dân lại có những phương pháp tiến hành và cách thức cai trị cụ thể riêng. Mặc dù vậy, tất cả đều được che đậy bằng chiêu bài khai hóa, nhằm vào một mục đích thống nhất: áp bức, bóc lột đất nước và con người ở các nước bị thống trị. Có thể hệ thống một cách khái quát chính sách kinh tế thuộc dia mà các nước tư bản đế quốc thực hiện ở các nước A, Phi, Mi La tinh là: tìm cách chia rẽ, mua chuộc giai cấp thống trị bản xứ, bóc lột nhân dân thuộc địa, vơ vét tài nguyên, thực hiện việc buôn bán không bình đẳng. Để vơ vét, khai thác được nhiều hơn, các nước tư bản phương Tây đã tiến hành xây dựng một số cơ sở công nghiệp để khai thác.
Để tránh sự cạnh tranh với công nghiệp chính quốc, chúng chỉ chú ý xây dựng những ngành công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng nhằm xuất khẩu thu lãi lớn và để phục vụ cho đời sống bọn thống trị ở thuộc địa. Biện pháp phổ biến trong việc bóc lột các nước thuộc địa là tăng thuế, đặt các loại thuế mới, mở mang đồn điền, khai thác tài nguyên. Như vậy, bất cứ bằng biện pháp nào, quá trình tích lũy ban đầu cũng "được thực hiện với một sự phá phách tàn nhân nhất và dưới sự thúc day của những dục vọng thấp hèn nhất, bẩn thiu nhất, nhỏ nhen nhất và đáng ghét nhất". Do đó, "nếu tiền, theo lời của Ôgiê "ra đời với một vết máu ở bên má" thì tư bản mới ra đời lại có máu và bùn nho ri ra ở tất cả các lễ chân lông, từ đầu đến chan" [99, tr.
Với qui trình xâm lược như trên, các cường quốc thực dân cứ thi nhau chiếm dần các nước nhỏ bé làm thuộc địa. Đến cuối thế kỷ XIX, trên các châu lục A, Phi không còn có nơi nào mà bọn thực dan Âu Mĩ không đặt chân đến. Từ vùng sa mạc mênh mông của châu Phi đến các vùng núi cao hiểm trở "nóc nhà thế giới" châu Á. Nước Anh là cường quốc thực đân giàu nhất và chiếm được nhiều thuộc địa nhất.
Với hệ thống thuộc địa rộng lớn ở khắp các châu lục, nước Anh trở thành một đất nước "mặt trời không bao giờ lặn”. Các nước tư bản khác cũng không chịu thua kém. Chúng đẩy mạnh tốc độ xâm chiếm các quốc gia Á, Phi làm thuộc địa để cướp đoạt nguyên vật liệu, thuê mướn nhân công rẻ mạt và tiêu thụ hàng hóa. Cùng với việc hàng loạt vùng đất rộng lớn trên thế giới bị biến thành thuộc địa của các nước Tây Âu thì những nền móng đầu tiên của chủ nghĩa thực dan cũng được xác lập.
Đến cuối thế kỷ XIX, các nước châu Á đều nằm trong tầm ngắm của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Quá trình banh trướng, xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây ở khu vực này được đặt ra như là một tất yếu.