mở đầu tác phẩm Sứ trình tân truyện của chính tác giả: “Cảnh Hưng rồng dậy thứ ba. Thang thu ngày tam sứ Hoa khởi trình.” Và cũng theo Đại Việt sử ký tục biên, thời gian đoàn sứ trở về nước, kết thúc chuyến công cán là năm 1745. *Tuyén đường đi sứ năm 1742 Dựa theo các bản sứ đồ và bản đồ hành chính hiện nay của Trung Quốc, cùng các địa danh được nói đến trong tập Sv Hoa ting vịnh, luận văn tiến hành xác định chính xác tuyến đường đi sứ năm 1742 của đoàn sứ Việt Nam trên đất Trung Hoa. Sau khi rời khỏi cửa Nam Quan (nay là cửa Hữu Nghị) sang đất Trung Quốc, đoàn sứ lần lượt đi qua 8 tỉnh, theo địa giới hành chính hiện nay của Trung Quốc, dé đến được Yên Kinh.
1/Tỉnh Quảng Tây: Qua ải Nam Quan, đi đường bộ đến Ca Lộ -Ef#, lên thuyền đi trên sông Tả Giang ZL rồi đến thành Nam Ninh E{®Z, di qua hướng đông trên sông Ung Giang £0. đến huyện Hoành #, theo sông Úc Giang #Їf đến huyện Dang jf, tiếp đến Thuong Ngô #44. Từ sông Nghi f7 ở Thương Ngô xuôi đến sông Qué Giang về phía tây bắc, qua huyện Chiêu Binh HF, đến ngã ba sông Tam Ky =l# tại huyện Bình Lạc *“É. Từ đây theo sông Chiêu Giang MIL đến huyện Lâm Quế 17 lí HE, rồi đến thành Qué Lam ‡È:‡‡, đến Linh Châu # M|, qua Hưng An 2%, đến Toàn Châu | nằm ở khu đông bắc của tinh Quang Tây J#‡#, gần tinh Hồ Nam iF.
Từ đây đi lên phía bắc theo sông Tương i] vào Hồ Nam WWF. 2/Tỉnh Hồ Nam: Vào Hồ Nam, đến huyện Kỳ Duong 3l, tiếp đến Hanh Duong (ify, lại theo sông Tương lên phía bắc đến thành Trường Sa fey’). Từ thành Trường Sa đến Tương Am Ÿll# nơi có mom Long Điều Chuy BE U8, đến sông Mich La ìH##, rồi đến hồ Động Dinh jl = năm phía đông bắc tỉnh Hồ Nam, qua châu Nhạc Dương (có lầu Nhạc Dương) đến bờ Xích Bích ZR#š (qua bờ Xích Bich và núi Nam Binh T#{ có Chư Cát cầu phong đài iif 1 2K Jl ZZ), theo sông Trường Giang đi vào tỉnh Hồ Bắc 3J-|V. 3/Hồ Bắc: Theo sông Trường Giang đến thành phố Vũ Xương #& (nơi có lầu Hoàng Hạc), sau đến huyện Hoàng Cương iff (nay là thành phố Hoang Cương), lại theo sông Trường Giang xuôi tiếp xuống phía đông nam, đến thành phố Cửu Giang JLT.
tỉnh Giang Tây TP. 4/Giang Tây: Ở tỉnh Giang Tây, đoàn sứ bộ chỉ đi qua các địa phương ở rìa bắc. Sau khi đến Cửu Giang thì tiếp đến huyện Banh Trạch #⁄2Ÿ#. Sau đó, đoàn sứ đi sang tinh Giang Nam {LM (đã được đổi thành hai tinh An Huy '⁄Í##i và Giang Tô ïL#Ê vào đời Thanh).
5/Tỉnh An Huy: Từ huyện Bành Trạch, đoàn sứ theo sông Trường Giang thắng hướng đông bắc vào An Huy, đến huyện Duong Đồ 3#, rồi đến thành phố Mã Yên Sơn #5 #1] (nơi có địa danh Thái Thạch % 4). 18 6/Giang Tô: Từ Mã Yên Sơn đến thành Nam Kinh (Kim Lăng cũ, tác giả làm chùm thơ Kim Lăng bát cảnh), không theo Trường Giang mà theo lối khác, rẽ lên phía bắc, đến Duong Châu 32, rồi thăng đến thành Hoài Âm ïff#, phủ Hoài An Ÿ ”⁄ (quê hương Ly Ban Thôn, người có khá nhiều thơ họa déitrong Sw Hoa tùng vịnh). Từ Hoài Am di theo hướng tây bắc gặp thành Bì Châu #lJ|, đi tiếp đến huyện Bái ïif, rồi đến Tế Ninh ÿš## tỉnh Sơn Đông LL. 7/Sơn Đông: Đến Tế Ninh, đi về phía đông, đến Khúc Phụ Hii (quê hương Không tử), qua Tứ Thuy J7k, đi lên hướng tây bắc, qua sông Hoàng Hà wi, đến Lâm Tây [iii{ rồi Lâm Thanh ffi 7%, gần với tỉnh Hà Bắc ïJ-|Ý, nơi có kinh thành Yên Kinh #% 2t (Bắc Kinh 1 5¢ ngày nay).
Từ Lâm Thanh đi ngược theo hướng đông bắc đến thành phố Đức Châu fiiM{ (nơi có miéu Tam nghĩa). 8/Hà Bắc: Từ Đức Châu thăng lên phía bắc đến Thiên Tân K¥, thành phố nằm ở mặt đông nam thành Yên Kinh. Từ huyện Vệ Hà #779, đi đường bộ đến kinh thành. Hành trình lượt đi, đến đây là cham dứt.
Những địa danh nói trên hầu hết được nhắc đến trong phần nguyên dẫn và thơ của Sw Hoa tùng vịnh, chúng cho phép xác định chính xác con đường đi sứ của đoàn sứ năm ay. Luận văn liệt kê theo thứ tự không gian dia ly từ cửa Nam Quan đến thành Yên Kinh, nhăm giúp xác định thứ tự ban đầu trong tap thơ của các bai tho làm trên con đường di sứ này. Tập thơ chủ yếu làm trên chuyến hành trình lượt đi, trên hành trình lượt về có rất ít bài đề cập đến địa danh. Do đó, luận văn không dựng lại hành 19 trình về mà khi cần sẽ xác định vị trí bài thơ dựa theo địa danh cu thé được nói đến trong bài.
*Tinh chat chuyễn di sứ Đây là một chuyến đi cống sứ theo định lệ. Ké từ đời Lê Trung Hung, lệ đi cống sứ dồn hai kỳ làm một, định kỳ sáu năm một lần, với số lễ cống gấp đôi thời trước. Và chuyến đi sứ 1742 của Nguyễn Tông Quai là chuyến bang giao bình thường, không thấy có tư liệu nao nói về sự kiện, trách nhiệm đặc biệt trong chuyến đi này. Nhìn chung, chuyến đi sứ lần đầu của Nguyễn Tông Quai cũng giống như bao chuyến đi sứ khác của các sứ thần Việt Nam, phải trải qua hành trình rất dài, đầy gian nan, “khi lên bộ lúc xuống thuyền” trong khoảng thời gian kéo đài đến ba năm.
Tuy chỉ là chuyến bang giao bình thường, nhưng đoàn sứ cũng không khác gì một đoàn quân ra trận. Và mặt trận ngoại giao của họ có ý nghĩa chiến lượt lớn trong việc giữ gìn, bảo vệ đất nước. Mang trên người trọng trách lớn ấy, cùng với một hồn thơ tài hoa, Nguyễn Tông Quai đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, vinh danh tô quốc và đóng góp lớn lao vào nên văn hóa đất nước bằng chính tác pham Sứ Hoa tùng vịnh nỗi tiếng. Tác phẩm Sứ Hoa tùng vịnh Đây là tác phẩm thơ đi sứ viết bang chữ Hán, được tác gia Nguyễn Tông Quai và Nguyễn Kiều sáng tác vào chuyến đi sứ năm 1742.
Trong đó, có một số thơ xướng họa, tặng đáp các nhân sĩ, thi nhân Trung Quốc mà đoàn sứ gặp gỡ trên đường đi, tập trung chủ yếu ở phần Phụ tặng đáp. Chỉ xét riêng thơ của Nguyễn Tông Quai và Nguyễn Kiều ở hai phần Tiền và Hậu tập, chúng tôi nhận thấy các bài thơ được làm theo hai dạng: xướng hoạ và đề vịnh. Trong 163 đề thơ ở hai phần này, thơ đề vịnh chiếm đa số với 125 bài, còn lại 38 bài là thơ xướng hoạ. Tác phẩm có hơn 200 đề thơ, với tổng cộng 20 số bài cụ thể lên đến hơn 400 bài, trong đó Nguyễn Tông Quai có hơn 230 bài, Nguyễn Kiều có khoảng 140 bài, số còn lại là của những người khác.
Bồ cục day đủ của tác pham gồm ba phan, hai phần chính là Tiền tập và Hậu tập, kèm theo một phần phụ thường thấy ở những tác phẩm thơ đi sứ là Phụ tặng đáp. Phần Tiền tập bat dau từ khi doan sứ lên đường với bài Dang trình tự thuật và kết thúc khi đoàn sứ đi qua địa danh Thái Thạch ở Kim Lăng với bài Thái Thạch hoài Thanh Liên, có khoảng 100 đề thơ. Phần Hậu tập bắt đầu với hai bài Quá Ô Giang (O Giang hoài cổ va O Giang hiểu vọng) làm khi đi qua sông Ô Giang ở Kim Lăng và kết thúc với bài Đoan dương mộ vũ, làm khi đoàn sứ đã về gần đến biên giới nước ta, sắp kết thúc chuyến đi sứ, có 65 đề thơ. Phần Phụ tặng đáp là một tập hợp những bài do bạn bè đưa tiễn, các bai hòa lại những bai có trong tập Sw Hoa tùng vịnh của các nhân sĩ, thi khách Trung Quốc, ngoài ra còn có cả những bài không làm nhân chuyến đi sứ này như bài Ngự chế hi vũ hoặc Phụng chế hi vũ, có lẽ được làm nhân dip tác giả đi theo vua công cán ở vùng Sơn Tây.
Là một tác phẩm ra đời ngay trên đường đi sứ, nên trước khi được lan truyền phổ biến ở Việt Nam, $% Hoa tùng vịnh đã được nhiều người Trung Quốc trân trọng chép lại và truyền tay nhau. Trong bài tựa viết vào tháng trọng thu năm Mậu Thin Can Long thứ mười ba của Lý Bán Thôn có câu: “4 Ñ 1M !E # it # 2 H PRK % PR I 4E 3E I# 4 #7 — Kim hợp kỳ lưỡng tập, bầu nhi lục chi dữ Châu ngọc tập, Thái phong tập cộng truyền bat hủ - Nay hợp hai tập chép lại để tác phẩm được lưu truyền bất hủ cùng với những tập thơ Châu ngọc tập, Thái phong tập”. Phần nguyên dẫn của các bài Tương thượng ngư nhân tặng tử thủ 3E. vf A Af PJ Ff có đoạn: “{b WE Bš % #4 lý PY oh XE BE fh OR 5! ñŸ a PG H EI RE H 4 1Š + Te) #§ #H th E 2 Bil í #I (tHe đi Z OR VR (BR.
-— Tha tính Trần danh Nghệ, 21 thời chu tương tiến phát, tha lai trình thi cao tứ chương thả viết: Tac nhật dư ngộ Vương đồng hương, tụ xuất cự công tiền hậu hòa thập, bỗng độc chi du, thù thâm ngưỡng xưng. (Ông họ Trần tên Nghệ, lúc thuyền sứ sắp khởi trình, ông đến trình bốn bài thơ và nói: “Hôm qua tôi gặp ông Vương người đồng hương, ông ấy lẫy từ trong tay áo ra tập thơ gồm hai tập Tiền, Hậu của ngài đây. Tôi cầm đọc vài bài, vô cùng ngưỡng nộ. Những tư liệu lẫy được ngay trong chính tác phâm như trên cho thấy, Sứ Hoa tùng vịnh không chỉ được lưu truyền ở nhiều nơi ở Việt Nam theo như lời Ngô Thì Sĩ mà còn lưu truyền ở nhiều địa phương Trung Quốc nơi đoàn sứ đi qua.
Ở những nơi đó, những nhân sĩ, quan lại yêu thích thơ Nguyễn Tông Quai thường đón sứ đoàn, cầu được xem thơ và giao lưu trò chuyện. Song song với việc ấy họ cũng chép lại thơ ông đề đọc và chia sẻ cho những người yêu thơ khác. Nhưng đáng tiếc, hiện chúng ta chưa thể sưu tầm được các truyền bản này về lại để có thể nghiên cứu kỹ hơn về quá trình lưu truyền tác phẩm, hỗ trợ cho việc xác định thiện bản. Không những có phạm vi lưu truyền rộng như vậy, tác phẩm còn được trân trọng qua nhiều thế hệ.
Hồ Sĩ Đống trong bai tựa Si? Hoa tùng vịnh viết: “Tập thơ Bắc sứ của Nguyễn tiên sinh hiệu Thư Hiên được người trong nước truyền tụng đã lâu.