mở đầu bằng một câu hỏi tu từ: “Liệu nền văn chương Nhật Bản có ruỗng nát?”. Ông còn cho rằng nền văn học thuần túy Nhật Bản đang thoái trào trước sức tấn công của dòng văn chương đại chúng, và coi tác phẩm của Murakami thuộc dòng văn chương “không thanh cao”. Năm 1990, Oe phát biểu trong Hội nghị Quốc tế tại San Fransico: “Murakami, một nhà văn tuổi 40, và vì thế thuộc thế hệ đi trước Yoshimoto, chúng ta thấy tác phẩm của ông thể hiện rõ những thói quen văn hóa hiện đại phô trương quá đáng. Murakami cũng là một bạn đọc chu đáo, hệt như một người dịch đã diễn tả chủ nghĩa tối giản theo một ngòi bút miêu tả Nhật Bản gợi cảm vậy.” [122] Giới phê bình thủ cựu Nhật Bản đã miệt thị Murakami là kẻ “phản bội” lại truyền thống, “kẻ nghiền bơ”, “kẻ lai căng”, hay “đứa con ngỗ ngược”… Giữ thái độ điềm tĩnh trước tất cả những lời khen chê, Murakami bộc lộ chính kiến về thực tế đã tồn tại từ rất lâu của nền văn học Nhật Bản: “Trong thế giới văn chương Nhật Bản, thấy rõ hệ thống tầng bậc, trong đó cần phải trải qua con đường từ thấp đến cao.
Và nếu như bạn đang đứng ở đỉnh cao, thì bạn có quyền đánh giá những nhà văn khác. Bạn sẽ đọc những tác phẩm khác nhau và sẽ trao những giải thưởng khác nhau. Tuy nhiên, ở tầng trên cao, thậm chí người ta còn hồ nghi những nhà văn trẻ ở tầng dưới đang làm gì… Khi tôi viết những tác phẩm đầu tay của mình, cấp trên đã tuyên bố rằng nền văn học Nhật Bản đang ruỗng nát, đang suy đồi. Đây không phải là suy đồi, đây là cái gì đó mới.
Nhiều người không thích những chuyển biến. Các nhà văn thế hệ trưởng lão sống trong thế giới khép kín. Họ không có chút khái niệm nào về những gì đang diễn ra chung quanh.” [129] Và ông kiên định quan điểm với tư cách một nhà văn: “Tôi muốn thay đổi nền văn học Nhật Bản từ bên trong chứ không phải bằng hình thức bên ngoài. Murakami đã giới thiệu những đứa con tinh thần của mình với “thị trường” châu Âu rộng lớn và nhiều thử thách.
Giới phê bình, nghiên cứu ở đây đánh giá rất cao:“Murakami là một trong rất ít các tác giả được đánh giá là có tầm cỡ thế giới.” [129] Được công nhận nhà văn quốc tế, được độc giả yêu thích với hàng loạt tiểu thuyết xuất sắc, tác phẩm Murakami luôn tạo ra một luồng sóng mạnh mẽ ở bất kì nước nào mà nó đi qua. Tên Murakami đã trở thành “hiện tượng văn hóa” toàn cầu”: Murakami là nhà văn Nhật được yêu thích nhất ở Hàn Quốc, Italia, Pháp,.; là hiện tượng văn hóa ở Thổ Nhĩ Kì; người Nga rất kính trọng và say mê đọc tiểu thuyết Murakami; độc giả Trung Quốc, bất chấp những bất đồng về chính trị giữa hai nước, đón nhận Murakami một cách nồng nhiệt. Tên của Murakami còn được đặt cho một loại coktail nổi tiếng. Với danh hiệu “đại sứ toàn cầu”, Murakami đã hoàn thành trọng trách nối kết các nền văn hóa khác nhau, xóa nhòa ranh giới giữa văn chương các châu lục, điều mà không phải nhà văn Nhật nào cũng làm được.
Lịch sử văn học Nhật Bản đã chính thức công nhận Murakami là nhà văn “trung tâm của văn học đương đại”, là cột mốc đánh dấu sự chuyển biến của nền văn học dân tộc với hai giai đoạn: trước và sau Murakami. Các nhà văn thế hệ sau coi Murakami là thần tượng và học theo lối viết của ông. Văn chương đương đại Nhật Bản coi ông là “người kể chuyện bậc thầy”. Nghệ thuật tự sự độc đáo và việc Murakami đã làm thay đổi diện mạo văn xuôi tự sự Nhật Bản như thế nào? Vấn đề này sẽ được chúng tôi tiếp tục lí giải ở những phần tiếp theo.
Khái lược đặc điểm tự sự Nhật Bản Nếu lịch sử văn học hiện đại Nhật Bản đã vinh danh Murakami Haruki là cột mốc đánh dấu sự chuyển biến của nền văn học dân tộc với hai giai đoạn: trước và sau Murakami thì đặc điểm của văn xuôi tự sự Nhật Bản cũng có thể được phân chia thành hai giai đoạn chính: tự sự Nhật Bản trước và sau Murakami. Giai đoạn trước Murakami (từ khởi thủy đến 1989) Thời Cổ đại Cũng như hầu hết các nền văn học khác, văn học Nhật Bản khởi thủy từ văn học dân gian. Khi chưa có chữ viết, người Nhật đã sở hữu một kho tàng những bài ca, thần thoại, truyền thuyết… độc đáo của mình. Đến khi xuất hiện chữ kana, nền văn học viết ra đời với văn học Heian (thế kỉ IX – XII), thì bộ phận văn học dân gian vẫn song song tồn tại.
Văn học Heian là nền văn học của giới quý tộc cung đình. Dần dần, nó đã tách khỏi bộ phận văn học dân gian và có đời sống độc lập riêng. Nguồn gốc của văn chương Heian chính là những truyền thuyết, truyện kể trong môi trường bộ tộc ở Nhật Bản, được ghi lại chủ yếu trong hai tập: Kojiki (Cổ kí sự) và Nihon Shoki (Nhật Bản kỉ). Văn chương Heian không chỉ được xây dựng trên chất liệu là những truyền thuyết, huyền thoại dân gian thời kì trước, mà còn lấy chất liệu từ những truyện về Phật giáo được du nhập từ Trung Quốc lúc bấy giờ: “Các truyền thuyết thường có nội dung anh hùng còn các truyện cổ tích lại được xây dựng trên đề tài thế sự nào đó.
Cùng với những mạch nguồn này, văn xuôi tự sự còn có những truyện thần kì Phật giáo và cả Đạo giáo đã thâm nhập vào Nhật Bản cùng với các hiện tượng khác nhau của văn hóa Trung Quốc. Từ hai nguồn mạch này đã ra đời một dòng văn học có thể được gọi là dòng truyện kể có cốt truyện: denki – monogatari.9] Văn xuôi tự sự Nhật Bản thời Heian có các hình thức khác nhau, tiêu biểu nhất là thể loại truyện kể, hay còn gọi là vật ngữ (monogatari) – cách gọi chung cho mọi thể loại tự sự thời Heian: “Monogatari (vật ngữ) là cái tên mà người Nhật dùng để gọi mọi loại văn tự sự, có thể dịch là truyện, kể cả truyện ngắn và truyện dài, truyền kì và tiểu thuyết.65] Khoảng năm 893, xuất hiện Taketori monogatari (Truyện ông già đốn trúc) – tác phẩm có thể coi là khởi nguồn cho thể loại truyện ngắn sau này. Truyện có kết cấu được xây dựng theo kiểu liên kết các câu chuyện cổ tích thành một chuỗi và “viền” quanh bằng một truyện ngắn, giống kiểu kết cấu theo lối vòng tròn. Các tiểu truyện đa phần vay mượn từ truyện kể dân gian và các truyện thần kì của Phật giáo du nhập từ Trung Quốc.
Năm 931, Ise monogatari (Truyện Ise) xuất hiện, được coi là tác phẩm khởi đầu cho thể loại tiểu thuyết. Nghệ thuật kể chuyện của Ise monogatari được đánh giá là phát triển cao hơn so với Taketori monogatari vì “Taketori monogatari là hình thức sơ khai của văn xuôi tự sự - nó hầu như là một truyện kể vòng tròn, còn Ise monogatari đã đi được một nửa đoạn đường tới hình thức tiếp theo – tới truyện tiểu sử - và sau đó đến truyện giáo huấn và thế sự.11] Sự phát triển của thể loại monogatari đạt tới đỉnh cao khi xuất hiện kiệt tác Genji monogatari (Truyện Genji). Đó cũng là cuốn tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên của tự sự Nhật Bản và thế giới. Cho đến nay, hầu hết các nhà phê bình, nghiên cứu đều khẳng định Genji monogatari là đỉnh cao của tự sự Nhật Bản giai đoạn Heian nói riêng và là kiệt tác của nền văn xuôi tự sự Nhật Bản nói chung.
Với Genji monogatari, nữ sĩ Murasaki Shikibu đã chính thức khai sinh thể loại tiểu thuyết – theo đúng nghĩa của từ này. Nhà nghiên cứu Olga Kenyon nhận định: “Phụ nữ chính là mẹ của tiểu thuyết. Thế mà các nhà phê bình nam giới từng dạy chúng ta rằng cha đẻ của tiểu thuyết là Defoe và Richardson. Nhưng trước họ rất lâu, chính phụ nữ đã bắt đầu phát triển thể loại tiểu thuyết.
Tác phẩm đầu tiên mà chúng ta biết là Truyện Genji, do bà Murasaki viết vào thế kỉ XI ở Nhật.141] Xếp Genji monogatari vào hàng kiệt tác, là cuốn tiểu thuyết thuyết đầu tiên của văn xuôi tự sự Nhật Bản, giới nghiên cứu đã đưa ra những tiêu chí sau: Thứ nhất, quan điểm sáng tác rất rõ ràng của Murasaki Shikibu. Bà phân định rạch ròi sự khác nhau giữa việc mô tả chi tiết đời sống hiện thực trong Truyện Genji với việc ghi chép lại những sự kiện lịch sử trong các câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại (Kojiki - Cổ kí sự và Nihon Shoki - Nhật Bản kỉ). Trước Murasaki, chưa ai nhận ra điều này. Tác giả của Genji đã khẳng định vai trò của tiểu thuyết ngay từ đầu thế kỉ XI: “Không có tiểu thuyết thì làm thế nào chúng ta biết con người sống ra sao trong quá khứ, từ thời thần linh đến ngày hôm nay? Vì sử sách, như cuốn Nhật Bản thư kỉ, chỉ cho ta nhìn một góc nhỏ hẹp của đời sống.
Trong khi đó, những cuốn nhật kí và tiểu thuyết mà tôi thấy chất đầy quanh đây chắc chắn chứa đựng những sự việc chi li nhất về những cuộc đời riêng tư…” [8, tr.112] Nhận thức sâu sắc vai trò của việc phản ánh hiện thực chân xác và sống động của tiểu thuyết, “nhà lập thuyết” Murasaki còn cho rằng đối tượng phản ánh của tiểu thuyết không chỉ là cái tốt đẹp, mà có cả cái xấu xa, điên rồ trong đời sống. Theo Murasaki, cứu cánh của tiểu thuyết không phải là đạo đức, giáo lí mà chỉ có thể là nghệ thuật. Bà tin tưởng vào thứ nghệ thuật thật sự của đời sống ấy: “… có thể nói rằng nghệ thuật tiểu thuyết đáng cho ta tin tưởng bởi vì, trong việc theo đuổi một cứu cánh kể trên, nó đặt cái thiện bên cái ác, hoặc hòa lẫn hiền minh với ngu dại.114] Như thế, Murasaki Shikibu không chỉ là tiểu thuyết gia mà còn là một nhà lí luận văn học tài ba. Những tư tưởng của bà không chỉ đúng với thời ấy mà còn nguyên giá trị cho đến hôm nay, minh chứng cho một hiện tượng phi thường của văn học Heian.
Thứ hai, điều làm cho Genji monogatari trở thành tiểu thuyết không gì khác là giá trị hiện thực mà nó đã phản ánh. Đó là tấm gương phản chiếu thời đại – những con người sống trong vương triều Heian.