Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX trong truyền thống văn học dân tộc do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Thế thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Ngọc Vương, bảo vệ năm 2008 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (Chuyên ngành Văn học Việt Nam, Mã số: 62 22 34 01).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng sau hơn một thế kỷ kể từ khi phong trào Cần vương chấm dứt và hơn ba mươi năm sau ngày đất nước thống nhất, lịch sử văn học cần có độ lùi cần thiết để nhìn nhận, đánh giá khách quan giai đoạn mang tính bước ngoặt này. Giới nghiên cứu trước đây chưa hoàn toàn thoát khỏi quán tính của phương pháp luận thời chiến về tâm thế và hệ quy chiếu lý luận; đồng thời nguồn tư liệu văn bản gốc bị hủy hoại lớn do chiến tranh và chính sách kiểm duyệt, cấm đoán của thực dân Pháp cùng triều đình phong kiến. Hơn nữa, văn học yêu nước giai đoạn 1858–1900 mang tính chất đặc thù: đây là giai đoạn đầu chống chủ nghĩa thực dân phương Tây khi chưa xuất hiện ý thức hệ cách mạng vô sản, nằm dưới sự chi phối của ý thức hệ Nho giáo đã được nhân dân hóa và dân tộc hóa.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định theo các nội dung chính:

  1. Tái hiện diện mạo tổng thể của văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX trong tính đa dạng và cụ thể của các hiện tượng tác giả, tác phẩm.
  2. Xác định các quy luật vận động nội tại và tính liên tục giữa văn học yêu nước truyền thống với văn học yêu nước – cách mạng ở các giai đoạn kế tiếp.
  3. Phân tích sự chuyển biến của cảm hứng yêu nước và ý thức hệ thẩm mỹ khi dân tộc phải đối diện với một kẻ thù phương Tây hoàn toàn mới và khác biệt về mặt bản chất kinh tế - xã hội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác giả, tác phẩm tiêu biểu của bộ phận văn học yêu nước chống Pháp nửa sau thế kỷ XIX, có khảo sát kết hợp yếu tố vùng miền (Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ) và bộ phận văn học yêu nước dân gian.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát từ mốc thực dân Pháp nổ súng xâm lược năm 1858 đến những năm bản lề giữa thế kỷ XIX và thế kỷ XX (mốc kết thúc là năm 1900). Các tác giả văn học thời kỳ này như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương được sử dụng với tư cách đối tượng liên hệ, so sánh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu vấn đề thành các nhóm công trình theo không gian địa lý và chuyên ngành:

Ở khu vực miền Nam, các công trình khảo cứu giai đoạn trước năm 1975 gồm có: Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam (từ khởi thượng đến cuối thế kỷ XIX) của Bùi Đức Tịnh (1962); Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ (1963); Văn học Việt Nam đối kháng Trung Hoa (1967); Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng (1973); Văn học thời kháng Pháp 1858 - 1945 của Lê Văn Siêu (1974). Các công trình này chủ yếu khảo tả tiểu sử và trích giảng tác phẩm, tập trung vào cuộc bút chiến Phan Văn Trị - Tôn Thọ Tường hoặc các dịp kỷ niệm Nguyễn Đình Chiểu (1963, 1972). Giai đoạn sau năm 1975 có Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao càng nhìn càng thấy sáng của Lê Trí Viễn (1982), Tác phẩm Nguyễn Thông của Cao Tự Thanh và Đoàn Lê Giang (1984), Mấy vấn đề văn học yêu nước và cách mạng (1990), Những ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX của Bảo Định Giang và Ca Văn Thỉnh (1990), cùng bộ sách Nam Bộ nhân vật chí (Nxb Trẻ, 2001–2002) với các chuyên khảo về Nguyễn Hữu Huân, Bùi Hữu Nghĩa.

Ở khu vực miền Bắc, các công trình đặt nền móng gồm: Văn học Việt Nam hậu bán thế kỷ XIX của Nguyễn Tường Phượng và Bùi Hữu Sủng (1952); Sơ tuyển văn thơ yêu nước chống Pháp (Bộ Giáo dục, 1957); bài định hướng của Trường Chinh tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai (1957); Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX của Trần Thanh Mại và Nguyễn Văn Hoàn (1961); Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập IV của nhóm Vũ Đình Liên, Nguyễn Đình Chú, Đỗ Đức Hiểu, Huỳnh Lý, Lê Thước, Trần Thanh Mại, Hoàng Ngọc Phách (1963); Lịch sử văn học Việt Nam, tập 4A của Lê Trí Viễn, Nguyễn Đình Chú, Huỳnh Lý, Lê Hoài Nam (1962, tái bản 1978); Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (từ 1858 - 1900) do Trần Văn Giàu giới thiệu (1970); Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc (1971, tái bản 1976); Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (1976); Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 17 (2000). Cùng với đó là các khảo cứu chuyên sâu về từng tác gia như Phan Đình Phùng (qua sách của Đào Trinh Nhất năm 1945 và công trình kỷ niệm 160 năm sinh năm 2007), Nguyễn Quang Bích (1973), Nguyễn Xuân Ôn, Bùi Văn Dị, Phạm Văn Nghị.

Về lịch sử và tư tưởng, tác giả dựa vào các công trình của GS. Trần Văn Giàu (Chống xâm lăng, Lịch sử Việt Nam - Nam Kỳ chống Pháp, Sự phát triển tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, Trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam - tư tưởng yêu nước), Lê Thị Lan (Tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX), Y. Tsubôi (Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa), Trần Đình Hượu (Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại), Bùi Duy Tân, và Trần Ngọc Vương (Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam).

Nhóm công trình Tác giả / Cơ quan xuất bản Tác phẩm / Nội dung tiêu biểu
Văn học sử miền Nam trước 1975 Bùi Đức Tịnh (1962), Phạm Thế Ngũ (1963), Thanh Lãng (1973), Lê Văn Siêu (1974) Khảo tả tác giả kháng Pháp: Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Hữu Huân.
Nghiên cứu Nam Bộ sau 1975 Bảo Định Giang, Ca Văn Thỉnh (1990); Lê Trí Viễn (1982); Cao Tự Thanh, Đoàn Lê Giang (1984); Nhóm Nam Bộ nhân vật chí (2002) Tập hợp tư liệu, đánh giá văn học kháng Pháp Nam Bộ (1858–1884), đi sâu vào tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Hữu Huân.
Giáo trình và Hợp tuyển miền Bắc Trần Thanh Mại, Nguyễn Văn Hoàn (1961); Huỳnh Lý c.b (1963); Trần Văn Giàu (1970); Nguyễn Lộc (1971); Viện Văn học (1976, 2000) Dựng diện mạo văn học yêu nước Cần vương; phân loại văn bản, hệ thống hóa tác phẩm theo tiến trình lịch sử kháng chiến.
Lịch sử tư tưởng và văn hóa Trần Văn Giàu (1957, 1980, 1982), Trần Đình Hượu (1995), Trần Ngọc Vương (1995), Y. Tsubôi (1990), Lê Thị Lan (2002) Phân tích khủng hoảng ý thức hệ phong kiến, tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, loại hình nhà Nho hành đạo.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu đi trước tiếp cận văn học yêu nước theo hướng khảo tả, trích bình hoặc nhìn nhận tác phẩm như tài liệu minh họa lịch sử. Luận án đặt văn học yêu nước giai đoạn 1858–1900 trong tính quy luật của tiến trình văn học dân tộc, phân tích sự chuyển dịch từ ý thức hệ Nho giáo sang hệ giá trị yêu nước mang tính nhân dân, đồng thời đối sánh đặc trưng văn học giữa ba khu vực Nam – Trung – Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể của chủ nghĩa duy vật lịch sử, dựa trên lý thuyết của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về thời kỳ tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản cùng các nhận định của V.I. Lênin trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản. Khung lý thuyết này được dùng để phân tích sự chuyển biến kinh tế - chính trị quốc tế và bản chất cuộc xâm lăng của thực dân Pháp đối với xã hội phong kiến phương Đông.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai gồm:

  • Phương pháp tập hợp tư liệu, mô tả, thống kê, phân loại: Dùng để khôi phục và mô hình hóa diện mạo văn học trong bối cảnh văn bản Hán Nôm bị thất lạc, tiêu hủy.
  • Phương pháp nghiên cứu xã hội - lịch sử: Đặt sự hình thành các tư tưởng văn học trong mối liên hệ với hoàn cảnh suy tàn của triều Nguyễn và phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thực hiện đối sánh văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX với văn học chống ngoại xâm thời trung đại (chống Tống, Nguyên, Minh từ sau năm 938) và văn học yêu nước - cách mạng đầu thế kỷ XX; so sánh cảm hứng sáng tác giữa ba miền Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ.
  • Phương pháp phân tích, thẩm bình: Khảo sát các giá trị nghệ thuật, biểu hiện cảm xúc thẩm mỹ (cái bi, cái hùng, cái hài, cái cao cả) trong sáng tác của các tác giả - thủ lĩnh nghĩa quân.

Nguồn tư liệu nghiên cứu: Khai thác từ kho lưu trữ của Viện Văn học, Viện Sử học, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Thư viện Quốc gia Hà Nội (đặc biệt là kho sách Thư viện Đông Dương cũ), các trường đại học và các tuyển tập văn thơ địa phương tại Hà Nam Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những tiền đề lịch sử - xã hội, tư tưởng văn hóa, văn học đưa đến sự hình thành và phát triển của văn học yêu nước giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX ở Việt Nam

Chương này tập trung xác lập cơ sở bối cảnh hình thành của trào lưu văn học:

  • Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản phương Tây và quá trình bành trướng ở châu Á: Phân tích quá trình chuyển dịch của chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, dẫn tới nhu cầu tìm kiếm nguyên liệu, thị trường và nhân công rẻ mạt tại các nước Á, Phi, Mỹ Latinh. Tác giả chỉ ra sự suy thoái, trì trệ của các nhà nước phong kiến chuyên chế Đông Nam Á và phản ứng thụ động thông qua chính sách bế quan tỏa cảng.
  • Quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp và sự nhận diện kẻ thù mới: Điểm lại các mốc xâm nhập từ thế kỷ XVII–XVIII qua thương nhân và giáo sĩ thừa sai, vụ tấn công Đà Nẵng ngày 15/4/1847, sự kiện nổ súng năm 1858 đến quá trình chiếm đóng toàn bộ Việt Nam. Luận án trích dẫn các nhận định trong Thiên hạ phân hợp đại thế luận (1863) của Nguyễn Trường Tộ và Thời vụ sách (1874) của Nguyễn Lộ Trạch để phân tích nhận thức của giới trí thức về thủ đoạn xâm lăng phương Tây.
  • Chủ nghĩa yêu nước trong truyền thống và sự biến đổi tư tưởng: Nhận định rằng đối đầu với thực dân Pháp là cuộc đụng độ với một kẻ thù hoàn toàn khác về bản chất so với các thế lực phong kiến phương Bắc trước đây. Trước sự đầu hàng từng bước của triều đình nhà Nguyễn, hệ tư tưởng Nho giáo rơi vào khủng hoảng sâu sắc, thúc đẩy lòng yêu nước của tầng lớp sĩ phu gắn liền với quyền lợi của nhân dân và vận mệnh dân tộc.

Chương 2: Quá trình hình thành và diện mạo tổng quát của bộ phận văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX ở Việt Nam

Chương 2 phân tích sự vận động nội tại và phác họa không gian văn học:

  • Sự biến động nội tại của nội dung yêu nước: Làm rõ sự phân hóa tư tưởng từ trung quân ái quốc truyền thống sang tinh thần vì nước thương dân khi ngai vàng phong kiến không còn đại diện cho quyền lợi quốc gia.
  • Diện mạo văn học phân theo ba khu vực:
    • Văn học yêu nước khu vực Nam Kỳ: Là nơi đối đầu quân sự sớm nhất (1858–1884), văn học mang tính chiến đấu trực diện, đề cao nghĩa khí và phản ánh sự bất lực của chính quyền trung ương. Khu vực này tập trung các tên tuổi: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Thông. Môi trường văn hóa Đàng Trong ít bị Nho giáo chi phối nặng nề như Bắc Hà đã tạo ra tiếng nói bộc trực, gắn với đại chúng.
    • Văn học yêu nước khu vực Bắc Kỳ: Mang đậm dấu ấn của trung tâm Nho học truyền thống. Tác phẩm của Phạm Văn Nghị, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Cao phản ánh sự dằn vặt của tầng lớp sĩ phu giữa nghĩa vụ phong kiến và thực tế mất nước, đồng thời ghi lại các cuộc chiến đấu kiên cường ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Kỳ.
    • Văn học yêu nước khu vực Trung Kỳ: Gắn liền với phong trào Cần vương và trung tâm chính trị Huế. Thơ văn của Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân thể hiện khí chất quyết liệt, ý chí kiên trung của những thủ lĩnh đứng đầu nghĩa quân tại vùng đất giàu truyền thống chống giặc ngoại xâm.
  • Đặc điểm loại hình tác giả và quan hệ với văn học dân gian: Luận án xác định lực lượng sáng tác chủ yếu là kiểu nhà Nho hành đạo thời kỳ "cuối mùa" – những người trực tiếp cầm gươm lãnh đạo phong trào kháng chiến. Bộ phận văn chương này có sự gắn kết chặt chẽ với văn học dân gian thông qua các thể loại vè, ca dao yêu nước truyền miệng.

Chương 3: Văn học yêu nước giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc

Chương 3 đi sâu vào các bình diện thi pháp học lịch sử:

  • Quan niệm văn học và tư tưởng thẩm mỹ: Văn học giai đoạn này lấy tinh thần hành đạo cứu nước làm mục đích tối thượng; các phạm trù thẩm mỹ cái bi, cái hùng và cái cao cả hòa quyện chặt chẽ khi miêu tả sự hy sinh của các nghĩa sĩ và lãnh tụ nghĩa quân.
  • Hệ thống chủ đề, đề tài và luận đề trung tâm: Luận đề xuyên suốt là chống giặc ngoại xâm gắn liền với việc bảo vệ các chuẩn mực đạo lý dân tộc đã được Nho giáo hóa, chuyển dịch dần sang tư tưởng nhân dân.
  • Hệ thống hình tượng: Hình tượng trung tâm là người trí thức Nho gia hành đạo xả thân vì nước và hình tượng người nông dân - nghĩa sĩ (tiêu biểu trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu).
  • Hệ thống thể loại và sự đại chúng hóa ngôn ngữ: Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, hịch, câu đối và đặc biệt là thể Văn tế phát triển mạnh. Ngôn ngữ văn học có bước chuyển rõ nét: đưa khẩu ngữ, từ ngữ địa phương và chữ Nôm vào cấu trúc văn chương bác học.
  • Bút pháp, phong cách và bước chuẩn bị chuyển tiếp: Khắc họa bút pháp trữ tình - sử thi kết hợp các yếu tố hiện thực và trào phúng đả kích bè lũ tay sai. Giai đoạn này tạo lập bước chuẩn bị tiền đề về tâm thức và ngôn ngữ cho văn chương yêu nước, cách mạng đầu thế kỷ XX của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đặt văn học yêu nước giai đoạn 1858–1900 trong sự phân định rõ rệt với văn học trung đại trước đó (vốn diễn ra trong khuôn khổ xung đột giữa các quốc gia phong kiến phương Đông) và văn học cách mạng đầu thế kỷ XX (vốn gắn với các ý thức hệ dân chủ tư sản và vô sản).
  2. Phác họa diện mạo văn học theo tính chất địa văn hóa của ba miền Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ; lý giải nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về phong cách, ngôn ngữ và cảm hứng sáng tác giữa các vùng dựa trên thiết chế chính trị, giáo dục và hoàn cảnh kháng chiến cụ thể.
  3. Xác lập đặc điểm loại hình tác giả nhà Nho hành đạo giai đoạn cuối mùa – những trí thức khoa bảng trực tiếp trở thành thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa vũ trang, từ đó giải thích sự biến đổi từ quan niệm văn dĩ tải đạo phong kiến sang văn chương chiến đấu vì sinh mệnh dân tộc.
  4. Chỉ ra bước chuyển về mặt ngôn ngữ và thể loại, đặc biệt là vị trí của thể văn tế và tiến trình đại chúng hóa ngôn ngữ chữ Nôm trong văn học viết.
  5. Về mặt ứng dụng thực tiễn, luận án cung cấp tư liệu và luận cứ khoa học phục vụ công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình văn học Việt Nam trung - cận đại ở bậc đại học, cao đẳng và phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo đánh giá của các phản biện (GS. Phong Lê, PGS.TS Lã Nhâm Thìn, PGS.TS Đinh Trí Dũng) và Quyết nghị của Hội đồng chấm luận án:

  • Về kết cấu và logic hình thức: Tiêu đề Chương 3 có sự trùng lặp về mặt nội dung với tên chung của luận án; các phần đầu của Chương 1 và Chương 2 còn nặng tính chất trình bày lịch sử - xã hội học hơn là phân tích văn học sử chuyên sâu.
  • Về phương pháp và số liệu: Phương pháp thống kê, phân loại văn bản chưa được thể hiện cụ thể bằng các bảng biểu định lượng chi tiết trong nội dung in ấn.
  • Về phạm vi đối tượng: Luận án tập trung chủ yếu vào dòng văn học chủ lưu chống thực dân Pháp, chưa mở rộng phân tích các tác giả thuộc vùng ngoại vi hoặc có vị thế chính trị phức tạp thời kỳ này (như Phan Thanh Giản, Tôn Thọ Tường, Trương Vĩnh Ký, Hoàng Cao Khải); cái nhìn đối với triều đình nhà Nguyễn còn mang định kiến khắt khe, thiếu tính lịch sử toàn diện.
  • Về thi pháp: Phần bút pháp nghệ thuật chủ yếu tập trung vào khuynh hướng trữ tình, chưa đi sâu khảo sát đầy đủ bút pháp tự sự và bút pháp trào phúng; chưa làm rõ mục đích sáng tác chuyên biệt của từng nhóm tác giả.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung: Tăng cường sưu tầm, dịch thuật và hiệu đính các văn bản Hán Nôm còn tản mát tại các địa phương; mở rộng khảo sát các hiện tượng văn học phi chủ lưu; bổ sung khảo sát địa văn hóa miền Trung và Tây Bắc.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Văn hóa học nghiên cứu về giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX.
  • Giảng viên các trường đại học, cao đẳng và giáo viên phổ thông sử dụng trong việc thiết kế bài giảng, phân tích các tác gia như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Đình Phùng, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Thông.
  • Các phần đáng tham khảo: Khung phân tích sự phân hóa ba vùng văn học (Nam – Trung – Bắc) ở Chương 2 và hệ thống phân tích thể loại, ngôn ngữ đại chúng hóa ở Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giới hạn phạm vi khảo sát văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX trong mốc thời gian nào? Luận án giới hạn khảo sát từ khi thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược năm 1858 đến mốc bản lề năm 1900 (khi phong trào Cần vương đã tan rã và trước khi các phong trào yêu nước theo khuynh hướng mới đầu thế kỷ XX xuất hiện).

2. Điểm khác biệt căn bản giữa văn học yêu nước giai đoạn này với văn học yêu nước các thế kỷ trước là gì? Văn học yêu nước các thế kỷ trước diễn ra trong bối cảnh các cuộc chiến tranh phong kiến tương đồng về hình thái kinh tế - xã hội (giữa Việt Nam và các triều đại phong kiến phương Bắc), mục tiêu yêu nước gắn chặt với trung quân. Văn học nửa sau thế kỷ XIX đối đầu với chủ nghĩa tư bản thực dân phương Tây khác hẳn về bản chất, trong bối cảnh chế độ phong kiến nhà Nguyễn suy tàn và đầu hàng, buộc ý thức hệ yêu nước phải phân ly khỏi ý thức hệ trung quân và gắn liền với nhân dân.

3. Vì sao có sự khác biệt giữa văn học yêu nước Nam Kỳ và Bắc Kỳ theo phân tích của tác giả? Ở Bắc Kỳ, chế độ thi cử và truyền thống Nho học lâu đời duy trì quyền uy tuyệt đối của ý thức hệ Khổng giáo, khiến tác phẩm mang nặng tính quy phạm và sự dằn vặt luân lý phong kiến. Ở Nam Kỳ (vùng đất mới Đàng Trong), Nho giáo không giữ vai trò độc tôn tuyệt đối; thể chế cai trị mang tính quân sự hóa và đời sống cởi mở đã định hình phong cách văn học mộc mạc, giàu nghĩa khí, bộc trực và gắn kết tự nhiên với ngôn ngữ dân gian.

4. Loại hình tác giả trung tâm của văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX được xác định là gì? Đó là loại hình nhà Nho hành đạo thời kỳ "cuối mùa". Đây là các sĩ phu, nhà Nho khoa bảng (Đình nguyên, Hoàng giáp, Cử nhân...) từ bỏ quan trường hoặc bất hợp tác với giặc, trực tiếp cầm vũ khí chỉ huy phong trào kháng chiến và coi việc sáng tác thơ văn là phương tiện biểu đạt ý chí, phục vụ trực tiếp cho cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước.

5. Thể loại văn học nào được xem là một hiện tượng đặc biệt của văn học yêu nước giai đoạn này? Thể Văn tế (tiêu biểu là các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định) được xem là hiện tượng nghệ thuật đặc biệt, đưa người nông dân nghèo khổ trở thành hình tượng trung tâm của văn học bác học và tạo dựng âm hưởng bi tráng đặc thù cho thời đại.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Thế là công trình nghiên cứu hệ thống về văn học yêu nước Việt Nam giai đoạn 1858–1900 trong dòng chảy lịch sử văn học dân tộc. Tác giả đã tái hiện diện mạo phong trào văn học qua việc khảo sát tác phẩm của các nhà Nho hành đạo trên ba vùng địa văn hóa Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và làm rõ mối quan hệ giữa văn học viết với văn học dân gian. Công trình chỉ ra những biến đổi về quan niệm thẩm mỹ, sự xuất hiện của hình tượng người nghĩa sĩ nông dân và bước đại chúng hóa ngôn ngữ, xác lập vị trí của giai đoạn này như một bản lề chuyển tiếp sang văn học yêu nước - cách mạng đầu thế kỷ XX.