CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Trong chương này, Luận án giới thiệu một số vấn đề về khái niệm, phương pháp thuyên thích học, khái quát tình hình nghiên cứu văn bản sách thuyên thích sách Mạnh Tử ở Trung Quốc và ở Việt Nam, xác định các hướng tiếp cận đề tài mà Luận án sẽ triển khai. Giới thiệu về thuyên thích học 1. Giới thiệu về khái niệm thuyên thích học Nghĩa của từ thuyên thích qua các bộ tự/ từ điển Từ điển Khang Hy: Thuyên 詮: có nghĩa là đầy đủ 具也; giải thích rõ 詮喻也; lựa chọn lời nói 擇言也. Từ điển Từ Nguyên: Thuyên thích 詮釋: có nghĩa là 解說 giảng giải, giải thích, thuyết minh.
Từ điển Từ Hải: Thuyên 詮: 詳細解釋, 闡明事理 giải thích cặn kẽ rõ ràng, làm rõ sự tình. Từ điển Hán Việt: Tác giả Đào Duy Anh đã giải thích từ 詮釋 thuyên thích nghĩa là giải thuyết rõ ràng; giải thích. Từ điển Hán Việt Thiều Chửu: Thuyên 詮: nghĩa là đủ, giải thích kỹ càng, nói đủ cả sự cả lẽ. Thích 釋 giải thích ra, giải rõ nghĩa sách.
Thuật ngữ “ 詮釋學 thuyên thích học” mới ra đời vào thế kỷ XVII. Theo nghiên cứu GS. Trần Văn Đoàn, người đầu tiên dịch thuật ngữ này từ tiếng phương Tây sang tiếng Trung Quốc thành “thuyên thích học” là GS. Thẩm Thanh Tòng (Ðại học Quốc gia Chính Trị, Ðài Bắc, Đài Loan) vào cuối những năm 1970.
Sự ra đời của bộ môn thuyên thích học đã manh nha từ thời cổ đại Hy Lạp, nhưng thuật ngữ “thuyên thích học” mãi đến những năm 1990 luan an 10 mới được các học giả Trung Hoa đón nhận. Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ môn thuyên thích học còn hạn chế. Công trình đầy đủ và có tính tổng quát nhất hiện nay do nhà nghiên cứu Trần Văn Đoàn (Ðại Học Quốc Gia Ðài Loan) hệ thống các bài giảng và cho ra đời tập sách có tựa đề: Thông diễn học và khoa học xã hội nhân văn (Hermeneutics and The Social Sciences & Human Sciences). Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tổng quát về bộ môn thuyên thích học, giới thiệu nguồn gốc, lịch sử phát triển cũng như các trường phái tranh luận về nội hàm của thông diễn học.
Thuật ngữ “Hermeneutics” được Gs. Trần Văn Đoàn dịch ra là “thông diễn học” hay cũng chính là khái niệm “thuyên thích học” 詮釋學. Thuyên thích học hay còn được gọi là thông diễn học, giải thích học ra đời từ thời cổ đại. Giải thích học cổ điển Trung Quốc bắt nguồn từ thời đại Xuân Thu Chiến Quốc, trưởng thành trong thời kỳ Tây Hán Đông Hán.
Trong tiến trình lịch sử hai ngàn năm của văn hóa Trung Hoa, nó đã chỉ dẫn cho giải thích kinh điển văn hóa, thúc đẩy trào lưu tư tưởng văn hóa hứng khởi, ảnh hưởng đến diễn biến của truyền thống văn hóa, bản thân nó cũng đang không ngừng phát triển, từng bước trưởng thành, từ người học hướng đến dân chúng, từ kỹ thuật nâng thành lý luận, từ đó hình thành nên hệ thống lý luận lấy mục đích luận, văn bản luận, chủ thể luận, phương pháp luận, hiệu quả luận làm trọng tâm, hình thành phẩm chất và phong cách độc đáo của mình. Bên cạnh đó còn có bài dịch của tác giả Nguyễn Tuấn Cường trên website http://khoavaNhoc-ussh.vn “Thông diễn học: Phương pháp luận và Bản thể luận” do GS. Phan Đức Vinh 潘 德 荣 Đại học Hoa Đông, Trung Quốc viết. Trong bài viết, tác giả Phan Đức Vinh đã bàn về thông diễn học với tư cách là phương pháp luận thông diễn và thông diễn học với tư cách bản thể luận.
Ông đã đưa ra 4 nguyên tắc của thông diễn học, đó là: nguyên tắc về tính tự chủ, nguyên tắc về tính chỉnh thể, nguyên tắc về tính hiện thực trong lí giải, nguyên tắc về sự hài hòa ý nghĩa của thông diễn. Dịch giả Bùi Bá Quân đã dịch cuốn 东亚儒学: 经典与诠释的辩证 “Nho học Đông Á biện chứng của kinh điển và luận giải” của tác giả Hoàng Tuấn luan an 11 Kiệt xuất bản năm 2012 (Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội). Cuốn sách này có đề cập đến tình hình nghiên cứu lịch sử tư tưởng sách Mạnh Tử , như bài viết "近 二十年来孟子学研究资料综述” (Tổng thuật tư liệu nghiên cứu trong Mạnh Tử học gần 20 năm qua). Tuy nhiên, Luận án khi tham khảo tài liệu đã tiếp xúc, dịch nghĩa trực tiếp từ nguyên tác của tác giả Hoàng Tuấn Kiệt.
Ngoài ra, còn có bài viết “ Thuyên thích học với nghiên cứu lịch sử” của tác giả Phạm Ngọc Hường đã viết về khái niệm, các trường phái thuyên thích học (dựa trên nghiên cứu của GS. Trần Văn Đoàn) và thuyên thích học với nghiên cứu lịch sử”. “Thuyên thích học” hay còn được gọi là “thông diễn học”, “giải thích học”. Theo các nhà nghiên cứu “giải thích học” ra đời từ thời cổ đại, bắt nguồn từ thời Xuân Thu Chiến Quốc.
Trong cuốn Giải thích học cổ điển Trung Quốc, tác giả đã phân biệt: hình thái thực tiễn giải thích kinh điển hiện nay chủ yếu có hai loại: - Loại thứ nhất là hình thái giải thích kinh điển trong cuộc sống xã hội. - Loại thứ hai là hình thái giải thích kinh điển trong học thuật bao gồm: dẫn thích trong văn, giải thuyết chuyên thiên và truyền thuật chuyên thư. Trong đó truyền thuật chuyên thư là căn cứ theo nhu cầu trình bày giải thích học thuyết nào đó hoặc xây dựng lý luận nào đó, mang theo kỳ vọng của thời đại, xuất phát từ tầm nhìn văn hóa của mình, với hệ thống tác phẩm nổi tiếng để trình bày giải thích kinh điển chuyên môn, ghi chép sự việc, giải thích nghĩa lý, từ đó đưa ra quan điểm học thuật hoặc tư tưởng triết lý mới, đây chính là truyền thuật chuyên thư. Cổ nhân gọi nó là “truyện”.
“Truyện” vừa là một loại hình thái thực tiễn, vừa là một thể thức quy phạm điển hình của giải thích kinh điển. Sự ra đời của nó tất nhiên phải lấy kinh nghiệm của luan an 12 “dẫn thích trong văn”, “giải thuyết chuyên thiên” làm nền tảng, nên ra đời muộn hơn hai hình thái thực tiễn của giải thích kinh điển này. Trên thực tế, nó xuất hiện ở thời đại Chiến Quốc với điển hình đầu tiên là Xuân Thu tả thị truyện và Chu dịch đại truyện. Tác giả Quách Thu Hiền cũng đã có bài viết “Toản yếu, tiết yếu kinh điển và đặc trưng thuyên thích học Nho gia trong giáo dục tư học thế kỷ XVIII”.
Bài viết đã đưa ra những thảo luận về đặc trưng thuyên thích kinh điển Nho gia thế kỷ XVIII dựa trên sự nghiên cứu cụ thể về các văn bản toát tiết yếu kinh điển trong giáo dục Tư học ở Việt Nam thế kỷ XVIII. Phương pháp luận của giải thích kinh điển Phương pháp luận của giải thích kinh điển mà kinh học cổ văn khởi xướng, vừa xuất phát từ mục đích luận giải thích kinh điển vừa nhắm vào chỗ thiếu sót của phương pháp giải thích kinh học kim văn. Phương pháp này có ba điểm quan trọng: Đầu tiên, để giải thích kinh điển mà có thể “toàn nghĩa”, nhằm lý giải hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng của tiên thánh. Tiếp theo, để giải thích kinh điển mà có thể tìm tòi được “nguyên ý”, nhằm lý giải được chính xác hệ thống tư tưởng của tiên thánh, họ đã đưa ra quan niệm “phải nói đúng âm của nó, sau đó là toàn nghĩa”, họ đã nhiều lần tuyên bố giải thích ngôn ngữ là phương pháp giải thích quan trọng nhất.
Học giả Trịnh Huyền trong quá trình chú giải kinh điển đã xây dựng nên phương pháp thanh huấn, phát triển phương pháp nghĩa huấn, sử dụng phương pháp hình huấn, huấn thích từ ngữ, sắp xếp câu cú, hoặc tuần văn lập huấn, thiết lập một mô hình giải thích mới, sáng lập pháp môn, mở rộng con đường cho môn huấn hỗ học truyền thống. Các học giả nhiều đời, đặc biệt là học giả Càn Gia vui mừng hưởng ứng “học thuyết của Hứa Trịnh”, luôn khẳng định và tán luan an 13 đồng phương pháp giải thích ngôn ngữ của Trịnh Huyền. Cuối cùng, trên cơ sở dựa vào hướng dẫn của quan niệm “toàn kinh”, “toàn nghĩa”, các nhà kinh học cổ văn tự giác thử nghiệm và khởi xướng phương pháp giải thích chứng minh cho nhau của kinh thư. Giải thích bất kỳ một bộ kinh điển nào trong đó đều nên lấy “toàn kinh” làm hệ thống tham chiếu để đạt được “toàn nghĩa”.
Dưới sự hướng dẫn của kiểu lý luận giải thích này, các nhà kinh học cổ văn mà đại diện là học giả Trịnh Huyền đã sáng tạo và xây dựng một mô hình giải thích phong phú và đặc sắc. Phương pháp luận của giải thích hiện đại Hồ Thích tiên sinh đã lấy triết học chủ nghĩa thực nghiệm Âu Mỹ làm gương, đưa ra phương pháp luận giải thích mới “chỉnh lý văn hóa vốn có”. Phương pháp luận giải thích mà ông đã khởi xướng có tinh thần cơ bản là “thực nghiệm lịch sử”. Phương pháp có ba cách cụ thể như sau: Thứ nhất, tác giả Hồ Thích đề cập đến “phương pháp lịch sử”.
“Phương pháp lịch sử” chính là vận dụng con mắt của lịch sử, mượn sự khảo chứng chính xác, đặt nội dung tư tưởng của điển tịch văn hóa vào trong tiến trình lịch sử để khảo sát. Không những phải nêu rõ sự biến đổi, cải cách mà còn phải “tìm ra lý do thay đổi và phát triển của nó”, từ đó “dung hòa xuyên suốt nội dung chính của mỗi bộ sách để tìm ra một sự mạch lạc, diễn thành học thuyết có đầu mối trật tự”, thể hiện được ý nghĩa và giá trị chân thực của nó. Từ đó, căn cứ vào hiệu quả và giá trị lịch sử để có sự phê bình đánh giá “khách quan. Trong cuốn Ý nghĩa trào lưu tư tưởng mới, Hồ Thích tiên sinh còn phân giải phương pháp lịch sử này làm bốn bước cụ thể: “Bước một là chỉnh lý hệ thống mạch lạc”, “bước hai là phải tìm ra mỗi loại tư tưởng học thuật ra đời thế nào, sau khi ra đời có hiệu quả ảnh hưởng ra sao”, “bước ba là dùng phương pháp khoa học làm khảo chứng chính xác, làm rõ ý nghĩa của cổ nhân”, “bước bốn là tổng hợp nghiên cứu của ba bước trước, để tạo ra một bộ luan an 14 mặt toàn diện và một giá trị thật sự.” “Phương pháp lịch sử” này vô cùng độc đáo, trật tự nghiêm ngặt, mục đích rõ ràng, nặng về thực hiện nghiên cứu và chỉnh lý toàn diện hệ thống đối với tư tưởng học thuật từ trong tiến trình lịch sử, coi trọng sự tìm kiếm quy luật phát triển phát sinh cố hữu của bản thân tư tưởng học thuật trong tiến trình lịch sử.