Chương 1: KHÁI LƯỢC VE NGHỆ THUAT TỰ SỰ VÀ HANH TRÌNH SÁNG TÁC CUA TRAN THANH CẢNH 1. Khái lược về nghệ thuật tự sự 1. Khái niệm tự sự và tự sự học Theo Trần Đình Sử, “tự sự (narrative) là một phạm vi rộng lớn trong hoạt động giao tiếp của con người nói chung cũng như trong vô vàn thể loại văn học hoặc phi văn học hết sức đa dạng nói riêng” [49, tr.9] Tác giả Lê Bá Hán trong Tir điển thuật ngữ văn học, đã xác định tự sự là: “phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở dé phân loại các tác phẩm văn học. Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh rộng mở của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người.
Trong tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện. Gắn liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc họa nhiều mặt.nguyên tac phản ánh hiện thực trong tính khách quan đã đặt trần thuật vào vị trí của nhân tố tô chức ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm tự sự, đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo ra hình tượng người trần thuật” [34, tr.385] Từ hai ý kiến trên, chúng ta có thé nhận thấy khái niệm tự sự xuất hiện trong đời song van duoc hiéu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Với nghĩa hep, tự sự chi loại hình văn học với những tính chất đặc thù về không gian, thời gian, nhân vật, cốt truyện. Với nghĩa rộng, tự sự là khái niệm đề chỉ phạm vi rộng trong hoạt động giao tiếp của con người.
“Tự sự học cũng như lí luận văn học là bộ môn khoa học nghiên cứu các văn bản tự sự, các đặc điểm chung của các văn bản tự sự được tạo ra và được phát triển.]“Tự” nghĩa là kế theo một trật tự nhất định lại vừa có yêu tố “sự”, tức là chuyện, sự kiện, hành động, câu chuyện [. Trên thực tế, tự sự học không chỉ nghiên cứu diễn ngôn mà còn nghiên cứu ngữ pháp truyện, nghiên cứu nhân vật và sự kiện” [49, tr. Về phạm vi, tự sự học cũng được chia ra ở hai cấp độ rộng và An”? hep. Theo nghĩa hẹp, tự sự học là chuyên ngành nghiên cứu tác phẩm văn học thuộc 11 loại hình tự sự theo chủ nghĩa cấu trúc thông qua ngôn từ nghệ thuật.
Theo nghĩa rộng, tự sự học gan liền với lịch sử và triết học. Mặc dù từ thời cô đại, tự sự đã được phân biệt với mô phỏng song phải đến những năm 60 — 80 của thé ki XX ở Pháp, tự sự hoc mới chính thức được hình thành và sau đó phát triển rộng rãi trên nhiều quốc gia qua nhiều giai đoạn như tự sự học kinh điển và tự sự học hậu kinh điển. Đến Việt Nam vào những năm đầu của thé ki XXI, tự sự học được giới nghiên cứu và giảng day đón nhận một cách tích cực qua hàng loạt các công trình khoa học được đánh giá có tính hiệu quả cao. Trong bài viết này, chúng tôi vận dụng lý thuyết tự sự và tự sự học nói trên dé nghiên cứu, tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong hai cuốn tiểu thuyết Đức Thánh Tran va Trần Thủ Độ với mong muốn hiểu sâu hơn về những giá trị ma hai tác phâm đem lại cũng như những tư tưởng, ý nghĩa nhân văn mà tác giả gửi gắm trong đó.
Các bình diện nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nghệ thuật tự sự là phương diện thi pháp đặc trưng của thể loại tiểu thuyết. Các bình diện nghệ thuật tự sự trong tiêu thuyết có thể kế đến như: ngôi kể, điểm nhìn trần thuật, nghệ thuật tổ chức cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ nghệ thuật và giọng điệu trần thuật. Người kế chuyện là một trong những yếu tố quan trọng của loại hình tự sự, đặc biệt là loại hình tự sự cỡ lớn như tiểu thuyết. Theo quan niệm của Trần Đình Sử trong cuốn Tự sự học — lí thuyết và ng dụng, người kế chuyện loại trừ nhân vật “tôi” được phản ánh trong thê loại hồi kí, nhật kí, phần lớn đều là các sản phẩm của hư cấu nghệ thuật, là sản phẩm của trí tưởng tượng sáng tạo nhằm dẫn dắt người đọc vào thé giới nghệ thuật và nắm bắt diễn biến câu chuyện.
Xét về vai trò của người ké chuyện trong tác phẩm, hai chức năng thường được nhắc đến là chức năng trần thuật và chức năng kiểm soát. Đề cập đến chức năng trần thuật là đề cập đến vai trò giới thiệu và dẫn dắt câu chuyện. Còn chức năng kiểm soát là chức năng điều khiển câu chuyện. Tùy vào chủ đề tác phẩm phản ánh và dụng ý nghệ thuật của tác giả mà nhà văn có cách lựa chọn người kê chuyện cũng như ngôi ké sao cho phù hợp đạt được hiệu quả nghệ thuật cao nhất.
12 Trong bài nghiên cứu “Vận dụng lí thuyết tự sự học vào hình thái thể loại tiểu thuyết” [48], tác giả Đỗ Văn Hiểu cũng chỉ ra đặc trưng quan trọng của tiêu thuyết nằm ở sự hài hòa, nhất quán của ba yếu tô nhân vật, cốt truyện và hoàn cảnh xảy ra câu chuyện. Dù tiểu thuyết thuộc loại không có cốt truyện thì tác phâm tiéu thuyết đó vẫn phải có sự kiện. Bên cạnh đó, nhân vật cũng được khắc họa chân thực bằng những đặc điểm bên ngoài lẫn nội tâm phong phú bên trong. Đôi khi, có những kiểu nhân vật được miêu tả không có tính cách hoặc tính cách mờ nhạt nhưng ta không nên xem đó là trường hợp nhân vật không tồn tại.
Yếu tố thời gian trong tiêu thuyết cũng rất được quan tâm va được phân loại thành “thời gian trùng khít, thời gian không trùng khít, thời gian trần thuật không tương xứng với thời gian sự kiện, trần thuật tỉnh lược hoặc bỏ qua thời gian sự kiện, trần thuật theo trật tự thời gian vật lí, trần thuật không theo trình tự thời gian, tran thuật” [48, tr.212] Song hành với thời gian nghệ thuật là không gian nghệ thuật, yếu tố này được đưa vào tiểu thuyết như một cách dé thé hiện sự chuyên dịch của thời gian. “Không gian trong tự sự thé hiện ở sự miêu tả các địa điểm, vị trí mà nhân vật và các sự kiện xảy ra [.] qua các biểu tượng không gian như sông, biển, núi cao, đồng rộng, thé giới bên này, thế giới bên kia, xứ không tưởng” [49, tr. Khái lược về hành trình sáng tác của Trần Thanh Cảnh 1. Trần Thanh Cảnh và những truyện ngắn về làng Ngọc Trần Thanh Cảnh là nhà văn mới xuất hiện gần mười năm nay nhưng đã có tiếng vang và trở nên quen thuộc với độc giả.
Bút lực của ông còn rất dôi dào. Nhà văn Trần Thanh Cảnh sinh năm 1961, quê ở làng Ngọ Xá, xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông từng là bộ đội biên giới phía Bắc, xuất ngũ, ông theo học Đại học Y Dược Hà Nội, tốt nghiệp năm 1991, trở thành dược sĩ và người kinh doanh được phẩm có uy tín ở quê hương. Gắn bó với nghề y hơn 30 năm, ông đến với văn chương nghệ thuật vào năm 2013 như một mối duyên kỳ ngộ.
Ban dau, bạn đọc biết đến ông qua những tập truyện ngắn Dai gia (2013), Kỳ nhân làng Ngọc (2014, Giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam 2015), Mỹ nhân làng Ngọc (2015), Cà phê phó cũ (2016), Quái nhân làng Ngọc (tiêu thuyết, 2019). 13 Đó là những câu chuyện gần gũi ở quê hương ông, những mảnh đời về về những con người vừa rất đời thường vừa rất phi thường mà ông gọi là những mỹ nhân, kỳ nhân và quái nhân làng Ngọc. Những cô gái, chàng trai làng Ngọc đều hiện lên trên trang văn mang vẻ đẹp của những trang tuyệt sắc. Không những thế, họ mang trong mình trái tim khát khao yêu thương, khát khao hạnh phúc mà đôi khi được nhà văn miêu tả như bản năng muôn thuở của loài người được bảo tồn nguyên vẹn trong những tâm hồn làng Ngọc.
Dù là truyện ngắn hay tiêu thuyết viết về làng Ngọc, ta cũng cảm nhận được sự va đập gay gắt giữa những giá trị truyền thống và quá trình hiện đại, đô thị hóa trên dòng chảy văn hóa đang diễn ra ở làng Ngọc. Các nhân vật như trở nên nhỏ bé, bị cuốn vào vòng xoáy, vào những cơn lốc tình ái hay những tham vọng về tiền tài danh vọng. Đó là chuyện tình trai tài, gái sắc như Hằng và Tuấn trong Hội làng, Yến và Vinh trong Gái dam, Chú Tín, cô Như trong Hoa múi. Hay cuộc tinh tay ba của Tràng — My — Giang trong Hoa gạo tháng ba.
Ở truyện nào, con người cũng hiện lên đầy đủ cả mặt tốt và mặt xấu. Cái tốt là vẻ ngoài đẹp đẽ, là tâm hồn hào hoa, phong nhã, là những trái tim đa tình, nghệ sĩ biết dan hát mà giọng ca thì mê hoặc, xao xuyên lòng người. Người đọc có lẽ không quên nhân vật My trong truyện Hoa gạo tháng ba hay Lệ trong Quái nhân làng Ngọc. Họ đều là những cô gái đẹp nhất làng, với vẻ thanh tân, những đường cong mềm mại, quyễn rũ trên cơ thể như gọi mời, đánh thức mọi khao khát của bao chàng trai.
Những người con gái ấy một lòng chung thủy, đợi chờ người mình yêu, người chồng của mình trở về dù thời gian đã bào mòn tuổi xuân của họ khiến những cô gái trẻ năm nào trở thành những bà lão. Họ còn thạo đủ các việc như nghề thủ công hay buôn bán chạy chợ hay thậm chí trở thành những doanh nhân thành đạt khiến người người nê phục như Khánh trong Trai tai, hay Yến trong Gái dam, ba cô gái trong MP? nhân làng Ngọc. Những người có học ra ngoài cũng làm vẻ vang dòng họ, họ đỗ đạt, ghi danh vào các trường nổi tiếng như cậu tú Tràng trường Bưởi, tiến sĩ luật Giang bảo vệ luận án bên Pháp trong Hoa gạo tháng ba. Chất nghệ sĩ đa tình dường như đã ngắm vào máu của những con người làng Ngọc nên những nhân vật chính thường có nhiều tài lẻ.
Hung trong Trai tai có thé chơi được 14 bảy loại nhạc cụ, Hoàng trong Mia thi có giọng ca khiến trái tim Thúy phải thôn thức nức nở; Mạnh Hoạt trong Quái nhân làng Ngọc có thể vẽ tranh, hát đủ các dòng nhạc từ quan họ, chèo, bolero mà bai nao cũng làm người nghe thao thức ca đêm ròng. Đặc biệt hơn, thi sĩ Mạnh Hoạt còn có tài làm thơ. Thơ hay được đăng báo, được phát trên loa, bản thân tác giả cũng được mời đến các trường đại học để bình và nói chuyện về thơ.