Chương 1 VĂN HỌC NHẠT BẢN TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA CÁC LÀN SÓNG VĂN HÓA - VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY 1. Sự tiếp xúc và tiếp biến văn học phương Tây của văn học Nhật Bản Có thể khăng định rằng, bất cứ nền văn hóa nào muốn phát triển đều tiếp nhận ảnh hưởng ở mức độ ít hay nhiều, hẹp hay rộng các nền văn hóa khác ở bên ngoài nó bởi những thay đổi về lịch sử, xã hội và thời đại. Văn học Nhật Bản đã trải qua một tiễn trình phát triển lâu dài, tới hơn một nghìn năm cùng với những sự kiện, biến cố của lịch sử dân tộc. Ban đầu, nền văn học Nhật Bản chịu ảnh hưởng sâu sắc của chữ Hán cô.
Tuy sau đó, qua một thời gian dài nó đã phát triển theo phong cách riêng của mình, song nền văn học này vẫn chịu ảnh hưởng của văn hóa và văn học Trung Hoa cho đến cuối thời ki Edo”. Vào nửa thế ki XIX, sau khi Nhật Bản bãi bỏ chính sách bế quan tỏa cảng và thiết lập ngoại giao với các nước phương Tây thì nền văn học Nhật Bản từ đó đến nay đã chịu nhiều ảnh hưởng của phong cách văn học phương Tây. Không thể không kể đến tác động của cuộc Duy Tân Minh Trị năm 1868. Nó có ý nghĩa lớn lao trong lịch sử chính trị, văn hóa, xã hội của Nhật Bản.
Nó tạo ra một bước ngoặt mới có thể coi là bắt đầu cho công cuộc hiện đại hóa Nhật Bản. Cuộc cải cách đã giúp đất nước nay phát triển về mọi mặt. xu hướng văn học mới ra đời. Và chính các nhà văn thuộc nhiều thế hệ khác nhau đã lần lượt làm nên diện mạo của nền văn học Nhật Bản hiện đại.
Văn học đi theo xu hướng chung, hòa nhập vào quỹ đạo thế giới và dần dần lại tự tạo dựng cho mình những giá trị riêng biệt. Nước Nhật đã từng tuyên bố đi theo phương Tây, học phương Tây, đuôi kịp và vượt phương Tây. ? Thời kì Edo - YL (Tokugawa - ƒ#8JI|): 1603-1867 13 Làn sóng văn học phương Tây tràn vào Nhật Bản trước hết là qua các cuốn sách dịch. Thêm vào đó là con đường tiếp xúc trực tiếp của các tác giả văn học Nhật Bản khi họ du học ở các nước Tây phương.
Từ khi có cuộc duy tân thời Minh Trị, rất nhiều du học sinh Nhật Bản ra ngoại quốc. Trong số đó hai nhà văn, vốn là hai du học sinh có tiếng nhất là Mori Ogai (đi Đức) và Natsume Soseki (Anh). Ngoài ra còn có Futabatei Shimei (Nga), Takamura Kotaro (Mỹ, Pháp), Nagai Kafu (Mỹ, Pháp), Arishima Takeo (Mỹ), Hori Tatsuo (Pháp). Futabatei Shimei là người tiếp nhận lý luận của chủ nghĩa hiện thực đạt đến trình độ cao qua nên văn học Nga; con Mori Ogai sau khi lưu học ở Đức về đã nỗ lực mở ra những hoạt động khai trí mang khuynh hướng lãng mạn trên các lĩnh vực như thơ, phê bình văn học và dịch thuật.
Đó là tên tudi của một số tác giả đặt nên móng quan trọng cho sự hiện đại hóa nền văn học Nhật Bản thời kì này. Đồng thời, các nhà văn Âu Mỹ cũng đã đặt chân lên đất Nhật và tiến hành những công trình nghiên cứu của họ. Các nhà văn thuộc thế hệ sau của Nhật Bản ngày càng có cơ hội tiếp xúc nhiều với các tác phâm văn học phương Tây và chịu nhiều ảnh hưởng từ sáng tác của họ. Sự tiếp xúc với phương Tây nhờ các con đường như thế đã phân luồng văn học Nhật Bản thành những khuynh hướng, những trường phái rất khác nhau.
Trong thời Minh Tri’, nền văn học được đặc trưng bởi năm khuynh hướng: Phái truyền thống, phái sáng tạo, phái Cơ đốc giáo, phái xã hội chủ nghĩa, phái tự nhiên chủ nghĩa. với các đại diện tiêu biểu mà sáng tác của họ được nhiều người biết đến ở cả trong và ngoài nước. Đến đầu thế kỉ XX, những sáng tác theo khuynh hướng tự nhiên dần chiếm ưu thế trên văn đàn, nhưng đã bị lắng xuống dưới thời Đại Chính” trước những thành công của khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa. Giai đoạn thế chiến đầu thời Chiêu 3 Meiji - HAYA (1868-1912), ? Taisho - XIE (1912-1926) * Showa - 4 (1926-1989) 14 cua hai dòng văn học chính: văn học vô sản “vi nhân sinh” và trường phái tan cảm giác “vi nghệ thuật”.
Ở thời Minh Trị, sáng tác của các nhà văn Nhật Bản chịu ảnh hưởng từ các dịch phẩm của Moliere, Zola, Emily Bronte, Jean-Jacques Rousseau, Dostoievsky. Đến thời Đại Chính (1912-1926), nhà văn nổi tiếng Akutagawa tiếp thu những kiến thức Âu Mỹ và chịu ảnh hưởng của nhiều tác giả nổi tiếng phương Tây như Strindberg, Nietzsche, Tourgueniev, Tolstoi, Gogol, Dostoevski, Flaubert, Baudelaire đến cả Jonathan Swift va Samuel Butler. Kiến thức của Akutagawa trai rộng tir Shakespeare cho đến các nhà soạn kịch Ailen, từ Francois Villon đến Paul Valéry. Ngay từ những cuộc tiếp xúc đầu tiên, dù trực tiếp hay gián tiếp, văn học ngoại quốc đã không ngừng ảnh hưởng tới văn học Nhật Bản.
Trước hết là ảnh hưởng từ văn học Nga với các sáng tác của Dostoievski, Tolstoi, Gogol, Tchekhov va văn học chủ nghĩa Marx-Lenin (đối với phong trào văn học vô sản - Puroretaria Bungaku 7 2 ¥ ) 7 #32). Tiếp đó là ảnh hưởng của văn chương Anh với các kịch pham của William Shakespeare (1564- 1616), tho Thomas Gray (1716-1771), sáng tác lãng mạn của William Wordsworth (1770-1850) va Dorothy Wordsworth (1771-1855), Byron (Lord với Nhật Ban buổi đầu mạnh mẽ nhất có lẽ là trong lĩnh vực thi ca. Những nha tho được giới thiệu có Baudelaire, Verlaine, Mallarmé va Maurice Maerterlinck. Cac nhà văn lớn của Pháp như Honoré de Balzac, Stendhal, Anatole France, Alphonse Daudet, Emile Zola, Guy de Maupassant, Raymond Radiguet cũng đã dé lại những ảnh hưởng sâu sắc đối với các nhà văn Nhật Bản.
Sáng tác của một số nhà văn Đức như: Friedrich Schiller (1759-1805), Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832), truyện cô của anh em nhà Grimm, thơ Heinrich Heine (1790-1856), Rainer Marie Rilke (1875- 1926). Va trong khi Mishima Yukio yéu thich Thomas Mann (1875-1955) thi 15 Abe Kobo lại ngả theo phong cách viết của Franz Kafka (1883-1924). Ngoài ra, văn học Nhật Bản còn tiếp xúc và chiu ảnh hưởng cua nên văn hoc Tây Ban Nha và các nước châu Mỹ La Tinh. Đó là tác phẩm Don Quixote của Miguel de Cervantes Saavedra (1547-1616) hay Gabriel Garcia Marquez (1928-), người gốc Columbia đoạt giải Nobel văn chương năm 1982, với tác phẩm Tram năm cô don (1967) kiệt xuất.
Nhật Bản có tiếng là một dân tộc dịch sách và đọc sách nhiều nhất trên thế giới. Hoạt động dịch thuật và nghiên cứu các tác phẩm văn học phương Tây dé truyền bá vào Nhật Ban đã góp phan vào việc khai sáng và canh tân cho nền văn hóa của đất nước này. Có thé nói, làn sóng phương Tây hóa ở Nhật Bản, bắt đầu vào những năm 1880, trải qua hai mươi năm và từ sau chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905) đã ngày cảng trở nên mạnh mẽ, đã tác động to lớn đến sự chuyển biến của văn hóa, văn học Nhật Bản từ thời Minh Trị đến nay. Chính sự chủ động Âu hóa của nước Nhật đã thúc đây nhanh chóng quá trình chuyền biến này.
Không nghỉ ngờ rằng, những năm đầu thời Minh Trị, văn đàn Nhật Bản đã “mở rộng cửa đón gió Tây lồng lộng thôi vào” [65, tr. Nhiều trào lưu tư tưởng của văn học phương Tây đã được các nhà văn Nhật Bản tiếp thu: chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa lãng mạn,chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên. Các nhà văn hiện đại Nhật Bản về sau vẫn bị cuốn hút bởi sáng tác của các tác giả phương Tây, đồng thời ở một số nhà văn, cái truyền thống của đất nước nhiều khi lại khơi nguồn cảm hứng trong họ. Do đó, ở họ đôi khi xảy ra sự xung đột Đông - Tây và điều đó được biểu hiện khá rõ nét trong tác phẩm.
Ví như trường về chu dé tinh dục bệnh hoạn và chủ nghĩa duy mỹ rất Tây hóa thi quan điểm thâm mỹ của Kawabata lại bắt nguồn từ những truyền thống cũ. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền văn học hiện đại Nhật Bản vẫn tiếp tục phát triển và nở rộ với tên tuổi của các nhà văn nổi tiếng như Dazai Osamu, Mishima 16 Yukio, Abe Kobo, Oe Kenzaburo, Murakami Haruki. và nhiều nhà văn thuộc thế hệ trẻ sau này. Có thể thấy được rằng, những ảnh hưởng của văn hóa, văn học phương Tây, đặc biệt là từ các nước Nga, Anh, Pháp, Đức đối với Nhật Bản sau cuộc cải cách Minh Trị là vô cùng lớn lao và đem lại những sự chuyển biến rõ rệt.
Nếu như đất nước Nhật Bản thực hiện được quá trình hiện đại hóa một cách nhanh chóng và hiệu quả trên mọi lĩnh vực thì cũng có thê thấy bước chuyên minh ay duoc thé hién ro rét qua van hoc. Sự chu động tiép xuc voi van hoa phương Tây va khả năng tiếp thu, tiếp biến tài tình của các nhà văn Nhat Ban cận - hiện đại đã tạo nên những thành quả lớn lao trong văn học. Các tác giả không bắt chước một cách rập khuôn sáng tác của các nhà văn phương Tây, mà họ đã đưa vào tác phẩm cái hồn cốt của con người, của văn hóa, của dân tộc Nhật Bản - một nước Á Đông trong sự hòa trộn, có khi còn xung đột với nên văn minh phương Tây. Chính vì thế, nền văn học Nhật Bản đã vươn ra tâm nhân loại với những tên tuôi nôi tiêng mà các tác phâm của họ được dịch Tang, một Oe Kenzaburo luôn oăn mình vì nỗi đau nhân loại.
Hai nhà văn ay đã xứng đáng đoạt giải Nobel về văn học. Bên cạnh đó, chúng ta còn có thé kể đến tên tuổi của rất nhiều nhà văn khác, những người đã góp phan tạo nên diện mạo riêng cho nền văn học Nhật Bản với nhiều phong cách sáng tác thật đặc sắc: Mori Ogal, Natsume Soseki, Tanizaki Junichiro, Ryunosuke Akutagawa, Dazai Osamu, Abe Kobo, Mishima Yukio, Murakami Haruki. Mỗi nha van ấy sáng tác theo những phong cách khác nhau và đều dé lại dấu ấn riêng của minh trong tác phẩm. Tất cả đã tạo nên điện mạo riêng cho nền văn học Nhật Bản hiện đại với những đặc điểm đa dạng và phong phú.
Gan với đặc điểm địa lý tách biệt, con người Nhật, dân tộc Nhật đã bằng ý chí, nghị lực và sự sáng tạo của mình không ngừng vươn lên, trở thành cường quốc của châu Á và sánh ngang tầm với các cường quốc châu 17 Âu.