CHƯƠNG 1: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI. Cảm hứng là một bộ phận không thể tách rời của nội dung tư tưởng và nghệ thuật tác phẩm. Nhờ có cảm hứng, tác phẩm có thể làm rung động trái tim độc giả, đề tài, chủ đề mới được khái quát, lí giải có chiều sâu và mang tính thẩm mĩ. Cùng với đề tài, chủ đề, tính điệu thẩm mĩ, cảm hứng góp phần tạo nên giá trị tư tưởng nghệ thuật cho tác phẩm.
Đọc Nguyễn Khải, tham khảo ý kiến đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu phê bình, chúng tôi nhận thấy, cảm hứng tư tưởng xuyên suốt quá trình sáng tác tiểu thuyết của ông là cảm hứng nghiên cứu, phân tích. Với bản chất thông minh nhạy cảm, ham hiểu biết, nhà văn luôn nhìn thấy ở hiện thực cuộc sống biết bao bao vấn đề thuộc về con người, về cuộc sống, cần phải được nhận thức, khám phá toàn bộ sự thực, với những qui luật phát triển lịch sử của nó. Vì thế, tinh thần phân tích xã hội và nghiên cứu con người là những vấn đề cốt lõi trong cảm hứng sáng tạo, làm cho tác phẩm của nhà văn không rơi vào tình trạng công thức giáo điều, dù nó ra đời ở thời kì văn học nặng về minh họa. Trong tiểu thuyết Nguyễn Khải, “mỗi nhân vật của ông muốn là một túi khôn, mỗi trang viết của ông là một trang dạy khôn thiên hạ” (46, 416).
Nội dung ấy đã đáp ứng được yêu cầu bức thiết của văn học nghệ thuật, không chỉ làm cho con người hiểu biết để nhân ái hơn, lương thiện hơn, mà còn làm cho con người đa dạng phong phú từng trải, hiểu biết về tất cả những vấn đề xã hội, nhân sinh có ảnh hưởng trực tiếp, hoặc liên quan đến cuộc sống của mình. Nghiên cứu, phân tích hiện thực, nâng cao trình độ tư duy nhận thức cho con người là một đặc trưng nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải, đồng thời nó cũng là một nguyên tắc sáng tác của văn học hiện thực cách mạng, kể từ khi miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. cảm hứng này được tác giả thể hiện qua tác phẩm, ở hai vấn đề mang tính triết học, có ý nghĩa nhân sinh lâu dài. Cảm hứng nghiên cứu, phân tích thể hiện qua cuộc đấu tranh giải phóng con người ra khỏi niềm tin mê muội vào tôn giáo và những thiết chế tôn giáo ngăn cản sự phát triển của con người, giúp họ được sống và làm việc một cách thanh thản, hạnh phúc.
Phải thừa nhận, tôn giáo là một phần tất yếu đóng vai trò quan trọng chi phối đời sống tinh thần xã hội. Nó có lịch sử lâu đời và mang tính văn hóa. Trong chế độ xã hội chủ Luan van nghĩa, mỗi công dân đều có quyền được tự do tín ngưỡng, và tự do không tín ngưỡng, được phép tìm đến một đức tin mà không ai có quyền ngăn cản. ở phía tươi sáng nhất, tôn giáo nào cũng mang trong nó những tư tưởng lành mạnh, tiến bộ, góp phần hướng thiện con người.
Ở Phật giáo là tinh thần phá chấp triệt để, từ bi hỉ sả cứu khổ cứu nạn, kết hợp với truyền thống tương thân tương ái của dân tộc, từ lâu đã trở thành nghệ thuật sống đúng đắn, tạo nên những nhân cách cao đẹp được lịch sử ghi nhận (thời đại Lý Trần là một ví dụ tiêu biểu). Thiên Chúa giáo cũng kêu gọi con người sống bác ái, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, biết xám hối trước những lỗi lầm mắc phải, để bản thân ngày một hoàn thiện hơn. Bên cạnh mặt tốt đẹp ấy, tôn giáo cũng bộc lộ không ít những hạn chế, thậm chí để lại những di chứng tai hại trong đời sống con người, cản trở sự tiến bộ xã hội. Một số kẻ đã lợi dụng tôn giáo để trục lợi, hay mưu đồ chính trị.
Một bộ phận quần chúng ngộ nhận tự do tín ngưỡng, nhầm lẫn giữa niềm tin tôn giáo với hủ tục mê tín dị đoan, tự biến mình thành những nạn nhân khốn khổ của thần quyền. So với Phật giáo, Thiên Chúa giáo du nhập vào nước ta muộn hơn, nhưng ảnh hưởng cửa nó đến đời sống tư tưởng con người và tinh thần dân tộc thật sâu sắc, ở cả hai bình diện tích cực và tiêu cực. Vì thế, nó trở thành một đề tài mới, khá thú vị trong văn học. ơ lĩnh vực này, Nguyễn Khải được đánh giá là người có những tác phẩm giá trị, có những hiểu biết nghiêm túc về tôn giáo.
Qua bộ tứ tiểu thuyết “Xung đột”, “Cha và con và.”, “Điều tra về một cái chết”, và “Thời gian của người”, Nguyễn Khải cho độc giả thấy được tất cả những mặt hay, dở của Thiên Chúa giáo và tác động của nó lên đời sống cộng đồng. Để giải phóng giáo dân ra khỏi niềm tin mê muội và những thiết chế tôn giáo ngăn cản sự phát triển con người, Nguyễn Khải đã xây dựng những nhân vật phản diện. Qua những hình tượng ấy, giáo dân từng bước nhận thấy bản chất xấu xa, bỉ ổi, tàn bạo của những kẻ đội lốt thầy tu và mặt trái của thứ tôn giáo chủ trương đứng bên lề cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đó, họ tự biết mình phải làm gì để không trở thành nạn nhân.
“Xung đột” ra đời nhờ chuyến đi thực tế của nhà văn đến một vùng nông thôn công giáo ở tỉnh Nam Định. Thông qua câu chuyện ở xóm đạo Nghĩa Hưng, nhà văn đã tái hiện một cách sinh động cuộc đấu tranh giữa những cán bộ cách mạng và bọn phản động núp bóng nhà thờ. Cha Vinh là tên phản động đã gây ra nhiều tội ác với dân làng, hắn “đã từng cộng tác với quân Pháp trong suốt mấy chục năm chúng chiếm đóng” đã từng mang quân từ Phát Diệm về đốt trụi xóm làng, lấy thóc của nhà xứ, cướp thóc của dân, hành hạ những người không theo hắn, con ông Thiềm là một nạn nhân tiêu biểu. Sau cải cách ruộng đất, Luan van cha Vinh vẫn không thay đổi bản chất của mình, dù đã được cách mạng cho đi cải tạo giáo dục.
Hắn vẫn tỏ ra nguy hiểm. Trước mặt cán bộ xã thì nhún nhường hạ giọng, nhưng ẩn trong những câu nói vẫn là sự xỏ xiên khiêu khích. Môn nổi tiếng là người đã từng ăn cơm khắp thiên hạ, khôn ngoan không ai có thể bịp được cũng đã từng bị cha Vinh “xỏ ngọt” và gọi là “con sói dữ”, nhưng không biết trị hắn bằng cách nào. Cũng giống như cha Lân, người có giọng nói “cứ trơn nhẫy như bọc ngoài một lớp nhớt mỏng, rất khó nắm bắt được ý thật của người nói và càng khó đề phòng”, hắn là người nổi tiếng nhất về rao truyền kinh thánh trong địa phận, âm mưu dùng tòa Thánh làm bàn đạp tấn công chế độ mới.
Vũ khí sắc bén của bọn này chính là cái lưỡi của chúng. Trước khi “bị chính phủ cho đi tù mười hai tháng”, cha Vinh vẫn kịp dặn dò con chiên “Đừng thấy giáo dân có chức vụ, địa vị trong xã hội mà đã tin. Bề ngoài là thế chứ trong lòng là quân phản Chúa”. Trợ thủ đắc lực của cha Vinh là tu sĩ Thịnh.
“Lãnh tụ liền tôn diệt cộng toàn khu. Thầy chỉ tạm náu mình trong chiếc áo dài thâm xẻ tà nhưng uy quyền của thầy còn gấp bội những áo chùng thâm bịt tà”. Thừa biết ở thôn Hỗ, từ lâu, người dân đã mê muội tin vào Chúa Trời để sống cam chịu, không dám làm trái với lời răn dạy của các cha, tu sĩ Thịnh đã lôi kéo được những kẻ ngu đạo về phía mình bằng việc kể ra những tấm gương tử vì đạo như “Bình Huy, Bình Đạt, thầy già thầy Uyển bị kẹp cổ, tuốt nứa, sỏ chân vào lưỡi cày nung đỏ mà vẫn không chịu bước qua cây thánh giá”. Trước khi kể, không biết lần thứ bao nhiêu câu chuyện này, thầy luôn tạo ra một không khí trang nghiêm bằng vẻ mặt “cổ kính và huyền bí”.
Thầy đã thật thành công trong việc “quyến rũ người ta đi theo không kịp do dự, kích người ta hành động không kịp suy nghĩ, y như một tia lửa bén đến làm bùng cháy sự tin yêu phẫn nộ vốn ấp ủ trong lòng mỗi người. Mặt Lý nóng lên như muốn bắn ra tia máu đỏ tươi, mắt rưng rưng như muôn khóc, Quảng ngồi đôi diện với Lý cũng trong một trạng thái bị kích thích đến tột độ”. Ngay sau đó, người đọc chứng kiến một đoàn hơn hai mươi người, phần lớn là thiếu nữ đi bắt “hai con qủi nguy hiểm”. Lý một mực đòi trói nghiến Thụy lại sau khi tuyên bố “vũ lực là xong”, “không phải cãi”, “có chết cũng chỉ mình gái này”, theo thị, “dù có chết một hai người cũng là tử vì đạo”.
Quảng sẵn sàng nằm giả chết để vu vạ cho bộ đội tội đánh dân. Vợ Tường cũng góp công bằng một màn phô diễn thô thiển có lẽ vào loại “độc nhất vô nhị”: “Hôm Quảng gieo vạ, thị vén ngược áo vạch hai bầu vú đánh nhau tay đôi với bộ đội, mồm lu loa: “Nào chúng mày có giỏi thì đâm bà đi, bắn bà một phát xem nào!”. Có một anh lấy tay đun thẳng chị ra, lập tức thị nắm chặt lấy cổ tay anh ấy áp vào vú mình chu chéo “ơi ông cả bà nhớn ơi! Xem đây này, ban ngày ban mặt mà bộ đội dám bóp vú tôi đây này”.Chỉ bằng vài Luan van chi tiết nghệ thuật, Nguyễn Khải cho người đọc thấy được sức mạnh ghê gớm của bọn người nhà đạo trong việc đấu tranh chống phá chính quyền, khi chúng có trong tay một cách dễ dàng những giáo dân sẵn sàng “tử vì đạo”. Sau việc cứu cha Vinh không thành, biết không thể thắng được cán bộ cách mạng, nếu chỉ trông vào một nhóm người “hữu dũng vô mưu”, bọn phản động đội lốt tôn giáo đã sử dụng kiểu “chiến tranh tâm lí”.
Chúng quay sang thuyết phục, lợi dụng người thân của những cán bộ, kích động họ để tạo ra những mâu thuẫn âm ỉ trong mỗi gia đình, nhằm phá hoại tình cảm thiêng liêng giữa cha mẹ - con cái, vợ chồng. Tường về quê ăn tết, lần đầu tiên sau gần mười năm đi bộ đội, nhưng gia đình đón anh bằng sự ghẻ lạnh đáng kinh ngạc. Điều này làm Tường đau đớn. Không khí gia đình anh trở nên căng thẳng.
Nguyên nhân chính là việc người thân của anh đã quá tin vào miệng lưỡi xúc Xiểm của kẻ xấu, nên một mực cho rằng anh đi theo cách mạng là vô đạo. Ngày cuối cùng ở nhà, Tường phải đi đến một quyết định thật khó khăn: “Bố mẹ sợ liên lụy vì con, không muốn nhận con nữa thì cứ việc làm giấy lên ủy ban mà từ. Con xin chịu.